BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI
------------
NGUYỄN THỊ BÍCH LIÊN
Tổ chức xêmina trong dạy học môn Giáo
dục học ở đại học theo tiếp cận năng lực
Chuyên ngành: Lí luận và lịch sử Giáo dục học
Mã số: 62.14.01.02
LUẬN ÁN TIẾN SĨ GIÁO DỤC HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
1. PGS. TS. Trần Thị Tuyết Oanh
2. PGS. TS. Võ Nguyên Du
HÀ NỘI
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các
số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và chƣa từng đƣợc ai
công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tác giả luận án
Nguyễn Thị Bích Liên
1.2.4. Tiếp cận năng lực ........................................................................................27
iii
1.2.5. Tổ chức xêmina trong dạy học môn GDH theo tiếp cận năng lực .............27
1.3. LÍ LUẬN CƠ BẢN VỀ TỔ CHỨC XÊMINA TRONG DẠY HỌC MÔN
GIÁO DỤC HỌC Ở ĐẠI HỌC THEO TIẾP CẬN NĂNG LỰC ............................28
1.3.1. Dạy học ở đại học theo tiếp cận năng lực ...................................................28
1.3.2. Hình thức xêmina trong dạy học ở đại học theo tiếp cận năng lực ............31
1.3.3. Tổ chức xêmina trong dạy học môn Giáo dục học ở đại học theo tiếp
cận năng lực ..........................................................................................................35
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1..........................................................................................52
Chƣơng 2: CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ TỔ CHỨC XÊMINA TRONG DẠY
HỌC MÔN GIÁO DỤC HỌC Ở ĐẠI HỌC THEO TIẾP CẬN NĂNG LỰC ....... 53
2.1. KHÁI QUÁT VỀ QUÁ TRÌNH KHẢO SÁT ...................................................53
2.1.1. Mục đích khảo sát .......................................................................................53
2.1.2. Đối tƣợng khảo sát ......................................................................................53
2.1.3. Nội dung khảo sát .......................................................................................53
2.1.4. Phƣơng pháp khảo sát .................................................................................53
2.2. KẾT QUẢ KHẢO SÁT .....................................................................................53
2.2.1. Thực trạng học tập môn GDH của SV ........................................................53
2.2.2. Thực trạng nhận thức về xêmina và xêmina trong dạy học môn Giáo
dục học theo TCNL...............................................................................................58
2.2.3. Thực trạng tổ chức xêmina trong DH môn GDH ở đại học theo tiếp
cận năng lực ..........................................................................................................70
2.2.4. Đánh giá thực trạng.....................................................................................78
KẾT LUẬN CHƢƠNG 2..........................................................................................85
Chƣơng 3: BIỆN PHÁP TỔ CHỨC XÊMINA TRONG DẠY HỌC MÔN
GIÁO DỤC HỌC Ở ĐẠI HỌC THEO TIẾP CẬN NĂNG LỰC ......................86
3.1. NGUYÊN TẮC XÂY DỰNG BIỆN PHÁP ......................................................86
DANH MỤC VIẾT TẮT
Viết tắt
Viết đầy đủ
Bộ GD & ĐT
Bộ Giáo dục và đào tạo
ĐH, ĐHCT
Đại học, Đại học Cần Thơ
ĐHSP, KSP
Đại học sƣ phạm, Khoa sƣ phạm
GV, SV, SVSP, HS
Giảng viên, sinh viên, sinh viên sƣ phạm, học sinh
DH, GD, GDH
Dạy học, giáo dục, Giáo dục học
HT, HTTCDH
Hình thức, hình thức tổ chức dạy học
QTDH, PPDH
TN, ĐC
Thực nghiệm, đối chứng
ĐTB, ĐLC, ThB
Điểm trung bình, Độ lệch chuẩn, Thứ bậc
THPT
Trung học phổ thông
vi
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1. Nhận thức của SV về mục đích học tập môn GDH ...............................54
Bảng 2.2. Đánh giá của GV về mục đích học tập môn GDH của SV ....................55
Bảng 2.3. Tự nhận xét biểu hiện của SV trong giờ học môn GDH .......................56
Bảng 2.4. Đánh giá của GV về biểu hiện của SV trong giờ học môn GDH ..........57
Bảng 2.5. Nhận thức của SV về khái niệm xêmina trong dạy học ........................58
Bảng 2.6. Nhận thức của GV về khái niệm xêmina trong dạy học ........................59
Bảng 2.7. Nhận thức của GV về đặc trƣng của xêmina trong dạy học ..................60
Bảng 2.8. Đánh giá của SV về khả năng PTNL nghề của các HĐ sƣ phạm..........62
Bảng 2.9. Tự đánh giá của SV về NL nghề ...........................................................63
Bảng 2.10. Đánh giá của GV về khả năng PTNL nghề khi tổ chức xêmina
trong DH ................................................................................................66
Bảng 2.11. Nhận thức của GV về ý nghĩa của xêmina trong dạy học môn
GDH theo TCNL ...................................................................................68
Bảng 2.12. Nhận thức của SV về ý nghĩa của xêmina trong DH môn GDH
Biểu đồ 2.5. Đánh giá của SV về vai trò của xêmina đối với việc PTNL ...............67
Biểu đồ 2.6. Mức độ sử dụng hình thức xêmina trong dạy học của GV .................71
Biểu đồ 2.7. Đánh giá của SV về mức độ đƣợc tham gia xêmina trong DH
môn GDH ............................................................................................72
Biểu đồ 2.8. Ý kiến của GV và SV về ND - PP đánh giá xêmina ...........................77
Biểu đồ 4.1. Kết quả đo lƣờng NL của SV lớp TN1 và ĐC1 trƣớc TN lần 1 .......134
Biểu đồ 4.2. Kết quả đo lƣờng NL của SV lớp TN1 trƣớc và sau thực nghiệm lần 1 ....135
Biểu đồ 4.3. Kết quả đo lƣờng NL của SV lớp ĐC1 trƣớc và sau TN lần 1 .........136
Biểu đồ 4.4. Hứng thú của SV lớp TN1 sau thực nghiệm lần 1 ............................136
Biểu đồ 4.5. Mức độ tham gia các HĐ của SV lớp TN1 .......................................137
Biểu đồ 4.6. Kết quả đo lƣờng NL của SV lớp TN2 trƣớc và sau thực
nghiệm lần 2 .....................................................................................139
Biểu đồ 4.7. Mức độ hứng thú với môn học của SV lớp TN2 sau thực nghiệm ........141
Biểu đồ 4.8. Mức độ tham gia các HĐ của SV lớp TN2 .......................................142
Biểu đồ 4.9. Tổng hợp ý kiến SV lớp TN về hiệu quả của các BP thực nghiệm ...........144
Sơ đồ 3.1.
Quy trình tổ chức xêmina trong dạy học môn GDH theo TCNL .......97
1
MỞ ĐẦU
1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong thời đại ngày nay, sự phát triển nhanh chóng của xã hội loài ngƣời về
mọi mặt, đòi hỏi mỗi ngƣời phải thực sự năng động, sáng tạo và có những phẩm
chất, năng lực thích hợp. Vì vậy, Bộ GD và ĐT đã xác định là cần tập trung cải tiến
giảng dạy và học tập ở các ngành, bậc học, cấp học nhằm phát huy tính chủ động,
sáng tạo và năng lực tự học của ngƣời học, xem đây là một giải pháp cơ bản để
nâng cao chất lƣợng giáo dục. Chiến lƣợc phát triển giáo dục đến năm 2020 một lần
Môn GDH là một trong những môn nghiệp vụ góp phần không nhỏ trong quá
trình đào tạo sinh viên ngành sƣ phạm. Thực tế, SV chƣa xác định mục tiêu hợp lí,
chƣa có nhu cầu và hứng thú với môn GDH, chƣa có khả năng nghiên cứu và vận
dụng sáng tạo tri thức GDH vào thực tiễn. Việc vận dụng tri thức GDH để rèn luyện
và nâng cao năng lực nghiệp vụ sƣ phạm chƣa đạt hiệu quả cao. Hiện nay, hầu hết
các trƣờng đại học sƣ phạm đã chuyển sang chƣơng trình đào tạo theo học chế tín
chỉ và thƣờng xuyên quan tâm tới việc đổi mới PPDH cũng nhƣ việc sử dụng các
HTTCDH nhằm bồi dƣỡng khả năng tƣ duy độc lập cho SV. Tổ chức xêmina trong
dạy học môn GDH thể hiện những ƣu thế nổi bật và phù hợp với dạy học đại học
hiện đại nhƣng vẫn chƣa đƣợc GV quan tâm nên chƣa phát huy đƣợc hiệu quả tích
cực của hình thức xêmina là góp phần đào tạo giáo viên, cán bộ khoa học có khả
năng nghiên cứu và tự nghiên cứu.
Nghiên cứu về các hình thức tổ chức xêmina ở đại học đƣợc đề cập từ khá
lâu và đã có những kết quả nhất định về lí luận cũng nhƣ thực tiễn. Tuy nhiên, tổ
chức xêmina trong dạy học môn GDH ở đại học theo tiếp cận năng lực và các biện
pháp tổ chức xêmina theo tiếp cận năng lực để phục vụ cho quá trình dạy học đại
học ở các trƣờng sƣ phạm thì chƣa có đề tài nào đề cập đến.
Dựa trên những lí do trên chúng tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Tổ chức
xêmina trong dạy học môn GDH ở đại học theo tiếp cận năng lực”.
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu lí luận và thực tiễn tổ chức xêmina trong dạy học môn Giáo dục
học, từ đó xác định các biện pháp tổ chức xêmina trong dạy học môn GDH theo tiếp
cận năng lực nhằm nâng cao hiệu quả dạy học môn GDH ở đại học, góp phần rèn
luyện năng lực nghề cho SV theo chuẩn đầu ra ngành sƣ phạm.
3. KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU
3.1. Khách thể nghiên cứu
Hình thức tổ chức dạy học ở đại học
3.2. Đối tƣợng nghiên cứu
Biện pháp tổ chức xêmina trong dạy học môn GDH ở đại học theo tiếp
cận năng lực.
theo tiếp cận năng lực cho sinh viên sƣ phạm tại Trƣờng Đại học Cần Thơ.
7. PHƢƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
7.1. Phƣơng pháp luận nghiên cứu đề tài
7.1.1. Phương pháp tiếp cận hệ thống
Tổ chức xêmina trong dạy học môn GDH là một hệ thống bao gồm các thành
4
tố có quan hệ mật thiết với nhau nhƣ: mục tiêu tổ chức, chủ đề xêmina, GV-SV,
phƣơng tiện, môi trƣờng và kết quả xêmina. Các thành tố đó không tồn tại độc lập
mà tác động qua lại để thực hiện tốt hoạt động xêmina. Vì vậy, nghiên cứu tổ chức
xêmina trong dạy học môn GDH ở đại học theo tiếp cận NL là nghiên cứu một hệ
thống các thành tố để góp phần phát triển hình thức dạy học này và nâng cao hiệu
quả dạy học môn GDH.
7.1.2. Phương pháp tiếp cận lịch sử
Tổ chức xêmina trong DH ở đại học không phải là một vấn đề mới. Đối với
dạy học ở đại học, việc áp dụng cái mới đƣợc thực hiện hàng ngày, hàng giờ. Vì
vậy, đổi mới quá trình tổ chức xêmina trong dạy học môn GDH ở đại học là một sự
kế thừa. Do nhu cầu về nguồn nhân lực trong xã hội hiện đại có nhiều thay đổi,
không chỉ chú trọng đến tri thức mà rất quan tâm đến NL và khả năng làm việc của
ngƣời học. Nghiên cứu luận án này, chúng tôi tìm ra một hƣớng đổi mới việc tổ
chức xêmina trong dạy học môn GDH ở đại học trên cơ sở kế thừa kết quả nghiên
cứu trƣớc đây về HT xêmina nhằm rèn luyện cho SV một số NL theo chuẩn đầu ra.
7.1.3. Phương pháp tiếp cận hoạt động
Các năng lực nghề của SVSP đƣợc thực hiện thông qua hoạt động học tập
bằng xêmina của họ. Nghiên cứu tổ chức xêmina trong dạy học GDH nhằm phát
triển NL nghề cho SV phải thông qua việc tham gia các hoạt động trong quy trình tổ
chức. Nghĩa là, đề tài đƣợc nghiên cứu thông qua quan sát, đánh giá kết quả hoạt
động học tập cũng nhƣ khả năng thực hiện các NL nghề của SV trong quá trình tổ
chức xêmina môn GDH.
8. NHỮNG LUẬN ĐIỂM BẢO VỆ
8.1. Dạy học theo hƣớng phát triển NL đòi hỏi các HTTCDH cũng phải hƣớng tới
phát triển NL cho SV. Trong bối cảnh hiện nay, xêmina là một HTTCDH có ƣu thế
để phát triển những NL cần thiết và đặc thù cho SV trong các trƣờng sƣ phạm.
8.2. Tổ chức xêmina trong dạy học môn GDH ở đại học theo TCNL phù hợp với chƣơng
trình đào tạo theo tín chỉ ở các trƣờng ĐHSP, tạo điều kiện rèn luyện cho SV năng lực
tham gia xêmina và phát triển ở SV NL nghề theo chuẩn đầu ra ngành sƣ phạm.
8.3. Để tổ chức xêmina trong dạy học môn GDH hƣớng vào phát triển NL của SV
đáp ứng yêu cầu chuẩn đầu ra cần đƣợc thực hiện trên cơ sở xác định mục tiêu tổ chức
xêmina, xây dựng chủ đề xêmina, thiết kế, tổ chức HĐ của GV-SV trong quá trình xêmina
và đánh giá kết quả xêmina theo TCNL.
9. ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI
Về lý luận, luận án hệ thống hóa, bổ sung và làm sâu sắc thêm những lý luận
cơ bản về tổ chức xêmina trong dạy học môn GDH ở ĐH theo tiếp cận NL; chỉ ra
đƣợc các đặc điểm của dạy học theo tiếp cận NL, xác định và phân tích đặc trƣng
của tổ chức xêmina trong DH môn GDH ở ĐH theo tiếp cận NL, xây dựng nguyên
tắc cơ bản của việc tổ chức xêmina trong dạy học môn GDH ở ĐH theo tiếp cận
NL, góp phần phát triển lý luận về tổ chức xêmina trong DH môn GDH và lí luận
dạy học đại học.
6
Về thực tiễn, luận án điều tra, phân tích thực trạng nhận thức về xêmina và
xêmina trong DH môn GDH theo TCNL; tổ chức xêmina trong DH môn GDH ở
ĐH theo TCNL; đánh giá thực trạng biểu hiện NL của SV khi tham gia xêmina và
nguyên nhân của thực trạng trên…làm sáng tỏ thực tiễn đào tạo giáo viên hiện nay,
định hƣớng quá trình đào tạo giáo viên đáp ứng nhu cầu xã hội.
Dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn nghiên cứu, luận án đã xây dựng đƣợc các
biện pháp tổ chức xêmina trong dạy học môn GDH ở ĐH theo tiếp cận NL nhằm
nâng cao hiệu quả của việc tổ chức xêmina, góp phần phát triển một số NL nghề
tích cực, độc lập sáng tạo, khả năng tìm tòi, khám phá của ngƣời học trong dạy học.
Chúng ta không thể không nhắc đến những nhà giáo dục vĩ đại nhƣ: J.J.Ruseau
(1712-1778), Pextalogi (1746-1827), Distecverg (1790-1886), K.D.Usinxki (18241870)…. Các tác giả nhấn mạnh phƣơng thức học tập bằng con đƣờng tìm tòi, khám
phá và bằng sự nỗ lực của chính bản thân là vô cùng quan trọng.
Nghiên cứu về dạy học ở đại học cũng đƣợc quan tâm với nhiều phƣơng
pháp và hình thức dạy học phát huy đƣợc vai trò của ngƣời học. Trong đó, hình
thức dạy học xêmina đã đƣợc nghiên cứu khá sớm bởi đây là một hình thức phát
huy tính tích cực học tập của ngƣời học cũng nhƣ phát triển chuyên môn cho ngƣời
dạy. Xã hội càng phát triển, nhu cầu về đào tạo con ngƣời càng đƣợc quan tâm
nhiều hơn, đồng thời những yêu cầu phát triển khả năng của con ngƣời càng đƣợc
chú trọng hơn. Chính vì thế, trong quá trình dạy học, việc phát triển cao nhất khả
năng của ngƣời học luôn đƣợc chú ý đến và những hình thức, phƣơng pháp dạy học
thực hiện tốt nhất mục tiêu đó sẽ là lựa chọn tối ƣu.
Khi nghiên cứu về xêmina trong dạy học chúng tôi nhận thấy có hai hƣớng
nghiên cứu chính: một là, những nghiên cứu để xây dựng và phát triển hệ thống lý
8
thuyết cho hình thức dạy học này; hai là, những nghiên cứu ứng dụng hình thức dạy
học này trong quá trình dạy học nhằm đạt đƣợc hiệu quả cao nhất cho quá trình dạy
học môn học.
* Hướng nghiên cứu xây dựng và phát triển hệ thống lý thuyết của hình
thức xêmina
Xêmina đƣợc coi là một hình thức dạy học cơ bản ở đại học nhằm giúp cho
SV nâng cao khả năng nghiên cứu khoa học, góp phần quan trọng trong quá trình
đào tạo ra các nhà khoa học. Tuy nhiên, những nghiên cứu về hình thức dạy học
đại học này còn ít đƣợc quan tâm nên chƣa phát huy đƣợc tối ƣu những điểm tích
cực của xêmina trong dạy học. Đó cũng là một khó khăn rất lớn cho việc nghiên
cứu đề tài này.
Hệ thống lý thuyết của hình thức xêmina đã đƣợc các nhà giáo dục nghiên
nguồn tài liệu khác nhau để thu thập kiến thức. Tuy nhiên, tác giả chƣa xây dựng
quy trình tổ chức cơ bản của xêmina để ứng dụng HT này trong dạy học. [41]
Tác giả S.I. Ackhanghenxki trong “Những bài giảng về Lí luận dạy học ở
trƣờng đại học” năm 1979 cho rằng xêmina là một trong những HT quan trọng
của công tác giảng dạy và GD ở trƣờng ĐH. Các buổi thảo luận chuyên đề đƣợc
coi nhƣ một loại HĐ học tập tích cực, đƣợc xây dựng có cơ sở khoa học nhằm
phục vụ công tác đào tạo nghề nghiệp. Trong tổ chức xêmina đòi hỏi SV nhƣ
một nhà khoa học tích cực, chuẩn bị và tham gia vào cuộc tranh luận khoa học,
phải bảo vệ ý kiến của mình trong quá trình tranh luận. Tác giả tập trung nghiên
cứu việc tổ chức và điều khiển cuộc tranh luận ở xêmina để thu hút sự tham gia
của toàn thể SV. Chất lƣợng xêmina phụ thuộc vào công việc tổ chức, vào mức
độ sẵn sàng của ngƣời học và sự chuẩn bị của GV. Đặc biệt, tác giả đã chỉ ra
đƣợc một số lỗi tiêu biểu của GV trong quá trình tổ chức xêmina nhƣ: thay thế
vai trò của ngƣời học, tự mình nói tất cả, sửa chữa lời nói của SV ngay cả khi
không cần thiết... Mặc dù vấn đề lí thuyết của xêmina chƣa thật hoàn thiện
nhƣng tác giả lại đƣa ra đƣợc những hƣớng dẫn khá cụ thể nhằm giúp cho GV có
thể tổ chức buổi xêmina thực sự hiệu quả. [1]
Tác giả Rebecca Taylor (2003) khi nghiên cứu về xêmina quan tâm đến sự
thay đổi của ngƣời học sau khi học tập bằng xêmina. Mục đích để cho SV có trình
độ hiểu biết là họ đang mong đợi gì, để chứng minh bằng các HĐ và cung cấp cho
họ một cơ hội để đánh giá tiến bộ của mình. Ngoài ra, HT này đƣợc sử dụng để phát
triển khả năng của SV, giúp họ tổng hợp quan điểm, bằng chứng về một chủ đề cụ
thể và chuẩn bị cho bài thuyết trình. Đồng thời, tác giả cũng nhấn mạnh vai trò cố
vấn khoa học của ngƣời GV. GV ngày càng phải đối mặt với các nhóm SV có khả
năng và kinh nghiệm pha trộn hỗn hợp. Việc tổ chức xêmina có thể cung cấp cho
10
GV cơ hội để chẩn đoán một loạt các giả định về khả năng và sự hiểu biết của SV.
Từ đó, tạo nên một cuộc trao đổi, đối thoại quan trọng giữa GV và SV. Nghiên cứu
11
điểm rất tiến bộ trong dạy học tại thời điểm ấy nhƣng vẫn chịu ảnh hƣởng của triết
lý dạy học đƣơng thời.
Thế kỷ 17, các trƣờng đại học tổng hợp ở phƣơng Tây đặc biệt quan tâm đến
việc nghiên cứu và ứng dụng hình thức xêmina trong giảng dạy các bộ môn nhân
văn nhằm mở rộng tầm hiểu biết của SV ngoài các bài giảng. Do đó, SV có cơ hội
nắm bắt tri thức dƣới nhiều phƣơng diện khác nhau, làm giàu vốn hiểu biết của
mình nhƣng chƣa thực sự phát triển khả năng trình bày vấn đề một cách khoa học.
Đặc biệt, việc chỉ ứng dụng ở các bộ môn nhân văn cũng hạn chế đáng kể vị trí của
HT này trong DH đại học.[6]
Thế kỷ 19, các trƣờng đại học tổng hợp Nga cũng quan tâm nghiên cứu hình
thức xêmina để vận dụng vào dạy học. Vào đầu thập kỷ 90, xêmina là hình thức đƣợc
sử dụng ở các trƣờng đại học tổng hợp nhằm mục đích mở rộng tầm hiểu biết chung
của sinh viên, giới thiệu cho họ những vấn đề và những công trình quan trọng trong
ngành khoa học mà họ đã lựa chọn. Tuy nhiên, vấn đề thảo luận và tranh luận khoa
học với những luận cứ có tính thuyết phục chƣa thực sự đƣợc quan tâm.[6]
Các tác giả Cathy Bonus Lalli và Stephanie Feger (2005) trong nghiên cứu
của mình đề cao sự tƣơng tác của xêmina. Hai tác giả thấy rõ rằng khi học tập bằng
xêmina thì sự giao lƣu giữa ngƣời dạy - ngƣời học và ngƣời học - ngƣời học là rất
lớn. Thông qua đó, khả năng của ngƣời học không ngừng đƣợc nâng cao và làm
giàu thêm tiềm năng của họ. Thông qua xêmina, ngƣời học có cơ hội nắm bắt đƣợc
nhiều thông tin từ những ngƣời tham gia và hiểu đƣợc vấn đề một cách rõ ràng hơn.
Tác giả cũng chú trọng đến các kĩ thuật tổ chức xêmina và việc chia sẻ thông tin
qua mạng internet. Song, các tác giả lại chƣa có những hƣớng dẫn cụ thể để rèn
luyện các KN tham gia xêmina cho SV.[94]
Bên cạnh đó, dạy học đại học với mục tiêu đào tạo nghề nghiệp cũng cần chú
ý đến việc dạy học nhằm phát huy NL của ngƣời học phù hợp với yêu cầu của nghề
nghiệp. NL nghề nghiệp của cá nhân là điều kiện, phƣơng tiện để hiện thực hoá xu
hƣớng nghề nghiệp. Để làm tốt nghề sƣ phạm, ngƣời làm nghề sƣ phạm phải có
NL tri giác, nhóm NL truyền đạt, nhóm NL giao tiếp, nhóm NL tổ chức. Tuy nhiên,
cách phân chia của Petrovski chƣa thật sự thuyết phục bởi lẽ ngay trong nhóm NL
dạy học đã bao hàm NL thiết kế, tổ chức, giao tiếp.[67]
Trong công trình nghiên cứu “Rèn luyện các năng lực sƣ phạm”, N.V.
Cudomina đã xác định các NLSP cần có của một ngƣời giáo viên, mối quan hệ giữa
NL chuyên môn và NL nghiệp vụ, giữa năng khiếu sƣ phạm thành NLSP. Tác giả
nghiên cứu rất kỹ những biểu hiện của NLSP bằng cách quan sát các HĐ của ngƣời
GV. Trong số 44 GV đƣợc trực tiếp quan sát thông qua các HĐ của họ thì có 23
13
ngƣời có năng khiếu về một mặt nào đó, nhƣ: NL văn học, NL nghệ thuật, NL thể
thao, NL kỹ thuật... Đa số các GV có NL trên đã sử dụng các tài năng khác nhau
của mình vào HĐ sƣ phạm. Do đó, các NLSP, NL dạy học bộ môn và các loại NL
khác của con ngƣời đều có liên quan đến nhau. Nếu nhƣ ngƣời GV biết vận dụng
những NL khác nhau của mình vào HĐ sƣ phạm thì sẽ mang lại những kết quả tốt
trong các HĐ ấy. [16]
Cuối thế kỉ 20 và những năm đầu thế kỉ 21 là giai đoạn đánh dấu sự quan tâm
nghiên cứu nhằm phát huy tối đa NL của cá nhân trong hoạt động nghề nghiệp. Tuy
nhiên, những nghiên cứu về dạy học theo hƣớng TCNL chƣa đƣợc đề cập nhiều.
Đặc biệt, việc tổ chức xêmina trong dạy học đại học cũng đã đƣợc quan tâm song
chƣa có đề tài nào nghiên cứu về vấn đề này theo hƣớng phát triển NL nghề nghiệp
cho SV thông qua xêmina trong dạy học.
1.1.2. Những nghiên cứu ở Việt Nam
Trong nhiều thập kỷ qua, các nhà sƣ phạm Việt Nam đã có rất nhiều đóng
góp trong lĩnh vực lí luận dạy học. Những tác giả nhƣ Đặng Vũ Hoạt, Nguyễn Ngọc
Quang, Lê Khánh Bằng, Nguyễn Cảnh Toàn, Nguyễn Kỳ, Nguyễn Ngọc Bảo,
Nguyễn Văn Hộ, Phạm Viết Vƣợng, Thái Duy Tuyên, Ngô Hiệu, Hà Thị Đức, Lƣu
Xuân Mới, Đặng Thành Hƣng, Trần Thị Tuyết Oanh và nhiều nhà nghiên cứu khác
đã góp phần phát triển lí luận cũng nhƣ ứng dụng các phƣơng pháp dạy học hiện đại
Năm 1996, tác giả Phan Thiều nghiên cứu vấn đề: PP xêmina trong việc
nâng cao chất lƣợng đào tạo giáo viên ở các trƣờng ĐHSP. Trong đó, tác giả đã chỉ
ra đƣợc những điều kiện đảm bảo cho quá trình tổ chức xêmina đạt hiệu quả. Tác
giả đặc biệt nhấn mạnh vai trò của xêmina trong công tác đào tạo giáo viên ở các
trƣờng ĐHSP. Tuy nhiên, tác giả chƣa đƣa ra đƣợc những hƣớng dẫn cụ thể nhằm
giúp cho SVSP có thể phát triển những kĩ năng nghề trong tƣơng lai mà chỉ coi
xêmina là một PP quan trọng để nâng cao chất lƣợng dạy học ở đại học. [74]
Năm 2002, tác giả Nguyễn Văn Hộ cho rằng xêmina là HT mang lại ý nghĩa
nhận thức, giáo dục và kiểm tra rất lớn, nó tạo điều kiện củng cố, mở rộng và đào
sâu tri thức cho SV. Tri thức nắm đƣợc qua HTTCDH này do đã trải qua một trình
tự nghiên cứu, thử nghiệm, thảo luận, phân tích kĩ càng, do đó dễ trở thành cơ sở
xây dựng niềm tin khoa học cho SV. Nội dung, cách thức tổ chức tốt HT dạy học
này sẽ kích thích đƣợc nhu cầu nhận thức, hứng thú tìm tòi, trí thông minh, sáng tạo
của SV và cùng với nó, sẽ là điều kiện tốt để hình thành cho SV những phẩm chất
của ngƣời làm khoa học nhƣ tính kế hoạch, trung thực, khiêm tốn. Tuy nhiên, tác
giả chƣa thực sự phân biệt HT thảo luận nhóm và HT xêmina nên chƣa đƣa ra đƣợc
những đặc trƣng cơ bản của HT này. [37]
Tác giả Phan Trọng Ngọ (2005) coi việc tổ chức xêmina là tạo cơ hội để SV
15
trực tiếp làm việc với đối tƣợng học tập, tạo cơ hội để ngƣời học diễn đạt sự hiểu
biết và ý tƣởng của mình về chủ đề đƣợc giao. Do đó, kết quả của quá trình tổ chức
xêmina cũng chính là kết quả sự học thực thụ của ngƣời học. Tác giả cho rằng, tổ
chức xêmina là sự hội tụ và tổng hợp khá nhiều kĩ thuật dạy học có hiệu quả cao; do
đó, đây là hình thức dạy học chủ yếu dành cho ngƣời lớn. Tác giả đã phát triển
những nét mới cho lí luận về HT xêmina ở đại học, tuy nhiên, cũng giống nhƣ nhiều
tác giả khác, tác giả chƣa thấy đƣợc một vai trò rất lớn của HT này là phát triển một
số NL cơ bản cho SV. [56]
* Hướng nghiên cứu ứng dụng hình thức xêmina trong quá trình dạy học
đủ. Tác giả đã trình bày đƣợc vị trí, ý nghĩa của hình thức này trong dạy học. Đặc
biệt, tác giả đã xây dựng một số chủ đề xêmina môn GDH về nội dung “Giáo dục và
thời đại”. Tác giả đã có sự phân biệt rõ giữa HT xêmina và HT thảo luận. So với
những tác giả khác khi nghiên cứu về xêmina, tác giả đã có những hƣớng dẫn khá cụ
thể về xêmina môn GDH, dù vậy, tác giả chƣa đƣa ra quy trình tổ chức xêmina cũng
nhƣ định hƣớng để phát triển một số NL nghề nghiệp nhất định cho SV. [85]
Tác giả Trần Thuý Ngà thực hiện đề tài “Xây dựng và tổ chức hoạt động
xêmina trong môn Đại số tuyến tính ở trƣờng CĐSP nhằm nâng cao hiệu quả học
tập bộ môn và tăng cƣờng định hƣớng sƣ phạm cho SV” năm 2006. Trong đó, tác
giả chỉ ra đƣợc việc tổ chức dạy học môn Đại số tuyến tính bằng xêmina là góp
phần không nhỏ giúp SV học tập môn học hiệu quả hơn, từ đó nâng cao NL NVSP
cho SV. Mặc dù vậy, đề tài mới chỉ thực sự tập trung vào việc xây dựng các chủ đề
xêmina môn học chứ chƣa chú trọng nhiều đến định hƣớng nghề nghiệp cho SV,
chƣa có các biện pháp tác động để giúp SV rèn luyện NVSP.
Năm 2007, tác giả Lê Thị Hồng Chi nghiên cứu “Đổi mới phƣơng pháp đào
tạo giáo viên thông qua tổ chức xêmina chuyên đề Thực hành giải toán ở Tiểu
học”, trong đó tác giả đã xây dựng các chuyên đề xêmina môn học nhằm nâng cao
chất lƣợng đào tạo giáo viên. Tác giả coi việc tổ chức xêmina môn học nhƣ là
cách để đổi mới phƣơng pháp đào tạo GV nhƣng chƣa đề ra đƣợc những hƣớng đi
thực sự hiệu quả cho mục tiêu này. Tác giả chỉ đƣa ra một thông điệp rằng: tổ
chức xêmina môn học ở đại học là cần thiết để thay đổi lối học truyền thống, giúp
cho SV tham gia vào hoạt động học tập chủ động hơn, đem lại hiệu quả cao hơn
cho quá trình dạy học.
Năm 2007, tác giả Đặng Thị Oanh và Dƣơng Huy Cẩn trong “Tổ chức xêmina
theo tài liệu tự học có hƣớng dẫn nhằm tăng cƣờng tự học, tự nghiên cứu cho SV” lại
coi xêmina nhƣ là biện pháp giúp SV phát triển khả năng tự học, tự nghiên cứu một
cách hiệu quả ở đại học. Các tác giả đã tổ chức xêmina môn Hoá học với 4 hoạt động
cơ bản ở trên lớp nhằm khơi dậy tiềm năng tiếp thu, phát triển và sáng tạo của ngƣời
do cá nhân; GD làm tăng cƣờng giá trị cá nhân; GD còn có thể mở rộng cơ hội cho
cá nhân, cải thiện điều kiện sống; GD có thể tạo điều kiện đa dạng hóa lựa chọn và
kết quả của HĐ con ngƣời. [55]