Sử dụng ảnh minh họa trong giảng dạy một số tác phẩm Ngữ văn 9, ở Trường THCS Nga An - Pdf 40

A. ĐẶT VẤN ĐỀ
Chúng ta đang sống trong thời đại Hội nhập và phát triển; thời đại Công
nghiệp hoá - Hiện đại hoá, nền công nghệ thông tin đang phát triển như vũ bão,
nên rất cần có những con người mới đáp ứng được những yêu cầu của xã hội.
Đó là những con người chủ động, năng động, sáng tạo, có kiến thức hiểu biết
trong mọi lĩnh vực, tích cực trong công việc và trong cuộc sống. Vì vậy, đổi mới
phương pháp giáo dục là một việc làm rất cần thiết.
Thực tế, ở nước ta, Bộ giáo dục và Đào tạo đã tiến hành từng bước đổi
mới phương pháp giáo dục: Chương trình thay SGK trung học cơ sở đến nay đã
thực hiện được 13 năm (từ năm học 2002 - 2003) gắn liền với việc không ngừng
đổi mới phương pháp dạy học, với mục đính hướng học sinh đến những yêu cầu
của giáo dục thời đại mới.
Việc đổi mới phương pháp giáo dục phổ thông gắn liền với đổi mới điều
kiện và phương tiện, thiết bị dạy học. Vì như chúng ta đã biết: phương tiện dạy
học góp phần không nhỏ vào việc thực hiện mục tiêu, yêu cầu dạy học Ngữ văn,
hỗ trợ việc triển khai bài học, làm tường minh các khái niệm trừu tượng, giúp
quá trình lĩnh hội của học sinh nhanh và hiệu quả hơn, tạo môi trường trực quan,
sinh động.
Trong quá trình giảng dạy, phương pháp được xem là biện pháp phát huy
tối đa tính hiệu quả của quá trình dạy học. Tùy vào từng môn học mà người dạy
lựa chọn phương pháp thích hợp nhằm đem lại hiệu quả cao cho người học. Đối
với môn Ngữ văn, lâu nay người dạy vẫn thường dùng phương pháp thuyết
trình, diễn giải là chính. Với những hình ảnh minh họa trong sách giáo khoa, thì
cũng chủ yếu cho học sinh quan sát, rồi hỏi xem nội dung bức tranh trên nói gì,
rồi mô phỏng dưới dạng ngôn ngữ, mang tính chất trừu tượng. Hơn nữa, những
bức ảnh trong sách là ảnh đen trắng, nên học sinh khó cảm nhận hết được cái
hay, cái đẹp của bức tranh chính là cảm hứng sáng tác những áng văn, vần thơ
của tác giả. Điều đó cho thấy việc lĩnh hội kiến thức văn học cho học sinh nặng
về lí thuyết hơn là việc xen kẽ những hình ảnh có thật, với sự tưởng tượng sinh
động đã khơi cảm xúc trong tâm hồn tác giả khi sáng tác nên những tác phẩm
văn học. Mặt khác, học sinh cũng không cảm nhận được những hình ảnh rất gần

với một tác giả, với rất nhiều cảm xúc được khơi nguồn từ những hình ảnh để
sáng tác những áng văn, vần thơ... Trong khi học tác phẩm, hình ảnh minh họa
cho văn bản, cả giáo viên và học sinh đều không biết, chưa thấy, hoặc hình dung
một cách chung chung. Với một số tác phẩm gần gũi với cuộc sống thì dễ thấy,
nhưng cũng chỉ được một vài hình ảnh minh họa mà chủ yếu là rơi vào những
tiết thao giảng, liên quan đến máy chiếu, chuẩn bị mất nhiều thời gian của giáo
viên, chưa kể với một số giáo viên việc thông thạo lắp đặt, khai thác hình ảnh
nghệ thuật đang còn hạn chế. Qua thực tế giảng dạy, học sinh khi học tác phẩm
có hình ảnh minh họa cho tác phẩm được giáo viên giới thiệu cho học sinh nhìn
thấy, biết những hình ảnh mà người viết đã xúc cảm viết nên tác phẩm, sẽ làm
cho các em tạo được sự hứng thú, tâm thế tốt cho việc tiếp thu, lĩnh hội nội dung
tác phẩm được tốt hơn.
2. Là người giáo viên có tâm huyết với nghề, khi tâm sự với đồng nghiệp
dạy Văn về việc làm và sử dụng phương tiện - đồ dùng dạy học, trong việc giới
thiệu một số hình ảnh minh họa cho tác phẩm. Có giáo viên đã nhận định rằng:
“Ngay thầy cô còn chưa biết hình ảnh đó như thế nào chứ nói gì đến học
sinh?...” Câu nói đó khiến tôi băn khoăn suy nghĩ, và phần nào phản ánh thực
trạng sử dụng thiết bị - đồ dùng dạy - học môn Ngữ văn ở một số trường THCS.
Điều đó đã thôi thúc tôi suy nghĩ, tìm tòi trong việc sử dụng đồ dùng dạy học
các tác phẩm văn học không chỉ ở lớp 9, mà còn cả ở các khối lớp 6,7,8. (Qua
việc truy cập vào Thư viện điện tử trên Internet).
II. Thực trạng của vấn đề nghiên cứu.
1. Thực trạng.
Nhiều năm trực tiếp giảng dạy môn văn trong nhà trường trung học cơ sở
tôi nhận thấy:
1.1. Theo xu thế hiện nay học sinh không thích học Ngữ văn, kỹ năng viết
văn yếu, viết sai chính tả, lỗi diễn đạt, lỗi trình bày, viết hoa, viết tắt tùy ý…
1.2. Do nhiều yếu tố khách quan nên việc sử dụng phương tiện, thiết bị
giảng dạy trong dạy học Ngữ văn gần như bị lãng quên. Giáo viên thường dạy
chay với lối đọc chép cho học sinh hoặc độc thoại trên lớp, học sinh tiếp thu

2.1. Việc làm và sử dụng đồ dùng dạy học của giáo viên dạy môn Ngữ
văn.
- Hầu hết các giáo viên đều làm đồ dùng dạy học, nhưng chủ yếu là mô phỏng
lại, hoặc phóng to ảnh đen trắng ở trong sách giáo khoa, nên chất lượng không
được rõ nét.
- Việc sử dụng đồ dùng dạy học: Khảo sát 3 tiết dạy Văn bản ở lớp 9 thì tôi thấy
có 1 tiết sử dụng ảnh minh họa cho tác phẩm để giới thiệu cho học sinh, còn 2
tiết không sử dụng.
+ Cụ thể qua khảo sát chất lượng học sinh của lớp 9B và 9C cùng một bài học
không sử dụng ảnh minh họa như sau:
Lớp SS Điểm giỏi
Điểm khá
Điểm TB
Điểm yếu
Điểm kém
9B

29

9C

31

SL
1

%
3,4

SL

Điểm TB
Điểm yếu Điểm kém
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
9A 33
4
12,1 13 39,3 15 45,6
1
3,0
- Từ thực trạng trên, để góp phần nâng cao chất lượng dạy - học văn trong nhà
trường THCS, tôi đã thực hiện “Sử dụng ảnh minh họa trong giảng dạy một

4


số tác phẩm Ngữ văn 9, ở Trường THCS Nga An” và áp dụng vào việc giảng
dạy để từng bước nâng cao chất lượng dạy của giáo viên và kết quả học tập của
học sinh.
III. Giải quyết vấn đề.
1. Các giải pháp.
1. Thống kê tác phẩm văn học hiện đại Việt Nam trong chương trình Ngữ văn 9.
2. Sưu tầm tài liệu.

6 Ánh trăng
Nguyễn Duy
58
7 Mùa xuân nho nhỏ
Thanh Hải
116
8 Viếng lăng Bác
Viễn Phương
117
9 Sang thu
Hữu Thỉnh
121
10 Những ngôi sao xa xôi
Lê Minh Khuê
141,142
2.2. Sưu tầm tài liệu: Ảnh minh họa tác phẩm, Tư liệu về tác phẩm đã
thống kê ở trên.
- Sưu tầm bằng nhiều cách: bản thân tự tìm kiếm, thống kê qua bạn bè, đồng
nghiệp…
- Có thể tìm kiếm những thông tin ở các tài liệu sách báo, Tạp chí Văn học và
tuổi trẻ, sách giáo khoa, tài liệu, qua Internet, báo Giáo dục và thời đại, Tạp chí
của hội Nhà văn…
2.3. Xử lí thông tin tài liệu.
a, Ảnh minh họa.
- Dùng điện thoại di động có chức năng chụp ảnh, dùng máy ảnh Kỹ thuật số…
chụp ảnh minh họa, sau đó đưa vào máy tính để chỉnh sửa.
- Vào trang web, kho tư liệu “các nhà văn, nhà thơ” tìm các tác giả, tác phẩm,
sau đó Download về máy tính của mình để chỉnh sửa.
- Các ảnh minh họa cho tác phẩm tìm sẽ được chỉnh sửa trên chương trình.
Photoshop theo yêu cầu, kích cỡ tuỳ chọn cho phép: rõ nét, song vẫn giữ được

+ Theo Phân phối chương trình.
Ví dụ: Phong cách Hồ Chí Minh của Lê Anh Trà.
Ở đây, tôi sắp xếp theo trình tự thứ hai để khi dạy các tác phẩm theo phân phối
chương trình, giáo viên có thể lần lượt tìm và giới thiệu với học sinh một cách
dễ dàng.
3. Tính hiệu quả của đồ dùng dạy học.
3.1. Giá thành sản phẩm không cao.
3.2. Không khó tìm và dễ sưu tầm. Những người chịu khó sưu tầm thì có
thể tìm được không chỉ ở phần văn học khối 9 mà có thể ở các khối khác.
3.3. Đồ dùng dạy học này có thể sử dụng ở nhiều bài, nhiều tiết. (cụ thể
sử dụng ở tiết 1,2 lớp 9 bài Phong cách Hồ Chí Minh của Lê Anh Trà; sử dụng
trong tiết 93 lớp 7, Đức tính giản dị của Bác Hồ, tác giả Phạm Văn Đồng). Sử
dụng trong thời gian dài vì đã được lưu trong máy tính. (có những tiết có thể dạy
trên máy chiếu).
* Năm học 2014-2015, tôi chủ yếu sử dụng việc giới thiệu ảnh minh họa trong
máy tính bảng, trong bản in màu cho hình ảnh chân thật, sinh động, rõ nét; khi
cần để minh họa mà không dùng máy chiếu, vừa tiện lợi, vừa chủ động (chưa kể
6


ở trường THCS Nga An thì máy chiếu đã bị hỏng). Còn ảnh minh họa trên máy
sẽ được sử dụng trong những tiết thao giảng, sinh hoạt cụm chuyên môn, thì kết
hợp được cả chân dung tác giả và một số hình ảnh khác…
3.4. Giá trị sử dụng của đồ dùng dạy học này rất thiết thực.
Khi học tác phẩm mà học sinh biết được ảnh minh họa chân thực về tác
phẩm đó. Việc nhận thức qua hình ảnh trực quan sẽ góp phần trong sự liên
tưởng, tưởng tượng, tạo cảm hứng thẩm mĩ, tạo hứng thú cho học sinh khi tìm
hiểu tác phẩm của tác giả đó. Do đó chất lượng của giờ dạy đạt hiệu quả hơn.
4. Một số ví dụ về việc “Sử dụng ảnh minh họa trong giảng dạy một
số tác phẩm Ngữ văn 9, ở trường THCS Nga An” như sau:

8


(Ảnh này có thể sử dụng khi dạy bài
Những ngôi sao xa xôi của Lê Minh
Khuê, tiết 141,142; kết hợp với giáo
viên hát bài Cô gái mở đường của
nhạc sĩ Xuân Giao).

4. Bài thơ Đoàn thuyền đánh cá của Huy Cận, tiết 51,52 sử dụng hình
ảnh:

Đây là hai hình ảnh minh họa cho hai câu thơ đầy tính nghệ thuật Mặt trời
xuống biển như hòn lửa và Mặt trời đội biển nhô màu mới. Giúp học sinh cảm
nhận được cảm hứng về thiên nhiên, vũ trụ và cảm hứng về lao động sản xuất đã
tạo nên những hình ảnh đẹp tráng lệ, giàu màu sắc lãng mạn của bài thơ.
9


5. Bài thơ Bếp lửa của Bằng Việt, tiết 56,57. Bên cạnh hình ảnh trong
sách giáo khoa, sử dụng hình ảnh để minh họa cho đoạn thơ:
Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm,
Nhóm niềm yêu thương, khoai sắn ngọt bùi,
Nhóm nồi xôi gạo mới sẻ chung vui,
Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ...
Ôi kỳ lạ và thiêng liêng – bếp lửa!
Từ đó, giúp học sinh cảm
nhận được những cảm xúc chân
thành của nhân vật trữ tình người
cháu và hình ảnh người bà giàu

sau một thời gian làm việc,
học tập căng thẳng và mệt
nhọc. Bởi ở đó có khung cảnh
thiên nhiên tươi đẹp, khí hậu
trong lành, mát mẻ, dễ chịu…
Không những thế, ở Sa Pa còn
có cả những con người đang
từng ngày, từng giờ, sống, làm
việc và cống hiến hết mình
cho quê hương, đất nước.
9. Bài thơ Mùa xuân nho nhỏ của Thanh Hải, tiết 116 sử dụng hình ảnh:

11


Những hình ảnh, cùng với cảm xúc của tác giả trước mùa xuân của thiên
nhiên, mùa xuân của đất nước và khát vọng đẹp đẽ muốn làm một mùa xuân nho
nhỏ dâng hiến cho cuộc đời của một nhà thơ yêu quê hương, yêu đất nước với
những tín hiệu rất Huế đã tạo cảm xúc cho thi phẩm để đời của tác giả.

10. Bài thơ Sang thu của Hữu Thỉnh, tiết 121 sử dụng hình ảnh:

Từ những hình ảnh gần gũi, mộc mạc, giản dị nơi làng quê Bắc Bộ, bằng
những rung động thẩm mĩ, những cảm nhận tinh tế của tác giả trước sự biến đổi
của thiên nhiên và đất trời từ cuối hạ sang đầu thu, với những tín hiệu mà chỉ có
thi nhân mới cảm nhận hết được qua hương ổi, gió se, sương chùng chình đã cho
chúng ta cảm nhận được một bức tranh thu đầy thi vị, trong cái chủ đề tưởng
như là đã cũ này lại có một cái gì rất mới.

12

học sinh vào bài: Với nhà thơ Viễn Phương – một người con ưu tú của miền
Nam thân yêu, lần đầu tiên được ra thăm miền Bắc và được vào lăng viếng Bác,
thì cảm xúc ở trước lăng là những hình ảnh làn sương, hàng tre xanh đã khơi
nguồn cảm xúc để tác giả sáng tác nên bài thơ xúc động về Bác, mời các em
cùng cảm nhận.

13


Những hình ảnh này được sử dụng nhiều lần trong quá trình giảng bài.
Hoạt động của thầy và trò
Nội dung cần đạt
HĐ 2
I. Tìm hiểu chung.
? Giới thiệu tác giả?
1. Tác giả.
? Hoàn cảnh ra đời bài thơ?
2. Tác phẩm.
- Giọng thành kính xúc động, chậm
rãi càng ngày càng dâng cao, đoạn
cuối tha thiết.
? Tâm trạng của nhà thơ được diễn tả
theo trình tự thời gian và không gian
nào?
- Hai khổ đầu.
- Cảm xúc trước lăng Bác.
+ Khổ thứ ba.
- Cảm xúc trong lăng Bác.
+ Khổ thứ tư.
- Cảm xúc khi rời lăng Bác.

? Vì sao, ấn tượng đầu tiên với con - Những hàng tre được trồng quanh
lại là hàng tre nơi lăng Bác?
lăng Bác tạo cảm giác gần gũi thân
thuộc.
? Tính từ xanh xanh và thành ngữ - Vẻ đẹp thanh cao và sức sống bền
bão táp mưa sa trong lời thơ Ôi!... bỉ, mãnh liệt của cây tre Việt Nam.
hàng có sức diễn tả điều gì?
? Trong thơ ca, hình ảnh cây tre Việt - Tượng trưng cho vẻ đẹp hiền hậu và
Nam còn mang ý nghĩa ẩn dụ nào?
đức tính đoàn kết, kiên cường của con
người Việt Nam trong cuộc sống lao
động và chiến đấu.
? Ý nghĩa của thánh từ ôi trong lời - Bộc lộ trực tiếp cảm giác thương
thơ này?
mến, tự hào đối với đất nước và dân
- Theo dõi khổ thơ thứ hai:
tộc.
? Có những mặt trời nào xuất hiện?
- Mặt trời củ vũ trụ: Ngày... lăng.
- Mặt trời của con người: Thấy... đỏ.
? Ý nghĩa ẩn dụ của hình ảnh mặt trời - Con người Bác với những biểu hiện
thứ hai là gì?
sáng chói về tư tưởng yêu nước và
lòng nhân ái mênh mông có sức toả
sáng mãi mãi, cho dù Người đã qua
đời.
? Vì sao, có thể tạo một ẩn dụ như - Bản thân nhân cách và cuộc đời
thế?
sáng chói của Bác Hồ.
+ Tình cảm ngưỡng vọng vốn có của

vẹn cuộc đời cho cuộc sống bình yên
của nhân dân, đất nước.
+ Giấc ngủ của Bác bình yên trong
thương nhớ, ơn nghĩa của mọi người.
? Không thể có vầng trăng thật trong - Cuộc đời Bác rực sáng như mặt trời
lăng, nhưng tại sao người con vẫn nhưng cách sống của Bác, tâm hồn
hình dung giấc ngủ của Bác giữ... Bác hiền hậu, thanh cao như ánh
hiền?
trăng.
+ Sinh thời, Bác là người thích sống
gần gũi với thiên nhiên. Thơ Bác
nhiều trăng. Trăng với Bác như bạn .
+ Đó là lí do để tác giả liên tưởng đến
giấc ngủ trong vầng trăng của Bác.
? Những hình ảnh thơ ấy được sáng - Bằng trí tưởng tượng, bằng sự thấu
tạo bằng trí tưởng tượng hay bằng hiểu và yêu quý những vẻ đẹp trong
điều gì khác nữa?
nhân cách của Bác.
? Trong lời thơ tiếp theo xuất hiện - Trời xanh là mãi mãi.
hình ảnh ẩn dụ. Đó là hình ảnh nào?
? Ý nghĩa ẩn dụ của hình ảnh này là - Công đức của Bác đối với mọi
gì?
người là cao đẹp vĩnh hằng.
- Cuộc đời Bác vốn cao đẹp như thế
? Vì sao tác giả lại có được ẩn dụ đó? trong cảm nhận của con người.
- Từ nhói.
? Từ nào trong lời thơ Mà... tim thể
hiện trực tiếp biểu cảm đó?
- Nhói là đau đột ngột, quặn thắt.
? Cảm nhận của em về lời thơ này + Nghe... tim là nỗi đau tinh thần.

+ Kết hợp tình cảm trực tiếp và tình
? Từ đó, tình cảm nào của nhà thơ cảm gián tiếp.
được bộc lộ?
- Ơn nghĩa chân thành và sâu nặng.
? Âm nhạc đã diễn tả lời thơ này như
thế nào
HĐ 4
III. Tổng kết.
? Bài thơ đã nói hộ lòng ta những 1. Nội dung.
tình cảm nào với Bác Hồ?
Lòng ngưỡng vọng, xót thương và ơn
? Em học tập được gì từ nghệ thuật nghĩa với Bác.
biểu cảm của tác giả?
2. Nghệ thuật.
Kết hợp miêu tả với biểu cảm, tạo
hình ảnh ẩn dụ tượng trưng.
D. Củng cố.
- Theo em vì sao bài thơ Viếng lăng Bác được phổ nhạc?
- Học thuộc lòng và diễn cảm bài thơ.
- Soạn bài Sang thu của Hữu Thỉnh.

17


6. Đánh giá.
Qua việc giảng dạy có sử dụng hình ảnh minh họa trong tác phẩm, tôi
thấy học sinh có hứng thú tiếp thu bài học, không chỉ thế còn khuyến khích được
ở các em biết sưu tầm những tư liệu, hình ảnh liên quan đến bài học, giúp cho
các em yêu mến môn văn hơn, đồng thời qua những hình ảnh trực quan giúp các
em nhớ bài sâu sắc hơn, bên cạnh những hình ảnh trừu tượng mà hội họa không

một số tác phẩm Ngữ văn 9, ở Trường THCS Nga An” và áp dụng vào việc
dạy thử nghiệm tại trường đã thu được kết quả như sau:
1. Đồ dùng dạy học.
Tập Sử dụng ảnh minh họa trong giảng dạy một số tác phẩm Ngữ văn
9, ở Trường THCS Nga An được áp dụng trong giảng dạy và được đồng
nghiệp đánh giá cao.
2. Áp dụng vào giảng dạy.
Đồ dùng dạy học này đã áp dụng dạy thực nghiệm và được Tổ xã hội áp
dụng trong việc làm đồ dùng cho các khối 6,7,8; cả phần tác phẩm Văn học hiện
đại Việt Nam và Văn học nước ngoài.
3. Kết quả cụ thể như sau:
a, Giáo viên: Số giáo viên sử dụng đồ dùng dạy học: Tập “Sử dụng ảnh
minh họa trong giảng dạy một số tác phẩm Ngữ văn 9, ở Trường THCS
Nga An” là 2/2 giáo viên, đạt hiệu quả đạt 100%. Nếu có trùng tiết, thì ảnh
minh họa có trong phần mềm ở máy tính bảng và cả ảnh đã được in, đề phòng
có sự cố là máy hỏng.
b, Học sinh:
* Kết quả khảo sát câu hỏi 1 của lớp 9B có sử dụng ảnh minh họa như sau:
Lớp Sĩ
Giỏi
Khá
TB
Yếu
Ghi chú
số SL
%
SL
%
SL
%

Trung
Giỏi
Khá
Yếu
Ghi chú
Tổng
bình
số
SL
%
SL
%
SL
%
SL %
93
17 18,2 43 46,2 32 34,6 1 1,0
Qua kết quả trên đã khẳng định sáng kiến làm đồ dùng dạy học: Tập “Sử
dụng ảnh minh họa trong giảng dạy một số tác phẩm Ngữ văn 9, ở Trường
THCS Nga An” mà tôi đưa ra là có giá trị thực tiễn.
19


C. KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT
1. Đối với tổ chuyên môn.
Tăng cường sử dụng đồ dùng dạy học và sử dụng có hiệu quả trong giờ
dạy–học văn.
Tích cực đổi mới phương pháp dạy học.
Nghiên cứu, làm đồ dùng dạy học đa dạng phong phú hơn và có giá trị
thiết thực.





Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status