LUẬN án TIẾN sĩ vận DỤNG tư TƯỞNG và PHƯƠNG PHÁP dân CHỦ của hồ CHÍ MINH TRONG QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN dân CHỦ xã hội CHỦ NGHĨA ở VIỆT NAM - Pdf 40

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Tư tưởng Hồ Chí Minh được Đảng ta khẳng định cùng với chủ nghĩa MácLênin là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam hành động của toàn Đảng, toàn dân và
được triển khai nghiên cứu sâu rộng từ năm 1991 đến nay. Là hệ thống lý luận, tư
tưởng Hồ Chí Minh đề cập nhiều lĩnh vực trong đó có vấn đề dân chủ và xây dựng
nền dân chủ mới ở Việt Nam. Hồ Chí Minh là người vận dụng sáng tạo học thuyết
dân chủ mácxít vào Việt Nam và đã trở thành một trong những nhà dân chủ vô sản
lớn ở thế kỷ XX. Tư tưởng dân chủ Hồ Chí Minh là sự kết hợp hài hoà những yếu
tố dân chủ truyền thống của dân tộc Việt Nam với tinh hoa dân chủ của nhân loại
trên lập trường giai cấp vô sản, Hồ Chí Minh là người sáng lập nhà nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hoà, nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á, đồng thời
Hồ Chí Minh cũng là người kiên trì nêu gương về phương pháp và phong cách dân
chủ cho toàn Đảng, toàn dân ta. Suốt một phần tư thế kỷ đứng đầu nhà nước dân
chủ mới, Hồ Chí Minh đã để lại cho chúng ta những kinh nghiệm quý giá về thực
hành dân chủ mà cuộc sống đang đòi hỏi có sự tổng kết nghiêm túc.
Công cuộc đổi mới ở nước ta có một trong những nội dung cốt lõi là dân chủ
hoá. Dân chủ hoá là hiện thực hoá quyền làm chủ của dân về chính trị, kinh tế, văn
hoá, xã hội trong đời sống xã hội. Xét từ góc độ dân chủ, đổi mới theo hướng xã
hội chủ nghĩa thực chất là quá trình xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ
nghĩa ở Việt Nam. Tìm hiểu, tổng kết nội dung dân chủ hoá trong công cuộc đổi
mới định hướng xã hội chủ nghĩa là cần thiết.
Hiện nay, tình trạng vi phạm dân chủ đã làm xuất hiện nhiều “điểm nóng” về
chính trị, xã hội. Các “điểm nóng” có xu hướng lây lan và ngày càng phức tạp. Vi
phạm dân chủ thực chất là làm trái với tư tưởng Hồ Chí Minh,làm sai cương lĩnh
của Đảng. Vậy, cái gì dẫn đến những sai trái đó?
Trong những năm qua, việc nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ
chưa ngang tầm đòi hỏi của cuộc sống. Các công trình nghiên cứu chưa tập trung
làm sáng tỏ những giá trị lý luận và thực tiễn của tư tưởng Hồ Chí Minh về dân
chủ và tìm cách vận dụng vào thực tiễn đổi mới ở nước ta.



học lớn về dân chủ, nhiều bài viết về dân chủ rất công phu, khoa học được công bố


trên các tạp chí và đã có những công trình in thành sách. Nhưng nghiên cứu lý luận
dân chủ của Hồ Chí Minh chưa có thành tựu đáng kể. Thống kê sơ bộ trên mấy tạp
chí (Tạp chí Triết học, Tạp chí Thông tin lý luận, Tạp chí Nghiên cứu lý luận, Tạp
chí Lịch sử Đảng, Tạp chí Công tác tư tưởng văn hoá, Tạp chí Cộng sản) chúng tôi
thấy, trong số trên 50 công trình nghiên cứu về dân chủ, dân chủ xã hội chủ nghĩa
thì số công trình trực tiếp đề cập đến tư tưởng dân chủ của Hồ Chí Minh là rất ít.
Chỉ có : “Quán triệt tư tưởng dân chủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong công cuộc
đổi mới” của Nguyễn Văn Nam, Tạp chí Công tác tư tưởng và văn hoá, 6-1992.
“Tư tưởng Hồ Chí Minh về thực hành dân chủ” của Lê Văn Tuấn, Tạp chí Thông
tin lý luận, 9-1992, “Tư tưởng dân chủ của Hồ Chí Minh với tư cách là giải pháp
chống quan liêu” của Ngô Hữu Thảo, Tạp chí Thông tin lý luận, 6-1993. “Về dân
chủ trong tư tưởng Hồ Chí Minh” của Hoàng Trang, Tạp chí Lịch sử Đảng, 61998.
Các bài viết về tư tưởng dân chủ Hồ Chí Minh nêu trên có tính chất đặt vấn
đề và gợi ý nghiên cứu nhiều hơn là xác định và hệ thống những luận điểm dân chủ
của Hồ Chí Minh thành một hệ thống lý luận hoàn chỉnh, thậm chí chưa có quan
niệm rõ về tư tưởng dân chủ Hồ Chí Minh. Ví như Hoàng Trang cho rằng ; dân chủ
trong tư tưởng Hồ Chí Minh gồm những nội dung cơ bản:
1. Đó là một chế độ chính trị do dân làm chủ.
2. Đảng lãnh đạo thực hiện một chế độ dân chủ là tất yếu.
3. Trong thực thi dân chủ phải có vai trò tổ chức quản lý của nhà nước.
4. Nhân dân là hạt nhân của dân chủ, nhân dân có quyền làm chủ thì phải có
nghĩa vụ hoàn thành bổn phận của người làm chủ (124, tr,14).
Ở đây, Hoàng Trang chưa phân định rõ giữa cơ chế thực hhiện dân chủ với
nội dung cơ bản trong tư tưởng dân chủ Hồ Chí Minh.
Có một số cuốn sách đề cập đến tư tưởng dân chủ của Hồ Chí Minh như;
Đạo đức Hồ Chí Minh- tư tưởng nhân đạo, dân chủ của Phạm Ngọc Uyển, Nxb Đà
Nẵng, 1990, 78 trang. Trong các công trình này, dân chủ Hồ Chí Minh được khảo

- Luận án dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh, các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về dân chủ, đồng thời có tham
khảo, sử dụng thành tựu nghiên cứu khoa học hiện đại về dân chủ.
- Luận án vận dụng các nguyên tắc phương pháp luận của chủ nghĩa MácLênin; các phương pháp lôgic, lịch sử, phân tích, tổng hợp và một số phương pháp
cụ thể khác.
1. Đóng góp mới của luận án
- Trình bày một cách có hệ thống cơ sở hình thành tư tưởng dân chủ của Hồ
Chí Minh


- Phân tích, xác định rõ hệ thống nội dung cơ bản trong tư tưởng và phương
pháp dân chủ của Hồ Chí Minh một cách có căn cứ khoa học.
- Phân tích rõ sự vận động của tư tưởng và phương pháp dân chủ Hồ chí
Minh trong thực tiễn và khái quát thành các nguyên tắc có tính phương pháp luận
trong đánh giá thực trạng dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.
- Đề xuất một số phương hướng cơ bản, có tính hiện thực nhằm tiếp tục vận
dụng tư tưởng và phương pháp dân chủ của Hồ Chí Minh trong những năm tới ở
nước ta.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
- Phân tích, làm rõ hệ thống các quan điểm về dân chủ và phương pháp dân
chủ của Hồ Chí Minh là một đóng góp nhỏ vào nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh
- một bộ phận cấu thành nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam hành động của toàn
Đảng, toàn dân ta. Đây cũng là một đóng góp vào tìm tòi cơ sở lý luận và phương
pháp luận cho việc hoàn thiện dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.
- Kết quả đạt được của luận án sẽ góp phần nâng cao nhận thức về tư tưởng
dân chủ của Hồ Chí Minh về quyền làm chủ của nhân dân, góp phần củng cố niềm
tin của dân vào sự lãnh đạo của Đảng, vào thắng lợi của sự nghiệp đổi mới ở nước
ta theo hướng xã hội chủ nghĩa.
- Luận án có thể làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy về tư
tưởng Hồ Chí Minh, về chủ nghĩa xã hộ khoa học trong các trường đào tạo cán bộ

nhân loại, dân chủ là một nhu cầu tất yếu của con người và loài người. Đương
nhiên, tiếp cận theo hướng nhu cầu của con người, dân chủ mang tính nhân loại.
Dân chủ sơ khai và việc thực thi nó đã có trước so với lịch sử hình thành giai cấp
và đấu tranh giai cấp trong lịch sử. Cho dù xã hội loài người phát triển đến trình độ
con người trở thành tự do hoàn toàn, trình độ tự quản xã hội đạt đến độ hoàn thiện,
nhà nước và các thiết chế quyền lực chính trị tự tiêu vong, thì dân chủ cùng với
toàn bộ nội dung nó biểu đạt vẫn tồn tại. Đó chính là ý thức về giá trị làm chủ, tự


chủ, tự do của con người với khả năng phát triển tối đa các năng lực sáng tạo của
họ.
Dân chủ với tư cách là một giá trị xã hội, một trình độ phát triển của văn
hoá, văn minh, một thuộc tính bản chất của con người thẩm thấu qua nhu cầu lối
sống, đạo đức, thẩm mỹ, thì dân chủ được xác địnhlà một lý tưởng nhân đạo, một
giá trị nhân văn, một mục tiêu và động lực của giải phóng cá nhân, phát triển xã
hội. Dân chủ vừa dựa trên tiền đề của tự do vừa thúc đẩy sự phát triển tự do.
Quyền dân chủ, quyền công dân, quyền con người đạt được qua đấu tranh giành
dân chủ, vì dân chủ là sự phát triển của con người và loài người vươn tới tự do.
Còn dân chủ với nghĩa là chế độ xã hội, là tổ chức nhà nước thì dân chủ là
một phạm trù lịch sử, là quyền lực chính trị, là chế độ chính trị. Do đó, chế độ dân
chủ nào cũng có tính giai cấp sâu sắc. Giai cấp là tiêu chí bản chất để xem xét,
đánh giá chế độ dân chủ, thành tựu dân chủ, cũng như xác định chỗ đứng để giải
quyết vấn đề dân chủ đặt ra trong quá trình dân chủ hoá, biểu hiện ở chỗ; dân chủ
với ai, cho ai, quyền lợi, quyền lực thực sự của ai, chuyên chính với đối tượng nào.
Nội dung, hình thức và tính chất của dân chủ luôn thay đổi cùng với sự vận
động của lịch sử. Trong lịch sử các xã hội có giai cấp, dân chủ chủ nô, dân chủ tư
sản và dân chủ xã hội chủ nghĩa là các chế độ dân chủ điển hình, với những trình
độ phát triển điển hình của dân chủ chính trị, quyền lực chính trị nhà nước.
Lý tưởng và mục tiêu phấn đấu của chúng ta là xây dựng nền dân chủ xã hội
chủ nghĩa, hình thức cao nhất của dân chủ đương đại. Nó sẽ phát huy triệt để


chế độ tư hữu, áp bức, bóc lột, mà còn đem lại cho từng cá nhân sự tự do, bình
đẳng và bảo đảm cho mọi thành viên xã hội điều kiện tự hoàn thiện, nâng mình lên
trình độ làm chủ cao . Chính vì vậy, dân chủ xã hội chủ nghĩa là mục đích, đồng
thời là điều kiện để con người chiếm lĩnh cái tất yếu, sáng tạo và cải tạo xã hội để
đi tới tự do.
1.1.2. Cơ sở hình thành tư tưởng dân chủ của Hồ Chí Minh
Tư tưởng và phương pháp dân chủ của Hồ Chí Minh là một bộ phận trong hệ
thống tư tưởng Hồ Chí Minh. Do đó, cơ sở hình thành tư tưởng và phương pháp
dân chủ Hồ Chí Minh không nằm ngoài các yếu tố đã hình thành nên hệ thống tư
tưởng Hồ Chí Minh.
Hồ Chí Minh tiếp thu văn hoá dân tộc và văn hoá nhân loại (cả chủ nghĩa
Mác-Lênin) là một quá trình, vừa tiếp thu vừa vận dụng và phát triển. Quá trình đó
diễn ra liên tục từ khi Người còn là một thanh niên cho tới khi đã là người đứng
đầu Đảng, Nhà nước cách mạng của nhân dân ta, nghĩa là diễn ra trong suốt cuộc
đời của Người.
1.1.2.1. Hồ Chí Minh sớm tiếp thu những yếu tố dân chủ trong văn hoá
truyền thống Việt Nam
Yếu tố dân chủ trong văn hoá truyền thống Việt Nam, thực chất và chủ yếu
là dân chủ nông dân. Đồng thời, ở Việt Nam tồn tại khá sớm hình thức dân chủ
công xã dựa trên sự bảo tồn quan hệ công xã nông thôn, lấy quan hệ láng giềng
làm sợi dây ràng buộc tập thể, chỗ dựa tinh thần là bầu không khí hoà đồng, bệ đỡ
kinh tế là chế độ công điền, công thổ của làng xã.
Bên cạnh tư tưởng dân chủ của nông dân, ở Việt Nam cũng tồn tại một số
biện pháp và hình thức thân dân của các vương triều tiến bộ trong điều kiện phân
hoá giai cấp chưa gay gắt, nhất là trước yêu cầu bức thiết của nhiệm vụ giữ nước.


Nhà Lý, nhà Trần được xây dựng trên một thiết chế tập quyền thân dân, “lấy dân
làm gốc”, lo giữ lòng dân bằng nhiều hình thức dân chủ. Nhà Lý cho đặt chuông

lộn đấu tranh vì nước, vì dân, nhưng hai cụ Phan không thấy rõ giải phóng dân tộc,
giải phóng nhân dân là sự nghiệp của toàn dân và phải do chính dân làm. Dù sao
hai cụ vẫn là hình ảnh sáng ngời về lòng yêu nước, thương dân trong tâm khâm Hồ
Chí Minh. Những tư tưởng tiến bộ của các cụ là những gợi ý cho việc xây dựng
nền dân chủ cộng hoà ở Việt Nam sau này của Hồ Chí Minh.
1.1.2.2. Ảnh hưởng của văn hoá phương Đông đến tư tưởng dân chủ của Hồ
Chí Minh
Sự hấp thụ văn hoá phương Đông mà đại diện là Nho học và Phật học đã
được bản địa hoá ở Việt Nam và có sự giao thoa với nhau, sớm hình thành ở Hồ
Chí Minh một nhân cách văn hoá, một tư duy của nhà dân chủ Đông phương thiết
tha với độc lập tự do của dân tộc và cuộc sống yên bình của nhân dân. Hồ Chí
Minh còn tiếp tục củng cố và phát triển kiến thức văn hoá Đông phương của mình
ngày ở chính trung tâm, nơi khởi nguồn của Nho giáo, đó là Trung Quốc. Đặc biệt
Người đã chứng kiến việc Khổng giáo và Khổng Tử bị phê phán gay gắt ở Trung
Quốc. Trong bầu không khí đó, Hồ Chí Minh có nhận xét riêng của mình. Người
viết : “Khổng Tử vĩ đại, khởi xướng thuyết đại đồng và truyền bá sự bình đẳng về
tài sản” (71, tr,35).


Nếu không am hiểu học thuyết Khổng- Mạnh, Hồ Chí Minh không thể tìm
thấy sự tiến bộ, tinh tuý của học thuyết đang bị phê phán, để khẳng định một vấn
đề lớn hơn, đó là: “lý do lịch sử cho phép chủ nghĩa cộng sản thâm nhập dễ dàng
vào châu Á, dễ dàng hơn là ở châu Âu”[71, tr, 35]. Hồ Chí Minh đánh giá “Khổng
giáo không phải là tôn giáo mà là một thứ khao học về kinh nghiệm đạo đức và
phép ứng xử. Và trên cơ sở đó người ta đưa ra khái niệm về thế giới đại đồng” [71,
tr, 477]. Song, Người cũng chỉ ra tính không tương hợp của học thuyết KhổngMạnh không tương hợp ở những chỗ:
1. Biết trọng ý dân nhưng không biết làm thế nào để thực hiện được ý dân.
Hiểu được ý dân, thậm chí đề cao “ý dân là ý trời”, nhưng không có cơ chế hay có
một chế độ nào để thực hiện ý dân. Vì vậy, kẻ nắm chính quyền thường làm trái ý
dân, gây sự phẫn nộ trong dân chúng và họ nổi dậy chống lại.

vô quả, an vô khuynh” nghĩa là bình quân thì không nghèo, hoà thì không thiếu,
yên thì không nghiêng đổ. Tư tưởng quân bình của Khổng Tử dựa trên cơ sở chủ
nghĩa đạo đức, chia đều miếng cơm, có cơm cùng ăn chứ không hiểu cơm ở đâu
mà có. Vì lẽ Khổng, Mạnh đều coi thường lao động chân tay, chủ trương “cần đạo
hơn cần ăn”. Tuy vậy, các ông cũng thấy được mầm mống của loạn lạc là không có
tài sản, “người không có tài sản thì không yên tâm, nếu không yên tâm thì sẽ làm
điều xằng bậy, không trừ một điều gì” (Mạnh Tử). Như vậy, tư tưởng quân bình


của Nho giáo trong phân phối là hiện tượng bao cấp, nhằm bảo đảm ổn định xã hội
chứ không phải là bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ, về chính trị và kinh tế, về
chính sách và công bằng xã hội.
Bằng một thái độ nghiêm túc và cách mạng, Hồ Chí Minh viết : “Những
người An Nam chúng ta hãy tự hoàn thiện mình về mặt tinh thần bằng cách đọc
các tác phẩm của Khổng Tử, và về mặt cách mạng thì cần đọc các tác phẩm của
Lênin”[72, tr, 454].
Đi sâu tìm hiểu thực chất các học thuyết và chắt lọc cái tinh tuý nhất để phục
vụ sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, giai cấp và con người, Hồ Chí Minh
so sánh Nho giáo, Phật giáo và Ki Tô giáo với chủ nghĩa Mác-Lênin, so sánh các
nhà sáng lập ra các học thuyết đó. Người thấy cái cần phải học ở học, cần phải đề
cao hơn tình yêu thương con người, tư tưởng vị tha, cứu khổ, mưu cầu hạnh phúc
cho loài người, mưu cầu phúc lợi cho xã hội của Khổng Tử, Giê su, Thích Ca và
của Các Mác, Ăngghen, Lênin. Người tự cho mình là học trò nhỏ của các vị đó. Do
vậy, giai cấp công nhân Việt Nam, trong các bài viết, bài nói của Hồ Chí Minh,
chúng ta bắt gặp những câu chữ, mệnh đề Nho giáo, Phật giáo, những lời răn của
Chúa, được Người giải thích hoặc đưa những nội dung mới làm cao đẹp hơn, nhằm
phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc.
1.1.2.3. Sự tiếp nhận giá trị tư tưởng dân chủ tư sản phương Tây của Hồ
Chí Minh
Nói đến tư tưởng dân chủ tư sản, người ta nghĩ ngay đến tư tưởng dân chủ

pháp luật được công bố năm 1748, được tái bản tới 22 lần và dịch ra nhiều thứ
tiếng. Trong tác phẩm, ông viết rằng xã hội loài người phát triển có quy luật khách
quan, không phải tuỳ theo ý muốn của thượng đế. Tổ chức xã hội phụ thuộc vào
hình thức chính quyền nhà nước và có ba loại hình chính quyền nhà nước phổ biến;
chế độ chuyên chế, chế độ quân chủ lập hiến và chế độ cộng hoà. Ông đề ra việc
phân quyền và hạn chế quyền hành trong chính quyền nhà nước để bảo đảm cho
quyền tự do của con người. Ông khẳng định phải triệt để phân lập ba quyền ; lập
pháp, hành pháp, tư pháp và ba quyền này phải được độc lập với nhau. Dù có thừa


nhận sự cần thiết của một nền quân chủ tư sản, song, ông vẫn coi bình đẳng đúng
nghĩa của nó là bình đẳng trước pháp luật và lòng yêu nước đồng nghĩa với lòng
yêu sự bình đẳng.
Người tiến xa nhất về mặt tư tưởng dân chủ trong thế kỷ Ánh sáng và cùng
là nhà tư tưởng tiêu biểu nhất thời đại này là Giăng GiắccơRútxô. Toàn bộ các tác
phẩm của Rútxô dẫn mọi người đến một học thuyết cách mạng dân chủ tiên tiến
nhất đương thời. Trong số đó có cuốn Khế ước xã hội (1762) được nhắc tới nhiều
và phổ biến rộng rãi. Cuốn Khế ước xã hội đã trình bày chi tiết mô hình của một
chính quyền nhân dân. Nhân dân bao gồm hầu hết những người trực tiếp sản xuất
ra của cải vật chất của xã hội. Vì vậy, nên dân chủ theo tư tưởng của Rútxô còn
những điều chưa hoàn chỉnh, có thể ảo tưởng nữa (như việc ông coi các đại biểu
của nhân dân, thậm chí nhà nước lúc nào cũng trung thành với quyền lợi nhân
dân), nhưng ông là một nhà tư tưởng chủ đạo của phải Giacôbanh trong thời kỳ
Đại cách mạng Pháp 1789-1799.
Hồ Chí Minh từng nói “Khi tôi độ mười ba tuổi, lần đầu tiên tôi nghe được
ba chữ Pháp; tự do, bình đẳng, bác ái... Và từ thủa ấy, tôi rất muốn làm quen với
nền văn minh Pháp, muốn tìm xem những gì ẩn đằng sau những chữ ấy”[71, tr,
477].
Qua câu trích trên chúng ta thấy khát vọng tìm hiểu nội dung của dân chủ tư
sản, của tự do, bình đẳng, bác ái đã có ở Hồ Chí Minh từ tuổi thiếu niên, tuổi học



mạng Mỹ 1776 và Tuyên ngôn về nhân quyền và dân quyền của cách mạng Pháp
1789. Không phải ngẫu nhiên, khẩu hiệu của cách mạng dân chủ tư sản Pháp
chống chế độ quân chủ chuyên chế là Tự do, Bình đẳng, Bác ái, và khẩu hiệu của
Cách mạng Việt Nam chống đế quốc, phong kiến là Độc lập, Tự do, Hạnh phúc.
Đó là việc Hồ Chí Minh đã kế thừa có chọn lọc thành quả Đại cách mạng Pháp cho
Cách mạng Việt Nam.
Tiếp thu lý tưởng tự do, bình đẳng, bác ái của cách mạng dân chủ tư sản đối
với Hồ Chí Minh là quan trọng. Song, qua cuộc sống thực tế ở những trung tâm
văn hoá tư sản như Luân Đôn, Pari và trực tiếp hoạt động trong Hội dân quyền và
nhân quyền Pari và Đảng xã hội Pháp, đã giúp Người có điều kiện tìm hiểu về nền
dân chủ tư sản và các thiết chế dân chủ phương Tây. Tại Pa-ri, Nguyễn Ái Quốc đã
tiếp xúc trực tiếp với các tác phẩm của các nhà khai sáng; Môngtexkiơ, Vôte,
Rútxô,... những lý luận gia của Đại cáh mạng Pháp 1789. Theo báo cáo của mật
thám Pháp theo dõi Nguyễn Ái Quốc vào đầu tháng 3 năm 1920 thì “hiện thời
Quốc đang dịch một đoạn L’ Esprít des Lois (Tinh thần pháp luật) của
Môngtexkiơ sang quốc ngữ”[125, tr, 146].
Có thể thấy các ý tưởng dân chủ của các nhà khai sáng Pháp đã ảnh hưởng
trực tiếp tới tư tưởng dân chủ của Hồ Chí Minh.
Nhưng có lẽ Nguyễn Ái Quốc đã hấp thụ được tư tưởng dân chủ và biến nó
thành phong cách sống của mình chủ yếu từ trong cuộc sống. Rõ ràng là ở nước
Pháp, Nguyễn Ái Quốc đã hoạt động và đấu tranh cách mạng một cách tương đối
tự do, thuận lơn hơn ở trên đất nước Việt Nam dưới chế độ thuộc địa của mình.
Người có thể tự do hội họp, tham gia đảng phải, lập hội, ra báo, phát biểu ý kiến,
trình bày quan điểm của mình trước dư luận Pháp. Người đã viết bài phê bình bọn


quan lại, vua chúa nước mình, phê phám cả thống sứ, toàn quyền ở thuộc địa, như
đã làm với A. Xaroo, Liôtây, Varen,... Điều này sẽ là “phạm thượng”, không thể

Việt Nam sau khi cách mạng thành công. Bởi vì, theo Mác – Ăngghen, việc giải
phóng con người một cách toàn diện và phát huy hết mọi tiềm năng của con người
chỉ có thể thực hiện được với tiền đề là “những lực lượng sản xuất hiện đại đã phát
triển”. Nhưng ở Việt Nam, vào thời điểm 1946, Hồ Chí Minh cho rằng “những
điều kiện ấy chưa có đủ” [74, tr, 272].
Hồ Chí Minh xác nhận: Người đến với chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản
và lựa chọn chế độ xã hội chủ nghĩa cho cách mạng Việt Nam, bắt nguồn trước hết,
từ đức tin vào Lênin, tin vào sự bênh vực và ủng hộ tích cực của Lênin đối với sự
nghiệp giải phóng các dân tộc thuộc địa. Người khẳng định: Lênin đã “phát triển
và đã thực hiện chủ nghĩa Mác và Ăngghen” bằng Cách mạng tháng 10 Nga năm
1917 và mở đầu “thời đại mà chủ nghĩa Mác-Lênin đã thành lý trí và lương tâm
của mọi người tiến bộ trên thế giới”. Nói đến Lênin là nói đến Cách mạng tháng 10
Nga, một cuộc cách mạng vô sản, xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa đầu tiên
trên thế giới.
Khảo sát Cách mạng tháng Mười và thực tế được sống trong không khí sôi
động của công cuộc xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Nga, Hồ Chí Minh
nhận thức và tâm đắc với quan điểm của Lênin cho rằng: Không có chế độ dân chủ
thì không thể thực hiện được chủ nghĩa xã hội và giai cấp vô sản không thể hoàn
thành cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa nếu không tiến hành cuộc đấu tranh cho


dân chủ, cũng như chủ nghĩa xã hội sẽ không duy trì được thắng lợi nếu không
thực hiện được đầy đủ chế độ dân chủ. Thể hiện quan điểm này, Lênin viết:
Cũng giống như không thể có chủ nghĩa xã hội thắng lợi mà lại không thực
hiện dân chủ hoàn toàn, giai cấp vô sản cũng không thẻ nào chuẩn bị để chiến
thắng giai cấp tư sản được nếu nó không tiến hành một cuộc đấu tranh toàn diện,
triệt để và cách mạng để giành dân chủ [46, tr, 324].
Rõ ràng trong tư tưởng của Lênin, đấu tranh cho dân chủ và đấu tranh cho
chủ nghĩa xã hội, không thể tách rời nhau.
Theo dõi quá trình xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Nga, Hồ Chí

1.1.3. Nội dung tư tưởng dân chủ của Hồ Chí Minh
1.1.3.1. Quan niệm của Hồ Chí Minh về dân chủ
Hồ Chí MInh không có một tác phẩm chuyên khảo nào bàn sâu về dân chủ.
Song đọc Hồ Chí Minh Toàn tập (12 tập), chúng tôi thấy, thuật ngữ dân chủ được
Người dùng trên 1600 lần với những ý nghĩa sâu xa khác nhau, tuỳ theo hướng tiếp
cận và sự phát triển tư duy về dân chủ trong tư tưởng Hồ Chí Minh như sau:


Dân chủ
Dân

Thiết chế, cơ chế

Dân chủ

mới

Chế độ
(dân chủ)

(dân chủ)

Xã hội

(nhân
dân)

văn minh
dân vận


Chính vì vậy, Hồ Chí Minh quyết tâm đưa “nước ta phải đi đến dân chủ thực
sự”[77, tr, 25] nghĩa là “bao nhiêu quyền hạn đều của dân” [75, tr, 698] “Làm sao
cho dân biết hưởng quyền dân chủ, biết dùng quyền dân chủ của mình, dám nói,
dám làm” [82, tr, 223].
Quan niệm của Hồ Chí Minh về dân chủ là dân làm chủ là một định nghĩa
dân chủ cô đọng, súc tích, vừa khoa học, hiện đại vừa kế thừa và phát triển những
hiểu biết của nhân loại về dân chủ, phản ánh đúng thực chất của dân chủ ở thời
đương đại.
Thực ra, nhìn về hình thức, cách định nghĩa dân chủ của Hồ Chí Minh không
khác gì nhiều cách định nghĩa dân chủ của người Hy Lạp cổ đã được nhân loại
chấp nhận như là một định nghĩa gốc. Theo chữ Hy Lạp cổ thì dân chủ nghĩa là
quyền lực thuộc về nhân dân (kết hợp Demos + kratos), nghĩa tổng quát là nhân
dây hay dân chúng nắm chính quyền. Ngày nay trong các ngôn ngữ giao tiếp thông
dụng của loài người như tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Nga thì dân chủ vẫn giữ
nguyên ý nghĩa gốc của nó (tiếng Anh – Democracy, tiếng Pháp – Démocratie,


tiếng Nga - Демократия). Chính C.Mác đã từng viết trong tác phẩm “Phê phán
Cương lĩnh Gô ta”: từ dân chủ nếu chuyển sang tiếng Đức thì có nghĩa là nhân dân
nắm chính quyền [65, tr. 44-45]. Rõ ràng, cách hiểu dân chủ với các ngôn ngữ
thông dụng đều là sự kết hợp giữa hai thành tố : chủ thể là dân và nội dung trọng
tâm của dân chủ là quyền lực thuộc về dân hoặc dân làm chủ . Sự khác nhau giữa
quan niệm về dân chủ chính ở quan điểm và thái độ đối với dân và phương thức
gắn kết giữa dân với làm chủ hoặc quyền lực.
Trong quan niệm dân chủ của Hy Lạp cổđại thì nhân dân hay dân chúng chỉ
bao gồm những công dân hay dân tự do, trong đó không có những người nô lệ và
những người con trai vị thành niên. Dẫu rằng thành bang Aten được coi là dân chủ
nhất, thì dân chúng vẫn là thiểu số, là ít ỏi trong cộng đồng dân cư. Thậm chí dân
chỉ là nô lệ, không được làm người.
Thuật ngữ dân chủ với nội dung cơ bản là dân chúng nắm chính quyền chỉ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status