A. ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong nói và viết, không phải ai cũng sử dụng thành thạo vốn từ ngữ để
đạt được mục đích giao tiếp đặc biệt là đối tượng học sinh tiểu học. Ngữ pháp
tiếng Việt rất phong phú, đa dạng không phải ai học cũng hiểu.
Ngay từ khi lọt lòng, cha mẹ từng dạy cho con cái phải ăn nói lễ phép có
đầu, có đuôi (tức trong nhà trường gọi là câu có đủ thành phần).Vậy phải nói
thế nào cho vừa đúng cấu trúc ngữ pháp, vừa cho người nghe, người đọc hiểu rõ
ý của mình là cả một vấn đề mà mọi người chúng ta phải học tập. Việc này cần
phải được rèn luyện ngay từ khi mới bước vào bậc Tiểu học.
Trong chương trình Tiểu học, Tiếng Việt là một môn học quan trọng.
Môn học này giúp học sinh biết đọc thông, viết thạo, biết sử dụng từ ngữ một
cách chuẩn xác và có kỹ năng giao tiếp trong cuộc sống, sinh hoạt hàng ngày.
Những kiến thức của môn Tiếng Việt là tiền đề, là cơ sở cho học sinh tiếp cận
với các môn học khác. Bên cạnh việc đọc thông, viết thạo, học tốt về câu, sử
dụng câu chính xác sẽ bồi dưỡng cho các em tình yêu quê hương đất nước, có ý
thức giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt và bản sắc văn hóa dân tộc. Chính vì
vậy, việc dạy và học Tiếng Việt trong nhà trường, đặc biệt là dạy về câu luôn
được chú trọng. Tuy nhiên, trên thực tế hiện nay, trong quá trình sử dụng Tiếng
Việt, học sinh tiểu học còn mắc rất nhiều lỗi sai: Lỗi về dùng từ, lỗi thiếu thành
phần câu, lỗi dùng quan hệ từ chưa đúng khiến cho việc diễn đạt, suy nghĩ của
các em còn hạn chế, gây nhiều khó khăn trong hoạt động học tập, lao động hay
trong sinh hoạt đời sống.
Trước thực trạng đó, thông qua việc học tập và giảng dạy trong những
năm qua, tôi đã chọn đề tài này để nghiên cứu sâu hơn về cách hướng dẫn HS
lớp 5 nhận biết và sử dụng câu đúng ngữ pháp qua ®Ò tµi: “ Một số biện pháp
về nâng cao kỹ năng viết câu đúng cho học sinh lớp 5 ” nhằm tìm ra được
phương pháp, hình thức tổ chức phù hợp nhất, vận dụng tốt nhất cho quá trình
giảng dạy.
B. Gi¶i quyÕt vÊn ®Ò
1
Trường Tiểu học Thị Trấn - nơi tôi đang công tác, phần lớn giáo viên
đều không ngừng tìm tòi nghiên cứu, tích cực học tập kinh nghiệm phương pháp
giảng dạy, nâng cao kiến thức để dạy sao cho học sinh dễ hiểu, dễ vận dụng cấu
trúc cú pháp Tiếng Việt trong khi nói và viết của mình để quá trình giao tiếp đạt
hiệu quả cao. Trong nhiều năm qua, bản thân tôi luôn được Ban giám hiệu nhà
trường phân công dạy khối 4,5 được gần gũi với các đồng nghiệp có nhiều kinh
nghiệm quý báu trong dạy học. Đặc biệt trong những tiết dạy LTVC cho học
sinh giáo viên mở rộng thêm kiến thức về từ, về câu cho học sinh . Chính vì vậy
học sinh tiếp thu bài nhanh và vận dụng vào làm bài tập tốt và yêu thích môn
học.
Câu và hiểu biết sâu sắc về câu không phải là một mảng kiến thức đơn
giản nếu như giáo viên chưa tìm hiểu kĩ lưỡng về nó. Chính vì vậy, một số giáo
viên còn lúng túng và ngại bởi việc vận dụng linh hoạt các hiểu biết về câu trong
mọi trường hợp không phải là điều dễ dàng.
- Khi lập kế hoạch bài dạy giáo viên chưa lồng phần chữa câu sai cho học
sinh và cách sửa.
- Chưa vận dụng linh hoạt các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học
điều này có ảnh hưởng không tốt đến cách học và khả năng tiếp thu bài của học
sinh.
- Một số ít giáo viên chưa đầu tư thời gian cho việc nghiên cứu kiến thức
dạy cho học sinh chỉ lệ thuộc vào sách hướng dẫn vì thế cũng không gây hứng
thú học tập và chưa đạt hiệu quả cao trong tiết dạy.
b) Đối với học sinh :
Đa số học sinh ở trường Tiểu học Thị Trấn là con nhà cán bộ, các em đều
chăm ngoan và có ý thức học tập tốt, ăn nói lễ phép, tiếp thu bài nhanh và có
tính kiên trì trong học tập.
3
%
34,4
Li dựng QHT khụng
ỳng
SL
2
%
6,8
Xut phỏt t thc t trờn, khi ging dy cu trỳc v cõu, giỏo viờn khụng
nghiờn cu k bi dy a ra c cỏch dy khoa hc, phự hp vi i tng
hc sinh, hoc khụng lng cỏc li sai cỏc em thng mc phi trong quỏ trỡnh
dy thỡ cỏc em s khụng t nhn ra li sai v t ú s khụng t phõn bit c
nh th no l cõu sai, cõu ỳng. Chính vì vậy tôi đã nghiên cứu các tài liệu cng
vi s tham kho kinh nghim ca cỏc ng nghip v a ra c mt s bin
phỏp nhằm nâng cao kỹ năng viết câu đúng cho học sinh lớp 5 tạo nền tảng cho
các em học tốt tiếng việt ở các lớp trên và mnh dn trong khi giao tiếp .
III. Gii phỏp v t chc thc hin
4
Trong chương trình bậc Tiểu học, kiến thức về câu thường được bố trí rất
khiêm tốn, phần lớn là lồng ghép khi dạy nội dung các tiết ở các phân môn trong
bộ môn Tiếng Việt. Chính vì vậy khi giảng dạy về cấu trúc câu, giáo viên cần
nghiên cứu kĩ bài dạy, tham khảo tài liệu để đưa ra được cách dạy khoa học, phù
hợp với mọi đối tượng học sinh thì các em sẽ không phân tích chính xác các bộ
5
Các danh từ, động từ, tính từ trong câu cũng có thể có thành phần phụ.
Những từ ngữ nêu ra chi tiết, ý cụ thể thêm cho sự vật được nêu ở danh từ trong
câu. Danh từ có thể có thành phần phụ trước hoặc sau thành phần phụ đứng
trước chỉ về số lượng, khối lượng, còn thành phần phụ đứng sau chỉ đặc điểm
riệng của danh từ.
Ví dụ :
29 học sinh lớp 5C (trong cụm danh từ này học sinh là danh từ trung tâm
còn 29 là thành phần phụ chỉ về số lượng, lớp 5C là thành phần phụ đứng sau
học sinh phân biệt với các học sinh của lớp khác).
Còn những từ ngữ nêu chi tiết, ý cụ thể thêm cho hành động, trạng thái,
tính chất của động từ và tính từ trong câu gọi là thành phần phụ của cụm động
từ và tính từ.
Ngoài hai thành phần chính, câu còn có một thành phần phụ thường đứng
ở đầu câu, bổ sung ý nghĩa về tình huống câu gọi là trạng ngữ. Trạng ngữ có thể
chỉ thời gian, nơi chốn, mục đích, nguyên nhân, phương tiện, ….
Ví dụ:
Sáng nay, / em / làm bài tập Tiếng Việt.
TN
CN
VN
Để giúp học sinh nắm vững phần này, tôi thường cho các em nắm vững lí
thuyết sau đó vận dụng làm bài tập với các dạng sau:
Dạng 1: Yêu cầu chỉ ra các thành phần câu (chủ ngữ và vị ngữ)
a) An hát rất hay.
b) Học sinh khối 4,5 đang lao động.
c) Rất đẹp hình anh lúc nắng chiều.
Ngoài quan hệ ngữ pháp, tôi còn giúp cho học sinh hiểu rõ hơn về quan hệ
ý nghĩa giữa chủ ngữ, vị ngữ như:
+ Chủ ngữ gọi tên sự vật (người, vật, sự việc ) còn vị ngữ miêu tả hoạt
động của sự việc đó.Vì vậy cần xác định đúng ranh giới giữa chủ ngữ và vị
ngữ. Từ những vấn đề trên tôi giúp học sinh đi sâu vào từng trường hợp cụ
thể như sau:
Tôi đưa ra 2 ví dụ:
Ví dụ 1:
Em hãy xác định ranh giới chủ ngữ và vị ngữ trong câu sau:
-Những chú chim họa mi đậu trên cành cây cất tiếng hót líu lo.
+ Một số học sinh cho rằng:
Những chú chim// họa mi đậu trên cành cây cất tiếng hót líu lo.
(1)
CN
VN
+ Một số khác cho rằng:
Những chú chim họa mi //đậu trên cành cây cất tiếng hót líu lo.
(2)
CN
VN
Từ hai ý kiến trên của học sinh, tôi đã hướng dẫn tìm ra cách xác định nào
là đúng. Trước hết, tôi yêu cầu học sinh dựa vào quan hệ giữa chủ ngữ, vị ngữ ta
thấy rằng: Nhũng chú chim có thành phần phụ kèm theo là đậu trên cành câycụ
thể hóa ý nghĩa cho danh từ trung tâm, cụm từ “đậu trên cành cây” trả lời cho
câu hỏi : “ những chú chim họa mi nào?” như vậy cách làm (2) là đúng.
7
Ví dụ 2
sẽ thiếu thông tin) còn vị ngữ là một trong hai thành phần chính của câu (là
thành phần không thể thiếu trong câu ).
Thành phần phụ trong cụm danh từ còn có nhiệm vụ hạn định, cụ thể
hoá ý nghĩa cho danh từ trung tâm còn vị ngữ nêu nội dung thông báo do chủ
ngữ biểu thị.
Vì vậy, trong ví dụ trên “về đích trước tiên” chỉ là thành phần phụ đứng
sau cụm danh từ và chính cả cụm danh từ đó mới được coi là chủ ngữ của câu.
8
Với cách giảng dạy cặn kẽ như trên nên học sinh rất dễ hiểu bài, hiểu một
cách thấu đáo về cách phân tích chủ ngữ, vị ngữ trong câu, kết quả học tập của
học sinh tiến bộ rõ rệt.
Sau khi học sinh nắm vững lý thuyết và cách làm tôi cho học sinh làm thêm các
dạng bài tập sau để học sinh khắc sâu kiến thức và các bước làm.
Dạng 2: Kết hợp, thêm các thành phần câu hoặc quan hệ từ để tạo thành
câu
Dạng bài tập này yêu cầu các em kết hợp các thành phần câu ,thêm các thành
phần câu để tạo câu.
Để làm được các dạng bài tập này, các em phải xác lập được sự phù hợp về
nghĩa giữa chủ ngữ và vị ngữ; giữa trạng ngữ và vế câu; giữa các thành phần
phụ với danh từ , động từ , tính từ.
Chẳng hạn đề bài yêu cầu ghép từng bộ phận chủ ngữ ở bên trái với bộ phận
vị ngữ ở bên phải để tạo thành câu; ghép từng trạng ngữ ở bên trái với vế câu
thích hợp bên phải.
Các ví dụ nhiều đáp án sẽ tạo ra độ khó và thú vị của các bài tập dạng này.
Ví dụ 1:
Cho vế câu thứ nhất “ trời mưa”, tìm các cặp từ hô ứng và vế câu thứ hai để
tạo thành các câu ghép khác nhau.
Trước hết tôi yêu cầu học sinh nhớ lại phần lý thuyết vế cặp từ hô ứng sau
- Bước 3: Kiểm tra lại các thành phần câu.
Từ phía chân trời, /mặt trời buổi sớm / đang từ từ mọc lên.
TN
CN
VN
*Khác với dạng bài thứ nhất ở dạng bài tập này mức độ khó hơn học sinh khá,
giỏi có thể tiếp cận nhanh nhưng đối với học sinh đại trà tôi đã yêu cầu học sinh
làm thêm nhiều dạng bài này để khắc sâu các bước, chấm chữa tay đôi với học
sinh .
Dạng 3: Đặt câu với từ, cụm từ giữ chức vụ ngữ pháp đã cho.
Những bài tập yêu cầu đặt câu với từ , cụm từ là những bài tập mở , có
nhiều đáp án thường trong đề người ta thêm yêu cầu quy định chức vụ ngữ pháp
của từ , cụm từ để đặt câu.
Ví dụ : Đặt ba câu với yêu cầu
a) Một câu có cụm từ” năm nay” là bộ phận trạng ngữ;
b) Một câu có cụm từ “ năm nay” là bộ phận chủ ngữ;
c) Một câu có cụm từ “ là năm nay” là bộ phận vị ngữ.
*Đối với dạng bài tập này tôi hướng dẫn như sau:
- HS nêu yêu cầu:
- HS làm bài cá nhân
- 1 HS làm phiếu lớn
- HS nêu kết quả
- Dán bài làm phiếu lớn trên bảng cho hS nêu lại cách làm .HS nhận xét.
- Sau đó GV có thể dán một bài đã làm mẫu cho HS quan sát lại cách trình
bày .
- Câu có cụm từ “năm nay” là thành phần trạng ngữ:
Năm nay , em sẽ cố gắng học giỏi.
- Câu có cụm từ “ năm nay” là thành phần chủ ngữ:
Năm nay là năm Ất Mùi.
- Câu có cụm từ “là năm nay” là thành phần vị ngữ:
-Bước 2: HS sửa lại từ . (xung phong)
-Bước 3: HS viết lại :Chúng tôi xin xung phong.
Ví dụ 2 :
Vườn nhà em có nhiều cây lá xanh xao.
Tương tự các bước làm trên yêu cầu HS trình bày từ dùng sai.
Từ sai từ xanh xao (Chỉ đi với danh từ chỉ người)
Cách sửa:
Vườn nhà em có nhiều cây lá tươi tốt.
11
Đặc biệt phổ biến hơn cả là loại lỗi về câu, tức là loại câu xây dựng không
đúng quy tắc. Người giáo viên ngoài việc dạy cho học sinh viết đúng ngữ pháp
còn phải giúp các em biết phát hiện và chữa câu sai. Việc tránh câu sai, sữa chữa
câu sai góp phần giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt ngày càng chuẩn mực, đủ
sức thể hiện những tư tưởng khoa học của loài người ngày càng phát triển.
2.2. Lỗi thiếu thành phần câu
a) Câu thiếu chủ ngữ
Câu thiếu chủ ngữ xuất hiện nhiều các em chỉ quan tâm đến việc diễn tả
những hoạt động, tính chất, trạng thái của đối tượng. Do vậy các em viết câu
không có thành phần chủ ngữ. Đây là loại phổ biến, thường gặp nhất. Loại lỗi
này chiếm 60% trong những loại lỗi về câu.
Ví dụ:
Qua truyện “ Hươu và Rùa”cho ta thấy tình bạn giữa Hươu và Rùa rất
đẹp.
Câu trên do quan hệ từ mở đầu nên mới chỉ có trạng ngữ mà người viết
nhầm tưởng là chủ ngữ. Phần đi sau là vị ngữ.
Có thể biểu thị qua sơ đồ sau:
Tr( qua…)
Tiếng Việt, các tổ hợp này thường đóng vai trò trạng ngữ, không thể gánh chức
năng cấu trúc cơ bản của câu. Bởi vậy câu vẫn chưa xác lập được cấu trúc cơ
bản.
Ví dụ : Khi mùa hè đến
Câu trên chỉ có một trạng ngữ nên còn thiếu nòng cốt câu.
Cách chữa:
+ Cách 1: Bỏ quan hệ từ “khi” . Câu mới sẽ là: Mùa hè đến.
+ Cách 2: Thêm chủ ngữ, vị ngữ để tạo câu mới.
Khi mùa hè đến , ve kêu râm ran suốt cả ngày.
d) Câu dùng quan hệ từ không đúng.
-Trong trường hợp này dùng cặp quan hệ từ không phù hợp với nội dung
trong từng vế câu.
Ví dụ :
a) Tuy Minh đau chân nhưng bạn phải nghỉ học.
b) Vì sóng to nên thuyền không bị đắm.
Cho HS nêu lại ý nghĩa của cặp quan hệ từ tuy- nhưng ; vì –nên sau đó học
sinh sửa lại.
Câu a.
- Cách 1 : Thay cặp từ chỉ quan hệ
Vì Minh đau chân nên bạn phải nghỉ học.
-Cách 2: ( Thay từ phải bằng từ không, sửa lại nội dung)
Tuy Minh đau chân nhưng bạn không nghỉ học.
Câu b.
- Cách 1: ( Thay cặp từ chỉ quan hệ)
Tuy sóng to nhưng thuyền không bị đắm.
- Cách 2: ( bớt từ không, thay đổi nội dung)
Vì sóng to nên thuyền bị đắm.
đ) Câu dùng các từ ngữ kết hợp chưa hợp lí
13
+ Cách 1: Bỏ từ “tác giả”
Câu chuyện ấy muốn khuyên chúng ta phải có tấm lòng nhân hậu .
+ Cách 2: Bỏ cụm danh từ” câu chuyện ấy”
Tác giả muốn khuyên chúng ta phải có tấm lòng nhân hậu .
+Cách 3: Biến “câu chuyện ấy” thành trạng ngữ bằng cách thêm từ “ qua”:
Qua câu chuyện ấy tác giả muốn khuyên chúng ta phải có tấm lòng nhân
hậu .
14
2.4. Câu không phân định rõ thành phần:
- Đây là những câu về cấu tạo, chúng ta khó xác định được các bộ phận câu
kết hợp với nhau theo quan hệ ngữ pháp nào, từ đó rất khó xác định được các
thành phần câu.Về ý nghĩa, mối quan hệ ý nghĩa giữa các bộ phận câu cũng
không rõ ràng chính xác.
- Nguyên nhân của loại lỗi này là các em nhớ từ nào, cụm từ nào là viết
ngay vào bài, không tìm cách tổ chức sắp xếp, liên kết các từ, các cụm từ một
cách hợp lý để diễn đạt một cách rõ ràng nội dung mà mình cần diễn đạt.
Ví dụ : Cây bàng hàng ngày em thường ngồi ôn bài.
+ Câu trên sai do học sinh sắp xếp các thành phần chủ ngữ, vị ngữ, trạng
ngữ không hợp lý. Điều này làm cho câu khó hiểu, vô nghĩa và không rõ các
thành phần ngữ pháp.
+ Nguyên nhân do học sinh nắm không vững trật tự các thành phần trong
câu.
+Cách chữa: Sắp xếp lại các thành phần.
Hàng ngày, em thường ngồi ôn bài dưới gốc cây bàng này.
Từ thực trạng trên có thể gặp một số câu sai như trên tôi đã hướng dẫn học
sinh tìm ra lỗi của câu sai và sửa câu sai thành câu đúng .
3. Hướng dẫn học sinh cách sửa câu sai thành câu đúng
Bước 2: Phân tích câu sai vì mới chỉ có 1 vế câu và một quan hệ từ )
Bước 3 : Bổ sung(Thêm một vế câu và 1 quan hệ từ)
Câu được sửa lại là: Tuy vườn nhà em nhỏ bé và không có cây ăn quả
nhưng mẹ em trồng được rất nhiều loại rau xanh.
Ví dụ 3: Khi những hạt mưa đầu xuân nhè nhẹ rơi trên lá non.
Bước 1: Phát hiện câu thiếu thành phần.
Bước 2: Phân tích
Khi những hạt mưa đầu xuân nhè nhẹ rơi trên lá non.
TN
Bước 3: Bổ sung chủ ngữ, vị ngữ hoặc bỏ tư “khi”
Cách sửa:
Cách 1:
+ Bỏ từ khi
Những hạt mưa đầu xuân nhè nhẹ rơi trên lá non.
Cách 2
+ Thêm chủ ngữ, vị ngữ để tạo câu mới.
Khi những hạt mưa đầu xuân nhè nhẹ rơi trên lá non, cây cối trong vườn
lại thêm sức sống mới.
4. Hướng dẫn học sinh kĩ năng rèn luyện viết câu văn đúng và hay
Đối với học sinh Tiểu học để rèn cho học sinh có kĩ năng viết văn tốt, sau
khi cho các em phân biệt chính xác về các bộ phận trong câu, biết các dạng lỗi
về câu, tôi lại rèn cho các em cách viết câu thành thạo bằng cách rút gọn và mở
rộng câu.
Dạng 1: Rút gọn để tìm nòng cốt câu
Tìm bộ phận cốt lõi trong câu. Tìm động từ hoặc tính từ trung tâm làm vị
ngữ của câu . Từ đó chỉ ra được lỗi và cách sửa câu đang xem xét.
Để giúp các em nắm vững bộ phận làm nòng cốt trong câu, tôi thường
cho các em làm một số bài tập về các dạng sau:
Ví dụ: Rút gọn để tìm nòng cốt trong câu sau:
16
Để giúp học sinh nói đúng ngữ pháp giáo viên không chỉ hướng dẫn cho
các em trong phân môn Tiếng Việt mà cần luôn theo dõi uốn nắn cho các em
trong cả các tiết học khác như trả lời câu hỏi phải nói đủ câu, đủ ý hoặc kể cả
trong giờ sinh hoạt ngoại khóa, trong giờ chơi, …Bởi vì những lúc chơi là lúc
các em sử dụng lời nói một cách tự nhiên nhất giáo viên cần chú ý quan sát để
phát hiện những lỗi sai cho các em và kịp thời sửa chữa, đồng thời tạo cho học
sinh thói quen nói đúng ngữ pháp dù bất cứ nơi nào.
17
6. Kt hp vi ph huynh rốn luyn cho hc sinh vit v núi ỳng ng
phỏp.
Giỏo viờn cú th phi hp vi ph huynh ch ra cỏc li m cỏc em thng
mc phi nờu ra cỏch sa cỏc li sai ph huynh nm bt c, t ú to iu
kin thun li ph huynh hng dn con em khi nh.Ngoi ra cn nhc nh
ph huynh thng xuyờn chỳ ý li núi, din t ỳng cỏc em hc tp.Ph
huynh cn sỏt sao vi con em khụng ch v kin thc m cũn c cỏch trỡnh by
bi.
Trong quỏ trỡnh nghiờn cu, th nghim v tớch cc tỡm tũi phng phỏp
cho hc sinh nhn bit v s dng cõu ỳng, tri qua mt thi kỡ ụn tp cựng
thi gian ỏp dng phng phỏp nghiờn cu, tụi ó tin hnh kho sỏt xem s
chuyn bin ca hc sinh sau khi cỏc em c hc theo phng phỏp tụi dy.
bi kho sỏt
1. Tìm từ dùng sai trong từng câu dới đây và sửa lại cho đúng.
a) Chúng ta cần tố cáo những khuyết điểm của bạn để giúp nhau cùng tiến bộ.
b) Một không khí nhộn nhịp bao phủ thành phố.
2. Cú th vit cỏc cõu nh di õy c khụng? Vỡ sao?
a) Ngy mai lp ta i lao ng trng cõy ci .
b) Bỏc nụng dõn ang cy rung nng.
%
10,3
SL
2
%
6,8
SL
/
%
/
Với kết quả khảo sát này cho thấy rõ các em đã có tiến bộ vượt bậc so với
lúc chưa áp dụng đề tài. Điều này chứng tỏ phương pháp giúp học sinh nhận biết
và sử dụng câu đúng rất quan trọng. Nó góp phần quyết định rất nhiều đến kết
quả học tập của học sinh. Học sinh phân tích chủ ngữ, vị ngữ một cách chính
xác nhất mà không hề bị nhầm lẫn với các bộ phận phụ khác trong câu. Đặc biệt
trong khi làm các bài tập về xác định các thành phần câu học sinh không bị
nhầm lẫn động từ với thành phần phụ trong cụm danh từ. Các em có thể vận
dụng kiến thức đã học về câu để viết những câu văn đúng về mặt nội dung, hoàn
chỉnh về mặt ngữ pháp. Học sinh tích cực học tập, học một cách tự giác, làm bài
nhanh, trình bày bài sạch, đẹp tiết kiệm được thời gian cho cả học sinh và giáo
viên và các em yêu thích môn Tiếng Việt. Khi học sinh đã nắm chắc kiến thức
về câu trong khi trả lời câu hỏi của các môn học khác các em nói đủ câu, đủ ý,
trong giao tiếp các em tự tin, mạnh dạn hơn. Sáng kiến này có thể vận dụng một
cách linh hoạt. Tuy nó không thay thế hoàn toàn những phương pháp cũ để tìm
nói chung.
Xuất phát từ kinh nghiệm bản thân khi nghiên cứu bài dạy tôi xin đưa ra
giải pháp mà tôi đã đúc kết được trong thực tế giảng dạy và đã mang lại hiệu quả
thiết thực. Hi vọng rằng với chút ít kinh nghiệm này ít nhiều sẽ góp phần vào
quá trính giảng dạy và học tập của đồng nghiệp và của học sinh hoặc đó sẽ là cơ
hội để các đồng nghiệp khác góp ý cho kinh nghiệm này ngày càng hoàn thiện
hơn nữa.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG
ĐƠN VỊ
Nga Sơn, ngày 15 tháng 4 năm 2015
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình
Không sao chép nội dung của người khác.
Người thực hiện
Mai Thị Thảo
20