LUẬN án TIẾN sĩ CHÍNH SÁCH xã hội mới ở NÔNG THÔN để TĂNG CƯỜNG sức MẠNH QUỐC PHÒNG của đất nước - Pdf 40

MỞ ĐẦU
Nước ta quá độ lên chủ nghĩa xã hội từ một nền kinh tế tiểu nông lạc hậu.
Sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ
nghĩa đòi hỏi phải chuyển biến nền kinh tế tiểu nông lạc hậu đó thành nền nông
nghiệp sản xuất lớn, hiện đại. Trong quá trình chuyển biến lâu dài và phức tạp
đó, sự vận động và phát triển hợp quy luật khách quan của quan hệ sản xuất
trong nông nghiệp có vai trò hết sức quan trọng, là một trong những nhân tố cơ
bản để phát triển sản xuất nông nghiệp, củng cố quốc phòng. Nhận rõ các vấn đề
nêu trên, hơn ba thập kỷ qua, cùng với những việc làm quan trọng khác, Đảng,
Nhà nước và nhân dân ta đã thông qua quá trình hợp tác hoá để cải tãoh chủ
nghĩa nền nông nghiệp sản xuất nhỏ, cá thể, xây dựng quan hệ sản xuất mới,
từng bước xây dựng và phát triển nền nông nghiệp sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa
(140). Nhưng những năm qua, nông nghiệp nước ta phát triển chậm, trong thế
thiếu ổn định, kinh tế hàng hoá tốn kém phát triển, nhiều vùng vẫn ở trong tình
trạng tự cấp, tự túc, chia cắt, độc canh (130). Những tiềm năng to lớn của nông
nghiệp vẫn chưa được khai thác và sử dụng có hiệu quả, người lao động vẫn
chưa thoát khỏi những khó khăn về sản xuất và đời sống; các hợp tác xã trải qua
nhiều bước thăng trầm vẫn đang trong thế phát triển khó khăn, chế độ hợp tác xã
đứng trước những thử thách nghiệt ngã.
Trên tinh thần đổi mới, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng đã
chỉ rõ những nguyên nhân của tình hình trên bắt nguồn từ những sai lầm và
khuyết điểm của chúng ta trong nhận thức về chủ nghĩa xã hội, về cải tạo xã hội
chủ nghĩa đối với nông nghiệp nhỏ, cá thể, bệnh chủ quan duy ý chí, nóng vội
trong các chủ trương chính sách cải tạo, muốn đốt cháy giai đoạn; coi nhẹ và bỏ
qua các hình thức kinh tế trung gian, quá độ, từ thấp đến cao phù hợp với trình
độ thấp kém của lực lượng xây dựng. Nhận thức lại một cách đúng đắn học
thuyết Mác-Lênin về vấn đề đưa kinh tế tiểu nông lên chủ nghĩa xã hội và thực
tiễn cuộc sống đã đem lại cho chúng ta cách nhìn nhận mới về quá trình hợp tác
hoá, đòi hỏi chúng ta phải tiến hành trong thực tiễn việc điều chỉnh lớn quan hệ
sản xuất trong nông nghiệp nhằm tiếp tục tạo ra sự phát triển.
Nước ta quá độ lên chủ nghĩa xã hội trong hoàn cảnh quốc tế có những diễn

phát triển của các quan hệ sản xuất trong nông nghiệp đối với sự nghiệp củng cố
nền quốc phòng toàn dân ở nước ta thì chưa được nghiên cứu và phân tích một
cách cơ bản và có hệ thống trên cơ sở những thành tự mới của sự đổi mới tư duy
lý luận về kinh tế và quốc phòng.
Luận án này nghiên cứu về sự vận động và phát triển của quan hệ sản xuất
trong nông nghiệp và sự tác động của chúng đối với sự nghiệp củng cố quốc
phòng ở nước ta mong đóng góp một phần vào việc tìm ra những vấn đề nois lên
các xu hướng phát triển khách quan của sự tác động đó, trên cơ sở kế thừa có
chọn lọc thành tựu nghiên cứu của những người đi trước.
Tuy nhiên, đây là một vấn đề hết sức phức tạp và rộng lớn. Chúng ta đang
thực hiện nhất quán chủ trương phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành
phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ quân đội. Sự điều chỉnh
lớn các quan hệ sản xuất trong nông nghiệp đã được đặt trên cơ sở của tư tưởng
chung đó, nên nó là một sự đan xen chằng chịt, tác động nhiều chiều của các
quan hệ sản xuất thuộc các thành phần kinh tế khác nhau thuộc lĩnh vực nông


nghiệp và chúng đều có sự tác động đến củng cố nền quốc phòng toàn dân ở
nước ta. Luận án không có khả năng đề cập đến tất cả các quan hệ sản xuất
thuộc mọi thành phần kinh tế hiện đang tồn tại khách quan trong nông nghiệp;
chỉ coi sự phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng xã hội
chủ nghĩa là cái nền chung, trên cái nền chung đó, tập trung vào nghiên cứu sự
phát triển của quan hệ sản xuất trong khu vực kinh tế tập thể đối với hình thức
phổ biến là hợp tác xã nông nghiệp trong mối quan hệ qua lại với quan hệ sản
xuất xhu và các thành phần kinh tế khác trong nông nghiệp ở chặng đầu của thời
kỳ quân đội. Do đó, luận án không thể tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót
không những do trình độ, năng lực nghiên cứu của tác giả, mà còn do vấn đề
nghiên cứu hết sức phức tạp và những đối tượng nghiên cứu cũng đang diễn
biến không ngừng.
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

về mặt khoa học sau đây:
1. Trong tình hình có nhiều xu hướng muốn phủ định chủ nghĩa MácLênin, luận án đã khẳng định con đường xã hội chủ nghĩa trong nông nghiệp,
khẳng định học thuyết Mác-Lênin về con đường cải tạo kinh tế tiểu nông, chứng
minh rằng những khó khăn vấp váp trong nông nghiệp cũng như của chế độ hợp
tác ở nước ta và ở nhiều nước trên thế giới là do thực hiện không đúng học
thuyết đó chứ không phải là do học thuyết đó sai. Thừa nhận sự cần thiết phải
điều chỉnh các quan hệ kinh tế nông nghiệp ở nước ta, không hiểu sự điều chỉnh
đó như một bước lùi trở về kinh tế tiểu nông mà là sự phát triển hợp với quy luật
kinh tế khách quan trong quỹ đạo xã hội chủ nghĩa.
2. Nghiên cứu tổng quát về tác động của những biến đổi trong quan hệ sản
xuất nông nghiệp nước ta đối với sự nghiệp củng cố quốc phòng. Hướng nghiên
cứu đó nối liền hai lĩnh vực lý luận và thực tiễn có quan hệ hữu cơ với nhau và
tác đọng qua lại lẫn nhau mà lâu nay ít được nghiên cứu. Đó là kinh tế chính trị
học Mác-Lênin trong lĩnh vực kinh tế nông nghiệp và kinh tế quân sự trong lĩnh
vực bảo đảm kinh tế của nông nghiệp cho quốc phòng, là những nội dung quan
trọng trong đường lối kinh tế và đường lối quân sự của Đảng. Nghiên cứu từ
nguồn gốc và bản chất sự điều chỉnh quan hệ sản xuất trong nông nghiệp để vừa
thấy những thuận lợi cơ bản đối với sự nghiệp quốc phòng do tác động tích cực
của sự điều chỉnh đó đối với sự phát triển các lực lượng sản xuất nông nghiệp;
vừa tháy những vấn đề mới được đặt ra do sự điều chỉnh ấy làm nảy sinh đối với
củng cố quốc phòng và đề xuất những kiến giải có tính chất phương pháp luận
như cơ chế bảo đảm lương thực, thực phẩm, nhân lực cho quốc phòng; các vấn
đề kinh tế xã hội cần thiết để biến nông thôn thành cơ sở tiềm lực kinh tế, chính
trị- tinh thần, quân sự của quốc phòng, thành hậu phưpng của chiến tranh.
Ý nghĩa thực tiễn của luận án
Những luận điểm và kết luận của luận án sẽ đóng góp những luận cứ khoa
học của mình vào việc hình thành những quan niệm đúng đắn trong việc vận
dụng những tư tưởng của chủ nghĩa Mác-Lênin về việc chuyển biến kinh tế tiểu
nông thành nền nông nghiệp sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa thông qua con đường
của chế độ hợp tác xã ở nước ta cũng như đổi mới cơ chế bảo đảm kinh tế cho

những nhiệm vụ của giai đoạn cách mạng dân tộc- dân chủ tất yếu phải chuyển
lên cách mạng xã hội chủ nghĩa. Công cuộc xây dựng nền kinh tế xã hội chủ
nghĩa sẽ diễn ra đồng thời cả ở thành thị và nông thôn và đối với một nước chủ
yếu là nông nghiệp như nước ta thì trong chặn đầu của thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội, nông nghiệp phải là "mặt trận hàng đầu", sự phát triển của nó phải
là cơ sở cho sự ổn địnhvà phát triển về kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước.
Khó khăn lớn nhất đối với nước ta khi bước vào công cuộc xây dựng chủ
nghĩa xã hội là khoảng cách rất lớn giữa điểm xuất phát rất thấp là nền sản xuất
nhỏ lạc hậu và mục tiêu phải đạt đến là nền sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa. Khó
khăn đó càng đặc biệt điển hình trong nông nghiệp.


Từ những bước thăng trầm của nông nghiệp cũng như các hợp tác xã nông
nghiệp ở nước ta trong những năm qua, có thể có hai cách giải thích: hoặc là
cho rằng con đường của chế độ hợp tác xã là sai lầm, trái quy luật, đi ngược lại
bản chất và sức sống tự nhiên của nền kinh tế tiểu năng, hoặc là con đường đó là
đúng về phương hướng nhưng sai về hình thức và bước đi, do đó không phát
huy được đầy đủ những động lực do quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa được
thiết lập đem lại, đồng thời cũng không khai thác được mặt còn tích cực của
kinh tế tiểu nông đối với sựpt của nền kinh tế quốc dân. Luận án này chứng
minh cho cách luận giải thứ hai.
I.1. vai trò của quan hệ sản xuất nông nghiệp đối với sự phát triển
nông nghiệp
Nông nghiệp là một trong những ngành sản xuất cơ bản của xã hội, ra đời
sớm nhất trong lịch sử và có vai trò hết sức quan trọng đối với sản xuất và đời
sống. Trước hết nó cung cấp cho con người và nuôi sống con người bằng các
sản phẩm có giá trị dinh dưỡng quý giá, đó là lương thực, thực phẩm mà cho
đến nay chưa ngành sản xuất vật chất nào có thể thay thế được.
Trước đây do xem xét thiếu toàn diện đã có lúc không người nghĩ rằng vấn
đề thoả mãn nhu cầu ăn chỉ là khó khăn đối với các nước kinh tế chậm phát

quốc dân, từ 70 đến 72% trong tổng lao động xã hội. Nếu tính cả phàn của lâm
nghiệp và ngành thuỷ sản (nông nghiệp theo nghĩa rộng) thì những chỉ số trên
còn lớn hơn nữa (117). Trong thời gian từ 1985 đến 1987, giá trị nông- lâmthuỷ sản trong kim ngạch xuất khẩu của nước ta tăng lên và chiếm tỷ trọng lớn
từ 46,9% lên 63,6% (117).
Mặc dù nông nghiệp nước ta chiếm tỷ trọng tương đối lớn trong nền kinh
tế, nhưng tổng sản lượng lương thực cả nước cũng như tính bình quân theo đầu
người nước ta vẫn còn là thấp, nhìn chung còn chưa vượt quá được ngưỡng 300
kg/năm. Với tình trạng đó thì nông nghiệp chưa thể đóng được vai trò mà công
cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta đòi hỏi.
Ai cũng biết rằng, một nước không thể làm giàu được bằng một nền nông
nghiệp chỉ đủ nuôi sống cho dân cư của đất nước ở mức không đói và có dự trữ
tối thiểu. Một nền nông nghiệp đem lại sự giáu có phải là một nền nông nghiệp
hàng hoá, đa canh, không những sản xuất lương thực mà còn sản xuất nhiều
thực phẩm trải qua chế biến và nguyên liệu đa dạng cho công nghiệp nhẹ, công
nghiệp thực phẩm và dược phẩm trong nước, đồng thời là một nền nông nghiệp
hàng hoá ngày càng hướng vào xuất khẩu. Điều đó có nghĩa là phải tạo ra được
một nền nông nghiệp phát triển cao về mặt phân công lao động và trình độ
chuyên môn hoá.
Tuy nhiên, muốn có sự phát triển của phân công lao động, hình thành
những ngành nghề mới như vậy ở trong nông nghiệp thì đòi hỏi năng suất lao
động trong việc sản xuất lương thực phải đạt đến một trình độ có thể tạo ra một
khối lượng sản phẩm thặng dư đủ để nuôi sống tương đối dễ dàng số nhân khẩu
phi nông nghiệp hoặc nhân khẩu nông nghiệp sản xuất nguyên liệu. đúng như
C.Mác đã khẳng định: "Lao động nông nghiệp là cái cơ sở tự nhiên để biến tất
cả các ngành khác thành những ngành độc lập"( 8) .
Dĩ nhiên, không nên hiểu luận điểm lý luận này một cách máy móc, cứng
đờ, đòi hỏi tất cả các địa phương của đất nước phải tự túc lương thực, phá hoại


những vùng vốn có thế mạnh về sản xuất nông sản nguyên liệu, lùi trở lại hình

bản trong nông nghiệp, các tư liệu sản xuất khác hiện có trong nông nghiệp và
lực lượng lao động của nông nghiệp với những kỷ năng, kỹ xảo và kinh nghiệm
sản xuất đã tích luỹ được. Sự kết hợp những yếu tố sản xuất đó chỉ đem lại một
lực lượng sản xuất mới khi biết dựa trên những quy luật phát triển đặc thù của
sản xuất nông nghiệp, trong đó nhất thiết phải coi trọng những điều kiện tự
nhiên. Đúng như C.Mác đã chỉ ra rằng khác với các ngành sản xuất khác, nông
nghiệp phụ thuộc tương đối lớn vào điều kiện tự nhiên và chính tự nhiên trong


nông nghiệp nhiều khi đóng vai trò là những lực lượng sản xuất bổ sung cho lực
lượng sản xuất xã hội của con người.
Trước hết, đối tượng của sản xuất nông nghiệp là các sinh vật (cây trồng và
vật nuôi), chúng vận động, phát triển tuân theo các quy luật của giới sinh học.
Là những sinh vật, các đối tượng của sản xuất nông nghiệp gắn bó khăng khít
với môi trường tự nhiên. Gắn bó với những điều kiện thổ nhưỡng, đất đai, khí
hậu, thời tiết… Những điều kiện này hình thành một cách khác nhau tuỳ theo
điều kiện địa lý của từng vùng lãnh thổ. Sự hình thành, sự khác biệt về khí hậu
và về thổ nhưỡng.v.v. đòi hỏi, không thẻ có một mô hình cơ cấu chung cho cả
nước, do đó cần phải có những cơ cấu và phân bố lực lượng sản xuất có sự đa
dạng thích hợp với những điều kiện tự nhiên của từng vùng có tính đến những
sự khác biệt dù nhỏ nhặt. Nước ta có những sự phức tạp đó trong điều kiện tự
nhiên và việc bố trí lực lượng sản xuất trong nông nghiệp phải tính đến nếu
muốn có một hiệu quả sản xuất cao.
Ngày nay, sự phát triển của cuộc cách mạng khoa học- kỹ thuật hiện đại
trên thế giới không những chỉ thúc đẩy những năng lực sản xuất vĩ đại của con
người trong những công nghệ có hàm lượng kỹ thuậtcao, trong các ngành công
nghiệp và dịch vụ mà còn tác động mạnh mẽ đến sự phát triển của nông nghiệp.
Cuộc cách mạng đó cũng chứng minh dự đoán thiên tài của Các Mác về những
xu hướng phát triển của lực lượng sản xuất trong nông nghiệp. Với những thành
tự kỳ diệu trong lĩnh vực sinh học, một trong những ngành khoa học được dự

xuất diễn ra không ngừng. Yêu cầu của quy luật chung đó không thể là một
ngoại lệ đối với sản xuất nông nghiệp cho dù đối tượng của sản xuất nông
nghiệp vận động và phát triển có những đặc thù nhất định. Điều đó cũng có thể
diễn đạt theo một cách khác đó là sự phát triển hợp quy luật của quan hệ sản
xuất trong nông nghiệp là một nhân tố cơ bản để phát triển nông nghiệp.
Song thế nào là sự phát triển hợp quy luật của quan hệ sản xuất trong nông
nghiệp. Đây là một vấn đề hết sức phức tạp và rộng lớn. Tuy nhiên có thể nêu
khái quát thành một số điểm sau:
- Sự vận động và phát triển của các quan hệ sản xuất trong nông nghiệp
phải luôn phù hợp với xu hướng vận động và phát triển của nền sản xuất xã hội,
được biểu hiện cụ thể ra ở sự phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất của xã
hội và trong nông nghiệp.
- Sự vận động hợp quy lậut đó còn đòi hỏi quan hệ sản xuất trong nông
nghiệp phải phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất xã hội và
trong nông nghiệp ở từng giai đoạn nhất định. Dĩ nhiên, đó cũng chỉ là sự phù
hợp mang tính tương đối mà thôi.
- Sự vận động hợp quy luật của quan hệ sản xuất trong nông nghiệp cũng
đòi hỏi có sự phát triển đồng bộ giữa các yếu tố cấu thành chúng, tạo thành một
chính thể thống nhất, một bộ phận nào đó phát triển đi trước thể hiện tính tiên
tiến nhưng các bộ phận khác lại lạc hậu sẽ phá vỡ tính thống nhất, triệt tiêu lẫn
nhau và triệt tiêu luôn cả vai trò động lực của quan hệ sản xuất đối với sự phát
triển của sản xuất.
- Cuối cùng, các yếu tố cấu thành quan hệ sản xuất, bản thân chúng lại
cũng đòi hỏi sự thống nhất giữa nội dung và hình thức được lựa chọn sử dụng.
Đây là vấn đề có ý nghĩa phương pháp luận hết sức quan trọng. Suy cho
cùng thì các yêu cầu nêu lên trên tuy giữ vị trí quyết định chủ yếu đối với sự vận


động hợp quy lậut của quan hệ sản xuất trong nông nghiệp, thế nhưng việc đáp
ứng các yêu cầu đó đến mức nào lại phụ thuộc và thông qua việc nhận thức và

Là một phạm trù lý luận của chủ nghĩa duy vật lịch sử, của khoa kinh tế
chính trị Mác-Lênin, quan hệ sản xuất là sự trừu tượng hoá khoa học những
quan hệ kinh tế hiện thực. Không có sự trừu tượng hoá ấy, khoa học không thể
tiến lên được, không thể nhận thức ra được những quy luật vận động kinh tế
khách quan của lịch sử. Tuy nhiên, trong tính hiện thực của lịch sử và cụ thể,
những quan hệ xã hội của con người trong sản xuất là hết sức phong phú và đa


dạng, sự phong phú và đa dạng này phụ thuộc vào những giai đoạn phát triển
của lực lượng sản xuất của loài người, những điều kiện lịch sử cụ thể của mỗi
một nền kinh tế dân tộc, thậm chí phụ thuộc vào những điều kiện đặc thù của
từng ngành sản xuất xã hội.
Chẳng hạn, khi xem xét các quan hệ sản xuất trong nông nghiệp, vấn đề
quan hệ giữa con người với con người đối với ruộng đất bao giờ cũng nổi bật
lên hàng đầu và tuỳ theo những quan hệ sở hữu và sử dụng các tập đoàn người
đối với ruộng đất mà các thời đại kinh tế trong nông nghiệp được phân biệt một
cách rõ rệt. Đó là vì, khác với trong công nghiệp, ở đó đất đai chỉ là các không
gian cần thiết để quá trình lao động có thể diễn ra, còn trong nông nghiệp, ruộng
đất vừa là tư liệu sản xuất cơ bản, vừa là đối tượng lao động chủ yếu mà không
có nó thì không thể diễn ra bất cứ quá trình phát triển sinh học nào.
Một đặc điểm quan trọng nữa của sản xuất nông nghiệp cần phải nắm vững
là sự phát triển tương đối chậm chạp của các lực lượng sản xuất cũng như quan
hệ sản xuất so với trong công nghiệp; những quan hệ hàng hoá - tiền tệ phát
triển chậm hơn trong công nghiệp. Kinh tế hàng hoá thường phát triển mạnh mẽ
ở thành thì, và chủ nghĩa tư bản thường phát triển trước hết ở thành thị rồi sau
đó mới phát triển trong nông nghiệp. Phải chăng, điều đó là do chính ngay đặc
điểm của sản xuất nông nghiệp là một ngành sản xuất gắn bó khăng khít với quá
trình phát triển của tự nhiên; là cái xu hướng nguyên thuỷ của con người là
trước hết hãy lo thoả mãn cho cái dạ dày của bản thân, là xu hướng tự cấp tự
túc, sản xuất đê tiêu dùng trước đã chứ không phải sản xuất để trao đổi và người

tìm ra lời giải đúng cho từng bài toán kinh tế xã hội, giải quyết đúng những mâu
thuẫn trong quá trình phát triển kinh tế- xã hội.
Trước khi xuất hiện quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, nền nông nghiệp đã
từng biết đến những kiểu quan hệ sản xuất khác tương ứng với những hình thái
kinh tế- xã hội cơ bản đã từng tồn tại trong lịch sử cho đến ngày nay. Theo sự
phát triển khách quan của lịch sử, rồi đây quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa tất
yếu sẽ thay thế những quan hệ sản xuất khác trong nông nghiệp và sẽ là sự phủ
định đối với những quan hệ sản xuất đã từng tồn tại trước nó. Tuy nhiên, đó
không phải là một sự phủ định siêu hình có tính chất hư vô chủ nghĩa. Kinh tế
xã hội chủ nghĩa trong nông nghiệp sẽ biết kế thừa những yếu tố hợp lý của các
quan hệ sản xuất trước đây, những hình thức kinh tế cũ nào đấy có thể tái hiện
với những nội dung mới trong quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa.
Lịch ssr đã từng biết đến nhiệm vụ quan hệ sở hữu ruộng đất và đi liền với
chúng là các quan hệ quản lý và phân phối tương ứng, chúng phản ánh các quan
hệ sản xuất khác nhau trong các hình thái kinh tế xã hội. Đã từng xuất hiện và
tồn tại quan hệ sản xuất dựa trên cơ sở chế độ sở hữu nhỏ của người tiểu nông
và quan hệ giữa họ với nhau hoàn toàn dựa trên cơ sở các quan hệ sản xuất tự
cấp, tự túc hay có trao đổi mua, bán. Cũng đã từng tồn tại quan hệ sản xuất kiểu
đại điền trang, sự cưỡng bước lao động đối với nộ lệ và sự bóc lột lao động nô
lệ một cách siêu kinh tế. Lại cũng đã từng tồn tại quan hệ sản xuất kiểu phong
kiến dựa trên cơ sở chế độ lĩnh canh, phát canh thu tô của vua chúa hay địa chủ
đối với nông dân lĩnh canh. Nhìn chung mối quan hệ sản xuất đó đều gắn với
một lực lượng sản xuất tương ứng nhưng đều hãy còn hết sức thấp kém và lạc
hậu. Do đó, mặc dù có những giai đoạn có những mâu thuẫn, xung đột, xong
cũng tồn tại nhiều giai đoạn mà quan hệ sản xuất có sự vận động phát triển pợh


là một trong những nhân tố cơ bản của sự phát triển sản xuất nông nghiệp. Thế
nhưng xét một cách toàn diện và nhìn sự phát triển của lịch sử nhân loại như
một quá trình tự nhiên thì rõ ràng các quan hệ sản xuất đó là sự kìm hãm sự phát

toàn thể dân cư của một đất nước phải làm nông nghiệp mới đủ nuôi sống cả
dân tộc, thì ngày nay ở những nước có nền nông nghiệp phát triển chỉ cần một
tỷ lệ nhỏ dân cư làm nông nghiệp. Tuy nhiên, nền nông nghiệp tư bản chủ nghĩa
vẫn có tác dụng kìm hãm làm cho nền nông nghiệp không phát triển đúng với
những khả năng mà cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật có thể cho phép. Tình
trạng phát triển không đều của nền nông nghiệp tư bản chủ nghĩa là điều đập
vào mắt mọi người. Nhìn trên phạm vi toàn thế giới, ta thấy trong hệ thống tư
bản chủ nghĩa, bên cạnh các nước phát triển dư thừa lương thực và dụng lương
thực để đầu cơ về kinh tế và cả chính trị nữa thì còn biết bao nhiêu nước mà nạn
đói thường xuyên đe doạ và hàng năm làm mất đi bao nhiêu sinh mạng con
người. Nhìn trong phạm vi một nước, ngay cả nước phát triển, người ta cũng
thấy những vùng phát triển không đều nhau; các ngành của nông nghiệp cũng
phát triển không đều nhau. Điều đó là do chủ nghĩa tư bản chỉ đầu tư vào đâu có
tỉ suất lợi nhuận cao.


Chế độ kinh doanh tư bản chủ nghĩa trong nông nghiệp, một mặt là quá
trình bóc lột những người lao động nông nghiệp, mặt khác là quá trình bóc lột
đến kiệt quệ chính bản thân đất đai, làm xấu đi môi trường sống của con người.
Chế độ hoàn toàn mâu thuẫn với yêu cầu về một nền nông nghiệp sinh thái,
trong khi lấy từ thiên nhiên những sản phẩm nuôi sống con người thì đồng thời
con người cũng phải giữ sự cân bằng sinh thái, trả lại cho thiên nhiên nguồn
sống và vẻ đẹp của nó, để cho các thế hệ con người sau này được hưởng, tránh
được sự "trả thù" của chính thiên nhiên đối với hành vi vô trách nhiệm của con
người. Với chế độ tư hữu ruộng đất và địa tô tư bản chủ nghĩa, chủ nghĩa tư bản
có xu hướng muốn tận dụng tối đa khả năng của đất đai trong thời gian thuê
đất, việc sử dụng quá mức độ về phân hoá vô cơ và các chất hoá học khác đã
làm giảm độ phì của đất. Cùng với việc bóc lột kiệt quệ đất đai và các hành vi
khác như việc phá rừng… nguy cơ sa mạc hoá trái đất đang đe doạ con người.
Không phải ngẫu nhiên mà ở các nước tư bản chủ nghĩa ngày càng xuất hiện

phát triển. Ở nước nga, một nước tuy đã là nước đế quốc nhưng vẫn chỉ là một
nước tư bản phát triển trung bình và trong nền nông nghiệp nước Nga, quan hệ
kinh tế tiểu nông vẫn là quan hệ thống trị, còn chủ nghĩa tư bản trong nông
nghiệp chưa đặt đến trình độ phát triển như ở Tây Âu hay Bắc Mỹ. Còn đối với
những nước lạc hậu, trước đây là nửa thuộc địa hay thuộc địa, trải qua thắng lợi
của cách mạng dân tộc dân chủ chuyển sang cách mạng xã hội chủ nghĩa như ở
Việt Nam, điểm xuất phát của nông nghiệp càng thấp hơn nữa. Như vậy, một bài
toán cực kỳ phức tạp được đặt ra: công cuộc xây dựng nền kinh tế xã hội chủ
nghĩa phải được tiến hành đồng thời cả ở thành thị và cả nông thôn, mà nông
thôn như ở nước ta, thực tế là một biển cả kinh tế tiểu nông, vậy thì các quan hệ
sản xuất xã hội chủ nghĩa trong nông nghiệp sẽ ra đời như thế nào từ chính nền
kinh tế tiểu nông ấy, bỏ qua hẳng một thời kỳ phát triển của các quan hệ sản
xuất tư bản chủ nghĩa trong nông nghiệp? Có thể đưa nông dân đi lên chủ nghĩa
xã hội hay không và đi lên như thế nào, bằng cách nào?.
Các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác-Lênin, đặc biệt là V.I.Lênin dã trả lời câu
hỏi này bằng sự khẳng định khả năng chuyển biến kinh tế tiểu nông lên nền
nông nghiệp sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa thông qua con đường của chế độ hợp
tác xã. Theo V.Lênin đó là con người "đơn giản" "đễ dàng" và "dễ tiếp thu nhất"
đối với nông dân để dẫn dắt họ đến chủ nghĩa xã hội. Chế độ hợp tác xã không
hoàn toàn đồng nhất với nội dung của quan hệ sản xuất hay cách mạng về quan
hệ sản xuất. Mô hình tổ chức hợp tác xã còn chứa đựng bên trong nó cả nội
dung của lực lượng sản xuất và các quan hệ kinh tế tổ chức. Tuy nhiên, trong
luận án này chúng tôi tiếp cận con đường của chế độ hợp tác xã hội mà Ph.Ăng
ghen và V.I.Lênin đã nói đến đó với tính cách là con người "đơn giản" và "dễ
dàng" để chuyển biến kinh tế tiểu nông thành nông nghiệp sản xuất lớn xã hội
chủ nghĩa hiện đại.
Nhìn vào thực tiễn chúng ta thấy việc xây dựng nền nông nghiệp xã hội chủ
nghĩa ở một số nước, cũng như ở nước ta, chúng ta thấy bên cạnh một số thành
tựu đạt được cũng có không ít vấp váp. Cho đến nay, nông nghiệp vẫn là mặt
trận còn không ít những khó khăn và chưa thể nói là đã thoát hoàn toàn khỏi

phải nói ngay rằng cũng nhờ khối liên minh công nông đó mới có thể bảo vệ
được Tổ quốc xã hội chủ nghĩa chống lại các cuộc chiến tranh xâm lược của chủ
nghĩa đế quốc. Con đường đúng đắn để đưa kinh tế tiểu nông và giai cấp nông
dân lên chủ nghĩa xã hội chỉ có thể là một con đường lâu dài, kiên trì thuyết
phục để cho quần chúng nông dân thông qua thực tiễn kinh tế và chính trị tự
mình thấy rõ sự cần thiết phải chuyển lên những hình thức tổ chức kinh tế mới.
Vấn đề này, khi bàn về : "Vấn đề nông dân ở Pháp và Đức"( 9) , Ph.Ăngghen đã có những chỉ dẫn quan trọng. Ông cho rằng, sau khi giành chính quyền,
với tư cách là Nhà nước, giai cấp công nhân phải hướng dẫn, đưa người tiểu
nông vào con đường hợp tác. Điều này càng thêm có ý nghĩa đối với những
nước tiểu nông chiếm đa số trong dân cư. Tuy nhiên, không thể nông nóng mà
phải biết chờ đợi họ, phải để cho người nông dân "suy nghĩ trên luống cày của
họ". Và Ph.Ăng-ghen đã đưa ra hai kết luận quan trọng: "Một là… Chúng ta


thấy trước rằng tiểu nông không tránh khỏi bị tiêu vong, nhưng chúng ta tuyệt
nhiên không có nhiệm vụ làm cho tiểu nông đi đến chỗ tiêu vong" và "hai là,
cũng hiển nhiên rằng khi chúng ta giành được chính quyền, chúng ta sẽ không
thể nghĩ đến dùng bạo lực để tước đoạt nông dân (đủ có hoặc không có bồi
thường cũng vậy)… Nhiệm vụ của chúng ta đối với tiểu nông, trước hết phải là
hướng quyền sở hữu cá nâHà Nội và nền kinh doanh cá thể của họ vào con
đường kinh doanh hợp tác, không phải bằng con đường bạo lực mà là bằng
những tấm gương và bằng sự giúp đỡ của xã hội" ( 10) .
Ở nước Nga, sau cách mạng tháng Mười, một vấn đề lý luận cực kỳ quan
trọng được đặt ra. Đó là vấn đề liệu có khả năng xây dựng thành công chủ nghĩa
xã hội ở riêng một nước Nga tiểu nông trong vòng vây của chủ nghĩa tư bản thế
giới không? Các trào lưu cơ hội chủ nghĩa trong Đảng Cộng sản tỏ rõ thái độ
nghi hoặc, phủ định kinh nghiệm đó. Riêng những người bôn sê vích do
V.I.Lênin đứng đầu đã trả lời một cách khẳng định.
V.I.Lênin đặc biệt tin tưởng một cách khoa học rằng kinh tế tiểu nông có
thể đi lên chủ nghĩa xã hội thông qua con đường của chế độ hợp tác xã. Tổ chức

hợp tác xã: "Chúng ta đã tìm ra được mức độ kết hợp lợi ích tư nhân, lợi ích
thương nghiệp tư nhân với việc Nhà nước kiểm soát và kiểm tra lợi ích đó, mức
độ làm cho lợi ích tư nhân phục tùng lợi ích chung, điều mà trước đây là nan
giải với rất nhiều người xã hội chủ nghĩa"( 38) . V.I.Lênin còn đề cập đến văn
hoá của thương nghiệp hợp tác xã xã hội chủ nghĩa: "Hiện nay, toàn bộ vấn đề
là phải biết kết hợp cài đà cách mạng, cái nhiệt tình cách mạng đã được chúng ta
biểu lộ và biểu lộ đầy đủ và đã đạt đến kết quả hoàn toàn- là phải biết kết hợp
cái đó với bản lĩnh của một thương nhân thông minh và có học, cái bản lĩnh đó
hoàn toàn đủ để thành một người công tác hợp tác xã giỏi"( 38) . V.I.Lênin đã
kết luận rằng: "Khi các tư liệu sản xuất đã thuộc về xã hội, khi giai cấp vô sản,
với tư cách là giai cấp đã thắng giai cấp tư sản- thì chế độ của những hợp tác xã
văn minh là chế độ xã hội chủ nghĩa" ( 38) rằng chế độ hợp tác xã là "con
đường đơn giản nhất, dễ dàng nhất, dễ tiếp thu nhất, đối với nông dân"( 38)
rằng do đặc điểm của chế độ chính trị Xô Viết mà "chế độ hợp tác xã là hoàn
toàn đồng nhất với chủ nghĩa xã hội" ( 38) và "nếu chúng ta tổ chức được toàn
thể nông dân vào hợp tác xã thì chúng ta đứng vững được hai chân trên miếng
đất xã hội chủ nghĩa"( 38) .
Như vậy là, sự thắng lợi của chế độ hợp tác xã trong nông nghiệp cũng là
cơ sở cho sự ra đời và thống trị của các quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa trong
nông nghiệp, là một bước quan trọng sự chiến thắng của con đường xã hội chủ
nghĩa đối với con đường tư bản chủ nghĩa trong nông nghiệp. Trong những điều
kiện kinh tế và chính trị đã thay đổi, hợp tác xã không còn là sự liên hiệp của tư
bản nữa mà là sự liên hiệp của những người lao động nông nghiệp. Có thể rằng,
trong giai đoạn đầu và ở những hình thức thấp, nguyên tắc phân phối theo tỷ lệ
tài sản đóng góp vào hợp tác xã còn có một vai trò nhất định. Tuy nhiên, cái
nguyên tắc chi phối hoạt động của hợp tác xã là nguyên tắc phân phối theo lao
động, là sự xoá bỏ từng bước vững chắc các tàn dư của chế độ người bóc lột
người. Điều này càng biểu hiện rõ rệt trong giai đoạn sau và ở những thức cao
của chế độ hợp tác xã.
Theo V.I.Lênin, chế độ thx với tính cách là con đường quá độ để đưa

phân phối sản phẩm này hay khác nói lên tính quy luật kinh tế khách quan. Sự
đồng tính hay phản đối, hưởng ứng hay bác bỏ trong ý thức của quần chúng
nông dân đối với hình thức kinh tế này hay hình thức kinh tế khác trong đa số
trường hợp nói lên sự phát triển kinh tế đã đến lúc cần thiết hay chưa cần thiết
phải thay thế hình thức kinh tế này đã lỗi thời trở ngại cho sản xuất bằng những
hình thức kinh tế khác mới mẻ, thúc đẩy sản xuất phát triển. Cái động lực kinh
tế biến thành nhận thức của con người, thành động cơ thúc đẩy hành động là các
lợi ích kinh tế. Một sự lãnh đạo, quản lý khôn ngoan là phải bám sát, phát hiện
những suy nghĩ và nguyện vọng của quần chúng, về kinh tế phát hiện ra một
cách nhạy bén và đúng đắn các yêu cầu khách quan; ủng hộ, tạo điều kiện cho
cái mới chóng ra đời, đồng thời hướng dẫn, uốn nắm những xu hướng lệch lạc
tiêu cực, lỗi thời. Đây chính là quá trình đổi mới không ngừng tư duy kinh tế


của Đảng một cách đúng đắn dựa trên cơ sở thực tiễn kinh tế, tránh rơi vào con
đường chủ quan, duy ý chí trong chính sách nông nghiệp.
Từ những quan điểm trên đây của V.I.Lênin về chế độ hợp tác xã có thể
thấy rằng chế độ đó tất yếu phải chưa đứng rất nhiều hình thức kinh tế hết sức
đa dạng, phong phú, không những giữa các dân tộc mà ngay trong một quá trình
dân tộc. Việc xây dựng chế độ hợp tác xã không phải chỉ tiến hành trong một
thời gian ngắn vài năm, bằng cách đưa nông dân vào hợp tác xã nông nghiệp,
công hữu hoá các tư liệu sản xuất cơ bản coi như thể là đã chuyển xong kinh tế
tiểu nông thành kinh tế tập thể, sự phát triển tiếp theo chỉ là củng cố, hoàn thiện
quan hệ kinh tế tập thể, làm cho người nông dân từ chỗ làm ăn cá thể quen dần
với lề thói làm ăn tập thể và trên cái cơ sở kinh tế tập thể đó các lực lượng sản
xuất trong nông nghiệp sẽ phát triển mạnh mẽ. Có một thời gian tương đối dài
chúng ta đã suy nghĩ và làm như vậy, đã đồng nhất chế độ tác xã với công cuộc
tập thể hoá nông nghiệp.
Thế nhưng, nếu chúng ta nghiên cứu kỹ những tư tưởng của V.I.Lênin về
chế độ hợp tác xã thì chúng ta thấy V.I.Lênin nói rất nhiều đến những hình thức

Không còn nghi ngờ gì nữa, chế độ hợp tác xã theo tư tưởng của V.I.Lênin
sẽ đưa kinh tế tiểu nông lên kinh tế nông nghiệp lớn xã hội chủ nghĩa. Không
một phút nào được giao động cái định hướng xã hội chủ nghĩa đó. Không nền vì
một số khó khăn, vấp váp mà quay lại phủ định nền kinh tế tập thể, tuyệt đối
hoá một chiều, khuyến khích và thả nổi nền kinh tế tiểu nông. Cần chú ý tới một
đặc điểm lớn là con đường từ kinh tế tiểu nông lên chủ nghĩa xã hội là một con
đường tương đối lâu dài. Trên con đường đó, "Chúng ta phải hiểu những đường
lối, thể thức, thủ đoạn và phương cách trung gian cân thiết để chuyển từ những
quan hệ tiểu tư bản chủ nghĩa lên chủ nghĩa xã hội. Đó là mấu chốt của vấn đề"(
38) . Một nước mà đi lên chủ nghĩa xã hội từ một điểm xuất phát càng thấp như
nước ta thì thời gian quá độ lên chủ nghĩa xã hội trong toàn bộ nền kinh tế nói
chung cũng như trong nông nghiệp nói riêng càng phải dài, càng phải qua nhiều
bước quá độ nhỏ, với những hình thức kinh tế trung gian kế tiếp và đan xen vào
nhau. Rời bỏ cái nhận thức lý luận cơ bản đó, chúng ta sẽ lập tức rơi vào bệnh
chủ quan duy ý chí, sẽ gặp nhiều khó khăn, vấp váp và cuối cùng càng làm cho
thời gian xây dựng chủ nghĩa xã hội càng dài hơn và khó khăn hơn.
I.2. Quá trình phát triển của quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa trong
nông nghiệp nước ta và việc điều chỉnh quan hệ sản xuất nông nghiệp hiện
nay
Sau thắng lợi của cách mạng dân tộc, dân chủ, nước ta quá độ lên chủ
nghĩa xã hội từ một nền kinh tế lạc hậu- một nền nông nghiệp sản xuất nhỏ, kỹ
thuật canh tác lạc hậu, năng xuất lao động hết sức thấp kém, tự cấp, tự túc. lịch
sử đã để lại cho chúng ta một giai cấp nông dân cần cù, có kinh nghiệm sản xuất
phong phú, yêu nước và rất anh hùng, một lòng tin theo Đảng. Song, mặt khá họ
cũng là sản phẩm của nền sản xuất nhỏ với đầy đủ những đặc trưng của người
tiểu nông, hơn nữa, còn là người tiểu nông gắn liền với cái mà C.Mác gọi là
"phương thức sản xuất châu Á".
Xuất phát từ những điều kiện lịch sử đó, thuấm nhuần những ttcủa chủ
nghĩa Mác-Lênin về con đường đưa kinh tế tiểu nông lên chủ nghĩa xã hội, ngay
từ đầu đảng ra đã khẳng định: "Kinh tế nước ta căn bản là kinh tế nông nghiệp.

hợp tác, thông qua hợp tác hoá để xây dựng quan hệ sản xuất mới ở nông thôn.
Đồng thời, chúng ta đã có sự vận dụng sáng tạo nhất định những nguyên lý đó
vào thực tiễn Việt Nam, thể hiện ở một số hình thức và bước đi, sự bổ sung phát
triển nội dung nguyên tắc tự nguyện… phong trào đổi công, vần công- một hình
thức thấp của sự hiệp tác- việc tổ chức các tổ đoàn kết sản xuất, tập đoàn sản
xuất nông nghiệp, hợp tác xã bậc thấp; việc đưa vào thực tiễn nguyên tắc tự
nguyện, cùng có lợi và quản lý dân chủ- là những biểu hiện cụ thể của sự vận
dụng sáng tạo đó. Song, chúng ta đã chưa nhận thức thật đúng đắn và đầy đủ
những quan điểm của Ph.Ăng-ghen về việc cải tạo tiểu nông, nhất là những tư
tưởng của V.I.Lênin về chế độ hợp tác xã với tính cách là hình thức cụ thể, là
con đường "đơn giản" và "để tiếp thu nhất" đối với nông dân trong tổ chức thực
tiễn. Trong một thời gian dài chúng ta đã làm mất đi những hình thức phong
phú, đa dạng của nấc thang trung gian, quá độ của chế độ hợp tác xã tiến hành
tập thể hoá một cách máy móc, triệt để các tư liệu sản xuất va lao động nông
nghiệp. Chúng ta đã coi mức độ cao hay thấp của việc tập thể hoá các tư liệu
sản xuất, tập thể hoá lao động và quy mô hợp tác xã như những tiêu chuẩn cơ
bản để đánh giá mức độ cao thấp về tính chất xã hội chủ nghĩa của các hợp tác
xã đó, cũng như mức độ hoàn thành hợp tác hoá. Do đó, quá trình hợp tác hóa ở
nước ta thực chất chỉ là quá trình tập thể hoá một cách đơn giản. Đây là cơ sở
sâu sắc đưa đến những chủ trương và hành động trái với yêu cầu quy luật khách
quan, biểu hiện sự nong vội, chủ quan, duy ý chí.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status