MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Tôn giáo đang là một trong những vấn đề quan trọng mà từ trước đến
nay, Đảng và Nhà nước ta luôn luôn dành một sự quan tâm đặc biệt.
Nước ta với đặc điểm là một nước có nhiều dân tộc sinh sống, chính vì
đặc điểm này, vấn đề tôn giáo cũng trở nên phức tạp và nhạy cảm hơn. Hơn
nữa, vấn đề tôn giáo lại mang tính quốc tế. Bởi vậy mà đòi hỏi Đảng và Nhà
nước phải thực hiện vấn đề một cách khéo léo.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã rất coi trọng vấn đề tôn giáo.
Người đã coi đoàn kết tôn giáo là một trong những vấn đề quan trọng nằm
trong chiến lược đại đoàn kết dân tộc. Người đã từng nói: "Toàn thể đồng bào
ta, không chia Lương giáo, đoàn kết chặt chẽ, quyết lòng kháng chiến để giữ
gìn non sông, Tổ quốc, và cũng để giữ gìn tín ngưỡng tự do" [1, tr. 216].
Trong thời đại ngày nay, việc chủ nghĩa đế quốc đang đẩy nhanh, đẩy
mạnh "Diễn biến hòa bình" thì việc quan tâm, giải quyết vấn đề tôn giáo trở
nên vô cùng cần thiết. Để đánh đổ chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu,
trước đây, trong âm mưu của mình, chủ nghĩa đế quốc đã sử dụng rất hiệu quả
vũ khí tôn giáo để chia rẽ các nước xã hội chủ nghĩa rồi tiến đến làm sụp đổ
cả hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu. Chính vì vậy, để giữ vững chủ nghĩa
xã hội, chúng ta không được lơ là mất cảnh giác đối với thủ đoạn này của chủ
nghĩa đế quốc.
Ngày nay, xung đột sắc tộc và xung đột tôn giáo đang là những điểm
nóng của thế giới hiện đại. Nhiều quốc gia đã lâm vào khủng hoảng chính trịxã hội triền miên dẫn đến không thể phát triển được đất nước mà vẫn chưa thể
thoát khỏi tình trạng đó vì đã không làm tốt công tác tôn giáo. Đó là bài học
để Đảng và Nhà nước ta quan tâm và làm thật tốt công tác tôn giáo.
Là một sinh viên chuyên ngành Lịch sử Đảng, việc tìm hiểu công tác
tôn giáo của Đảng trong thời kỳ đổi mới (1990- 2007) có ý nghĩa lớn về mặt
1
trương, chính sách đó. Đồng thời giúp sinh viên nâng cao hiểu biết của mình
hơn về các chính sách, chủ trương của Đảng nói chung và các chính sách, chủ
trương của Đảng về vấn đề tôn giáo nói riêng và nhận ra rõ hơn chân tướng
của chủ nghĩa đế quốc và những âm mưu thâm độc của chúng để đề phòng.
4. Kết cấu của tiểu luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo,
tiểu luận gồm 2 chương, 6 tiết.
3
Chương 1
NGUỒN GỐC- TÍNH CHẤT- CHỨC NĂNG CỦA TÔN GIÁO
1.1. NGUỒN GỐC
Trong buổi bình minh của nhân loại, con người tiến hành sản xuất chủ
yếu là hái lượm những sản vật sẵn có trong tự nhiên. Tự nhiên đã đưa đến cho
họ những tai họa ngẫu nhiên, bất ngờ và đe dọa cuộc sống của họ hàng ngày
hàng giờ. Lúc này con người chưa đủ điều kiện để giải thích và chế ngự tự
nhiên. Ngược lại cuộc sống luôn đòi hỏi con người phải vượt qua khó khăn do
tự nhiên gây ra. Trong điều kiện đó, con người đã tìm đến tôn giáo, niềm tin
tôn giáo là động lực thúc đẩy con người vượt qua khó khăn và hướng tới một
cuộc sống mới.
Giai đoạn đầu, tôn giáo hoàn toàn sơ khai, chưa có tổ chức và giáo lý.
Họ thờ những vị thần đại diện cho sức mạnh của tự nhiên (sấm, sét, mưa,
gió…).Những sức mạnh của tự nhiên được nhân cách hóa và được con người
thờ phụng, cầu nguyện những sức mạnh siêu nhiên đó đem lại hạnh phúc cho
họ. Ngày nay các công trình nghiên cứu lịch sử tôn giáo cho thấy một số vùng
lột tận xương tủy giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Chủ nghĩa tư bản
"là thế lực bất cứ lúc nào trong đời sống của người vô sản và người tiểu chủ,
cũng đe dọa đem lại cho họ sự phá sản đột ngột, bất ngờ, ngẫu nhiên, làm cho
họ phải diệt vong, biến họ thành người ăn xin, kẻ bần cùng, người mãi dâm, và
dồn họ vào cảnh chết đói, đó chính là gốc rễ sâu xa của tôn giáo hiện đại" [2, tr.
287]. Ngay từ khi chủ nghĩa tư bản ra đời, chúng đã biết kết hợp thế quyền
với thần quyền, biến tôn giáo và các tổ chức tôn giáo thành công cụ của áp
bức, bóc lột. Giai cấp tư sản đã không tiếc tiền đầu tư vào việc truyền đạo và
xây dựng các thế lực tôn giáo hùng mạnh, nhằm phục vụ lợi ích cho giai cấp
thống trị.
Trong từng giai đoạn phát triển của loài người, nhận thức của con
người cũng được phát triển theo, nhưng chỉ đến một giai đoạn nào đó, con
người có nhận thức tối thiểu, thì họ mới sáng tạo ra tôn giáo. Nhưng nhận
thức của con người là hữu hạn so với tự nhiên, nên chính sự hữu hạn của nhận
thức đã dẫn con người nhận thức và giải thích tự nhiên bằng tín ngưỡng, tôn
5
giáo. Lý do là vì họ chưa đủ điều kiện khám phá bản chất các quy luật tự
nhiên và xã hội.
Tình cảm của con người cũng đóng góp to lớn cho việc ra đời của tôn
giáo. Đặc biệt là tình cảm tiêu cực (sợ hãi, đau khổ, tuyệt vọng, cô đơn…)
cũng tạo ra những khả năng thuận lợi cho sự xuất hiện ý niệm tôn giáo, tín
ngưỡng tôn giáo. Việc hình thành các quan niệm tôn giáo xảy ra phần lớn do
ảnh hưởng của sự cố gắng nhân cách hóa thế giới xung quanh, biến các hiện
tượng tự nhiên giống như hành động của con người, biết suy nghĩ, giúp đỡ và
trừng phạt.
Nguồn gốc nhận thức và tâm lý của tôn giáo là những tiền đề, là
những khả năng và điều kiện để hình thành ý thức tôn giáo. Tôn giáo không
văn hóa của dân tộc.
Trên thế giới hiện nay, tôn giáo vẫn ảnh hưởng sâu sắc đến đông đảo
quần chúng lao động. Đạo Thiên chúa, Đạo Hồi, Đạo Phật… vẫn phát triển và
trở thành đức tin không thể thiếu được trong một bộ phận đông đảo quần
chúng. Ở nước ta, Đảng và Nhà nước rất quan tâm đến chính sách tự do tín
ngưỡng. Đảng cũng giáo dục và đào tạo cán bộ trên cơ sở lập trường Mác-xít
và thế giới quan duy vật, nhất là thế hệ trẻ, được giáo dục và đào tạo trong
nhà trường hết sức chu đáo. Tuy vậy, ảnh hưởng của tôn giáo không những
không giảm đi mà đến nay nó có chiều hướng phát triển thêm.
Qua đó, ta thấy tôn giáo có tính chất quần chúng sâu sắc và bám chặt
trong đời sống tinh thần của nhân dân lao động. Trong việc giải quyết vấn đề
tôn giáo, chúng ta cần hiểu rõ và quán triệt sâu sắc tính chất này của tôn giáo.
Nếu không có sự quan tâm cần thiết, chúng ta sẽ dễ mắc sai lầm chủ quan duy
ý chí, dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng.
1.2.3. Tính chính trị
Buổi đầu, khi ra đời tôn giáo có giá trị tích cực thực sự và đem đến
cho con người niềm tin vào cuộc sống. Từ khi xã hội phân chia giai cấp, giai
cấp thống trị lợi dụng tôn giáo vào mục đích chính trị, biến tôn giáo thành
công cụ áp bức tinh thần đối với quần chúng lao động. Giai cấp bóc lột kết
hợp chặt chẽ thần quyền với thế quyền để củng cố và duy trì địa vị thống trị
của chúng.
7
Khi chủ nghĩa tư bản ra đời, việc sử dụng tôn giáo vào mục đích chính
trị ngày càng mạnh mẽ, với những âm mưu và thủ đoạn nguy hiểm. "… chủ
nghĩa tư bản bao giờ cũng coi tôn giáo và giáo hội hiện đại, tất cả các tổ chức
tôn giáo, đều là những cơ quan của thế lực phản động tư sản, dùng để bảo vệ
chế độ bóc lột và đầu độc giai cấp công nhân" [2, tr. 283].
Nhưng ngoài cuộc sống vật chất, con người còn có cuộc sống tinh thần, đó là
niềm tin vào cuộc sống. Khi không có niềm tin, con người sẽ không sống
được. Trong điều kiện xã hội có giai cấp, khi mà áp bức bóc lột trở thành mối
đe dọa thường trực đối với nhân dân lao động thì con người đã tìm đến niềm
tin tôn giáo và tôn giáo trở thành niềm tin động viên cho họ vượt qua những
khó khăn, đau khổ nhất của cuộc sống. Tuy chỉ là hư ảo nhưng tôn giáo có vai
trò thúc đẩy con người vương lên.
Trong điều kiện kinh tế- xã hội hiện nay ở nước ta, tuy công cuộc đổi
mới đã đem đến cho người dân lao động sự cải thiện trong cuộc sống, nhưng
những hiện tượng tiêu cực trong xã hội vẫn kìm hãm con người và dẫn họ đến
với niềm tin hư ảo. Trong cuộc sống, họ luôn cầu nguyện có sự may mắn do
thế lực siêu nhiên đem đến. Có khi họ đi tìm hạnh phúc và giàu có không phải
bằng lao động sản xuất ma` bằng cầu cúng thánh, phật.
1.3.2. Chức năng thế giới quan
Đây là chức năng phản ánh hiện thực một cách hoang đường, hư ảo.
Tôn giáo đã vẽ ra bức tranh thế giới hư ảo và bắt buộc những tín đồ hạn hẹp
trong sự hiểu biết đó và hướng con người vào sự giải thích tự nhiên, xã hội
bằng giáo lý tôn giáo.
Đạo phật răn dạy con người phải chịu đựng, cam chịu để khi chết
được đến cõi niết bàn. Đạo Thiên chúa răn dạy con người nhẫn nhục, tu rèn
để khi chết được lên Thiên đàng.
Tôn giáo đã khuôn hạn con người trong nhận thức tôn giáo và làm ảnh
hưởng đến quan hệ giữa người với người, đến mục đích và khuynh hướng xã
hội và đến cả hành vi của con người.
Những hiện tượng tự nhiên, những thiên tai được đều được tôn giáo
nhân cách hóa thành thần, thánh và qua đó cũng giải thích đó là thần, thánh
tạo ra. Quan điểm của tôn giáo về thế giới đã tiêm nhiễm những quan niệm và
nhận thức phản khoa học và thụ động trước cuộc sống, Giai cấp thống trị lợi
9
2.1. NHỮNG NGUYÊN LÝ CỦA CHỦ NGHĨA MÁC- LÊ NIN VỀ VIỆC
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ TÔN GIÁO
Chủ nghĩa Mác- Lênin với mục đích giải phóng nhân dân lao động
khỏi sự áp bức, bóc lột của chủ nghĩa tư bản, đem lại ấm no, hạnh phúc cho
nhân dân. Ngược lại, tôn giáo là công cụ áp bức tinh thần của chủ nghĩa tư
bản. Chủ nghĩa tư bản đã kết hợp chặt chẽ giữa thần quyền và thế quyền để nô
dịch quần chúng. Tôn giáo đưa ra con đường giải phóng con người bằng sự
chịu đựng, nhẫn nhục, cam chịu cuộc sống cực khổ ở trần gian để được hưởng
hạnh phúc ở thế giới bên kia sau khi chết đi. Tôn giáo làm cho con người mất
dần ý thức dân tộc, xa rời giác ngộ cách mạng.
Chủ nghĩa Mác- Lênin bằng con đường cách mạng xã hội chủ nghĩa,
đập tan nhà nước tư sản, xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa nhằm xây dựng
cuộc sống ấm no hạnh phúc thực sự trên thế gian. Trong tiến trình cách mạng,
Đảng của giai cấp công nhân muốn thực sự giải phóng nhân dân lao động,
trước hết là giải phóng nhân dân khỏi áp bức giai cấp, sau đó giải phóng họ
khỏi áp bức tinh thần của tôn giáo. Chỉ khi đó con người mới có được hạnh
phúc thực sự. Lập trường của chủ nghĩa Mác- Lênin đối với vấn đề tôn giáo là
triệt để giải phóng nhân dân lao động khỏi sự nô dịch của tôn giáo
Những nguyên tắc của chủ nghĩa Mác- Lênin về việc giải quyết vấn đề
tôn giáo:
Đấu tranh giải quyết vấn đề tôn giáo phụ thuộc vào cuộc đấu tranh
giai cấp.
Nguồn gốc sinh ra tôn giáo hiện đại là sự áp bức, bóc lột của giai cấp
tư sản đối với giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Muốn giải quyết vấn
đề tôn giáo, trước hết phải xóa bỏ áp bức, bóc lột của giai cấp tư sản. Giai cấp
11
12
Ở Việt Nam, do đặc điểm lịch sử liên tục bị ngoại bang xâm lược nên
Lão giáo, Nho giáo- những tôn giáo có nguồn gốc ở phía Bắc thâm nhập;
Công giáo- một tôn giáo gắn với văn minh châu Âu vào truyền đạo và sau này
đạo Tin lành đã khai thác điều kiện chiến tranh ở miền Nam để truyền giáo và
thu hút người theo đạo.
Ở Việt Nam có những tôn giáo có nguồn gốc từ phương Đông như
Phật giáo, Lão giáo, Nho giáo; có tôn giáo có nguồn gốc từ phương Tây như
Thiên chúa giáo, Tin lành; có tôn giáo được sinh ra tại Việt Nam như Cao
Đài, Phật giáo Hòa Hảo; có tôn giáo hoàn chỉnh (có hệ thống giáo lý, giáo
luật, lễ nghi và tổ chức giáo hội), có những hình thức tôn giáo sơ khai. Có
những tôn giáo đã phát triển và hoạt động ổn định; có những tôn giáo chưa ổn
định, đang trong quá trình tìm đường hướng mới cho phù hợp.
Ước tính, hiện nay ở Việt Nam có khoảng 80% dân số có đời sống tín
ngưỡng, tôn giáo, trong đó có khoảng gần 20 triệu tín đồ của 6 tôn giáo đang
hoạt động bình thường, ổn định, chiếm 25% dân số. Cụ thể:
- Phật giáo: Gần 10 triệu tín đồ (những người quy y Tam Bảo), có mặt
hầu hết ở các tỉnh, thành phố trong cả nước, Trong đó tập trung đông nhất ở
Hà Nôi, Bắc Ninh, Nam Định, Hải Phòng, Hải Dương, Thừa Thiên- Huế, Đà
Nẵng, Quảng Ngãi, Bình Định, Khánh Hòa, TP Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Lâm
Đồng, Sóc Trăng, Trà Vinh, Cần Thơ…
- Thiên chúa giáo: Hơn 5,5 triệu tín đồ, có mặt ở 50 tỉnh, thành phố,
trong đó có một số tỉnh tập trung đông như Nam Định, Ninh Bình, Hải Phòng,
Nghệ An, Hà Tĩnh, Đà Nẵng, Kom Tum, Đắk Lắk, Khánh Hòa, Bình Thuận,
Đồng Nai, TP Hồ Chí Minh, Tiền Giang, Vĩnh Long. An Giang, Cần Thơ…
- Đạo Cao Đài: Hơn 2,4 triệu tín đồ có mặt chủ yếu ở các tỉnh Nam Bộ
như Tây Ninh, Long An, Bến Tre, TP Hồ Chí Minh, Đồng Tháp, Tiền Giang,
dân tộc ở đây càng thêm đa dạng; Khu vực Nam Bộ nhất là các tỉnh đồng bằng
sông Cửu Long với 3 dân tộc: Khơme, Hoa và Chăm với số dân khoảng 1 triệu
người.
- Công đồng dân tộc Khơme theo Phật giáo Nam tông. Hiện nay có
1.043.678 người Khơme, 8.112 nhà sư và 433 ngôi chùa trong đồng bào Khơme.
- Cộng đồng người Chăm theo Hồi giáo. Có khoảng gần 100.000
người Chăm, trong đó số người theo Hồi giáo chính thống (Chăm Ixlam) là
14
25.703 tín đồ, Hồi giáo không chính thống (Chăm Bàni) là 39.228 tín đồ.
Ngoài ra còn có hơn 30.000 người theo đạo Bà Chăm (Bàlamôn). Hồi giáo
chính thức truyền vào dân tộc Chăm từ thế kỷ XVI. Cùng với thời gian, Hồi
giáo đã góp phần quan trọng trong việc hình thành tâm lý, đạo đức, lối sống,
phong tục tập quán, văn hóa của người Chăm.
- Cộng đồng dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên theo Công giáo, Tin lành.
Hiện nay ở khu vực Tây Nguyên có gần 300 nghìn người dân tộc thiểu số
theo Công giáo và gần 400 nghìn người theo đạo Tin lành.
- Cộng đồng dân tộc thiểu số ở Tây Bắc một số theo Công giáo, Tin
lành. Hiện nay ở Tây Bắc có 38 nghìn người dân tộc thiểu số theo Công giáo;
đặc biệt, khoảng 20 năm trở lại đây có đến trên 100 nghìn người Mông theo
đạo Tin lành dưới tên gọi Vàng Chứ và hơn 10 nghìn người Dao theo đạo Tin
lành dưới tên gọi Thìn Hùng.
Đa số tín đồ các tôn giáo là người lao động, trong đó chủ yếu là nông
dân. Ước tính, số tín đồ là nông dân của Phật giáo, Thiên chúa giáo chiếm đến
80- 85%; của đạo Cao Đài, Phật giáo Hòa Hảo là 95%; của đạo Tin lành là
65%. Là người lao động, người nông dân nên tín đồ các tôn giáo ở Việt Nam
rất cần cù trong lao động, sản xuất và có tinh thần yêu nước. Trong các giai
đoạn lịch sử, tín đồ các tôn giáo cùng với tầng lớp nhân dân làm nên nhiều
Việt Nam đã tổ chức cuộc họp báo công bố Sách Trắng về Tôn giáo và Chính
sách tôn giáo ở Việt Nam nhằm giúp cho nhân dân trong và ngoài nước, bạn
bè quốc tế hiểu hơn về tình hình sinh hoạt tôn giáo ở Việt Nam cũng như
chính sách của Chính phủ Việt Nam đối với công tác tôn giáo.
Sách Trắng có 86 trang, gồm 3 chương:
- Chương I : Giới thiệu về tín ngưỡng, tôn giáo Việt Nam trong đó
giới thiệu vài nét về tín ngưỡng của tôn giáo Việt Nam; các tôn giáo Việt
Nam.
- Chương II: Đề cập Chính sách của Nhà nước Việt Nam đối với tín
ngưỡng, tôn giáo bao gồm các phần: Chủ tịch Hồ Chí Minh với tín ngưỡng,
tôn giáo; Chủ trương, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với tín
ngưỡng, tôn giáo; Nhà nước Việt Nam luôn đảm bảo và tôn trọng quyền tự do
tín ngưỡng, tôn giáo của công dân; Kết quả việc thực hiện chính sách và pháp
luật của Nhà nước Việt Nam đối với tín ngưỡng, tôn giáo; Các tôn giáo Việt
Nam đồng hành cùng dân tộc.
- Chương III: Nói về Quan hệ quốc tế của các tôn giáo; Giới thiệu về
quan điểm của Nhà nước Việt Nam về quan hệ quốc tế của tôn giáo và quan
hệ quốc tế của các tôn giáo.
Sách Trắng đã khẳng định "Đảng và Nhà nước Việt Nam thực hiện
nhất quán chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc, không phân biệt đối xử vì lý
do tín ngưỡng, tôn giáo. Đại đoàn kết toàn dân với mục tiêu dân giàu nước
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh là điểm tương đồng để gắn bó
đồng bào các tôn giáo với sự nghiệp chung". Sách Trắng cũng nhấn mạnh:
"Đồng bào các tôn giáo là một bộ phận không thể tách rời của dân tộc Việt
Nam, vì vậy Nhà nước Việt Nam có những chính sách phục vụ cho những
nhu cầu đó".
20
21
- Thời kỳ 1975- 1990: Đây là thời kỳ Ban Tôn giáo Chính phủ thực
hiện chức năng giúp Chính phủ quản lý Nhà nước về tôn giáo trong điều kiện
đất nước mới được thống nhất. Để đáp ứng yêu cầu quản lý hoạt động tôn
giáo trong phạm vi cả nước, Ban Tôn giáo Chính phủ đã trình Thủ tướng
Chính phủ ban hành Nghị quyết số 297-CP, ngày 11/11/1977 về hoạt động
tôn giáo. Đồng thời làm đầu mối giúp đỡ, hướng dẫn các tôn giáo đi tới thống
nhất về tổ chức và xây dựng Hiến chương đường hướng hành đạo theo
phương châm "tốt đời, đẹp đạo", gắn bó với dân tộc.
- Thời kỳ 1990 đến nay: Thời kỳ này, Ban Tôn giáo Chính phủ phối
hợp với các ngành thực hiện các mặt công tác đấu tranh chống các thế lực thù
địch lợi dụng tôn giáo chống phá cách mạng Việt Nam; đồng thời giúp Đảng
và Nhà nước khẳng định quan điểm, chủ trương chính sách đối với tôn giáo.
Đặc biệt trên cơ sở tổng kết thực tiễn "nhìn lại và đổi mới", Ban Tôn
giáo Chính phủ phối hợp với các ngành chức năng tham mưu cho Trung ương
ban hành các chủ trương chính sách đổi mới trong công tác tôn giáo như:
Nghị quyết số 24-NQ/TƯ ngày 16/10/1990 về đổi mới công tác tôn giáo trong
tình hình mới; Chỉ thị 37-CT/TW ngày 2/7/1998 về Tăng cường công tác tôn
giáo trong tình hình mới; Nghị định số 59-HĐBT ngày 21/3/1991 và sau này là
Nghị định số 26/1999/NĐ-CP ngày 19/4/1999 về Hoạt động tôn giáo. Tham
mưu cho Ban Chấp hành Trung ương Đảng ban hành Nghị quyết số 25NQ/TƯ ngày 12/3/2003 về Công tác tô giáo. Để thể chế hóa tư tưởng đổi mới
đối với công tác tôn giáo của Nghị quyết 25, Ban Tôn giáo Chính phủ phối
hợp với các ngành chức năng xây dựng và trình ủy ban Thường vụ Quốc hội
khóa XI, ban hành Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo.
Đánh giá sự trưởng thành và những đóng góp của Ban Tôn giáo Chính
phủ, năm 2002, Nhà nước trao tặng Huân chương độc lập hạng Nhất và để
khẳng định truyền thống của ngành quản lý Nhà nước về tôn giáo và xác lập
ra bình thường ở mọi nơi trên đất nước Việt Nam.
Cả nước có 56.125 chức sắc, nhà tu hành, chưa kể hàng vạn người
hoạt động bán chuyên nghiệp của các tổ chức tôn giáo, trong đó Phật giáo có
33.066 tăng ni; Thiên chúa giáo có 42 giám mục, 2.700 linh mục và 11.282 tu
sĩ; Tin lành có 492 mục sư, giảng sư và truyền đạo; Cao Đài có 8.340 chức
sắc, chức việc; Phật giáo Hòa Hảo có 982 chức việc và Hồi giáo có 699 chức
23
sắc. Phật giáo có 3 học viện Phật giáo với trên 1000 tăng ni sinh, 30 trường
trung cấp Phật học, 4 trường cao đẳng Phật học với 3.940 tăng ni sinh theo
học. Giáo hội Thiên chúa giáo có 6 Đại chủng viện với 1.085 chủng sinh và
1.712 chủng sinh dự bị. Viện Thánh kinh thần học của Tổng liên Hội thánh
Tin lành Việt Nam (miền Nam) đã chiêu sinh 2 khóa với 150 học sinh. Hiện
có hàng trăm người của các tôn giáo đang theo học thạc sĩ, tiến sĩ ở các nước
trên thế giới.
Cả nước hiện có 22.000 cơ sở thờ tự, trong đó có nhiều cơ sở được
xây dựng mới, xây dựng lại khang trang, đẹp đẽ. Đó là bằng chứng sinh động
về đảm bảo tự do tín ngưỡng, tôn giáo là nguyên tắc hàng đầu và nhất quán
của Đảng và Nhà nước Việt Nam vì cuộc sống tinh thần của hàng triệu tín đồ
các tôn giáo và cũng là những công dân của Việt Nam.
Cùng với việc đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân
dân và tạo điều kiện cho mọi người có thể tham gia tôn giáo cũng như bảo
đảm cho sự phát triển của mỗi tôn giáo, Đảng và Nhà nước còn tăng cường
đầu tư và thực hiện các chương trình phát triển kinh tế- xã hội vùng đồng bào
các tôn giáo.
Trong thời kỳ đổi mới, đặc biệt là khi có Nghị quyết 25/NQ-TW cũng
như Chương trình hành động của Chính phủ, Đảng và Nhà nước ta đã xác
định, việc thực hiện có hiệu quả chủ trương, chính sách và chương trình phát
Vấn đề tôn giáo và công tác tôn giáo đã được ghi nhận và cân đối trong
các kế hoạch, cơ chế, chính sách của các bộ, ngành liên quan và của ủy ban
nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Đây là cơ sở để cân đối
và bảo đảm nguồn lực phát triển hài hòa của hệ thống chính sách của Nhà
nước.
Kết quả thực hiện các chương trình kinh tế- xã hội thời gian qua với
số vốn hàng trăm tỉ đồng đã tác động tích cực đến đời sống kinh tế, văn hóa,
xã hội của đồng bào nói chung, đồng bào các tôn giáo nói riêng, góp phần ổn
định và phát triển, làm cho đồng bào an tâm, đoàn kết xây dựng đời sống "tốt
đời, đẹp đạo". Một bộ phận lớn đồng bào dân tộc, tôn giáo được giao đất ở,
đất sản xuất; được hướng dẫn kỹ thuật, được vay vốn, nhận các điều kiện hỗ
trợ cần thiết để sản xuất, tăng thu nhập; tích cực tham gia xây dựng đời sống
25