VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
SƠN NGỌC HOÀNG
ÂM NHẠC NGHI LỄ DÂN GIAN
TRONG VĂN HÓA
CỦA NGƢỜI KHMER Ở SÓC TRĂNG
LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC
HÀ NỘI - 2016
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
SƠN NGỌC HOÀNG
ÂM NHẠC NGHI LỄ DÂN GIAN
TRONG VĂN HÓA
CỦA NGƢỜI KHMER Ở SÓC TRĂNG
Chuyên ngành : Văn hóa dân gian
Mã số : 62 22 01 30
LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC :
1.TS Phú Văn Hẳn
2.PGS.TS. Trần Thế Bảo
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắc
3
Danh mục các bảng
4
MỞ ĐẦU
5
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỂN CHO VIỆC
NGHIÊN CỨU ÂM NHẠC NGHI LỄ DÂN GIAN
NGƢỜI KHMER Ở SÓC TRĂNG
1.1. Một số cơ sở lý thuyết nghiên cứu âm nhạc nghi lễ dân gian
14
14
1.2. Tổng quan về nền văn hóa truyền thống và nhạc lễ dân gian của
người Khmer ở Sóc Trăng
19
1.3. Những thực hành âm nhạc trong nghi lễ dân gian của người Khmer
ở Sóc Trăng
30
Chƣơng 3: ÂM NHẠC TRONG LỄ TANG TRUYỀN THỐNG
CỦA NGƢỜI KHMER Ở SÓC TRĂNG
3.1. Những thành tố của âm nhạc trong lễ tang truyền thống của người
84
2
Khmer ở Sóc Trăng
3.2. Thực hành âm nhạc lễ tang truyền thống của người Khmer ở Sóc Trăng
3.3. Múa thiêng trong lễ tang truyền thống của người Khmer ở Sóc Trăng
85
96
103
3.4. Văn hóa nhận thức thể hiện qua thực hành lễ tang truyền thống
của người Khmer ở Sóc Trăng
104
3.5. Văn hóa ứng xử thể hiện qua thực hành lễ tang truyền thống
của người Khmer ở Sóc Trăng
110
Chƣơng 4: MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM ÂM NHẠC CỦA NHẠC LỄ
DÂN GIAN NGƢỜI KHMER Ở SÓC TRĂNG
145
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
153
CHÚ THÍCH
159
TÀI LIỆU THAM KHẢO
164
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ
174
PHỤ LỤC HÌNH ẢNH
176
PHỤ LỤC BÀI BẢN ÂM NHẠC
200
3
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮC
Bảng 1.1: Tình hình cơ cấu dân số, dân tộc tỉnh Sóc Trăng
20
Bảng 1.2: Bảng phân bổ cơ cấu dân tộc Khmer tỉnh Sóc Trăng
20
Bảng 2.1: Danh mục bài bản âm nhạc lễ cưới truyền thống người Khmer
69
Bảng 2.2: Bảng phân loại nhạc khí trong dàn nhạc lễ cưới ngày xưa của người
Khmer ở Sóc Trăng
73
Bảng 2.3: Bảng phân loại nhạc khí trong dàn nhạc lễ cưới ngày nay của người
Khmer ở Sóc Trăng
76
Bảng 2.4: Bảng so sánh nhạc khí trong dàn nhạc lễ cưới xưa và nay của người
Khmer ở Sóc Trăng
76
Bảng 3.1: Danh mục tổng hợp bài bản âm nhạc trong nghi lễ tôn giáo của người
Khmer ở Sóc Trăng
Bảng 4.3: Bảng so sánh tương đồng và dị biệt giữa nhạc khí trong dàn nhạc lễ tang
truyền thống người Khmer với dàn nhạc lễ dân gian Nam bộ người Việt 135
Bảng 4.4: Bảng so sánh tương đồng và dị biệt giữa nhạc khí trong dàn nhạc nghi lễ
dân gian của người Khmer với dàn nhạc lễ dân gian người Hoa
137
5
MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Nền Văn hóa –Nghệ thuật truyền thống của người Khmer Nam bộ trãi qua một
quá trình lịch sử phát triển lâu dài, đã tạo nên một bản lĩnh và bản sắc văn hóa đặc trưng
của tộc người mình. Đó là quá trình vừa kế thừa, vừa giao lưu tiếp biến, tiếp thu những
tinh hoa văn hóa của các tộc người khác trong nước, khu vực Đông Nam Á (ĐNA) và
quốc tế, vừa nâng lên đa dạng để phát triển hòa hợp với xu thế thời đại.
Về phương diện lịch sử âm nhạc, thể loại Âm nhạc nghi lễ dân gian của người
Khmer (NLDGK)(1) vùng Nam bộ, đặc biệt là tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long
(ĐBSCL) nói chung và ở Sóc Trăng nói riêng có những nét đặc trưng, độc đáo khó có
thể trộn lẫn với các tộc người sống trong khu vực. NLDGK đã góp phần quan trọng vào
việc định hình diện mạo nền âm nhạc dân gian (ANDG) cổ truyền trên vùng đất Nam bộ,
góp phần bảo tồn, kế thừa và phát triển nền âm nhạc truyền thống Việt Nam.
Tác động của xu hướng toàn cầu hóa, sự xâm nhập ồ ạt các sản phẩm văn hóa, âm
nhạc nước ngoài; sự lấn át của các dòng âm nhạc phương Tây trong đời sống âm nhạc,
trên hệ thống truyền thông đại chúng; bên cạnh đó là sự thiếu hiểu biết về nền ANDG
của đại đa số quần chúng nhân dân,, nhất là thế hệ trẻ người Khmer đã khiến cho việc
thực hành ANDG trong các nghi lễ dân gian truyền thống của người Khmer không còn
thịnh hành như xưa và đang rơi vào tình trạng mai một dần. Mặt khác, việc tổ chức
nhiều người Pháp quan tâm, nhưng họ chủ yếu nghiên cứu và đề cập đến một vài khía
cạnh riêng biệt như: về lịch sử, kiến trúc chùa chiền, nghi lễ tôn giáo, văn học dân gian,
ngôn ngữ và chữ viết. Lê Hương trong sách “Người Việt gốc Miên” xuất bản tại Sài Gòn
năm 1969 đã sưu tầm và giới thiệu tổng quát về người Khmer Nam bộ. Ngoài ra, bản tài
liệu ghi chép “Chân Lạp phong thổ ký” của tác giả Châu Đạt Quan do Lê Hương dịch,
xuất bản tại Sài Gòn năm 1973 về Phong tục, tập quán, sinh hoạt... của người Khmer
Nam bộ, không thấy đề cập đến lĩnh vực ANDG và NLDGK của tộc người này.
Giai đoạn từ sau năm 1975, khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, nhất là thời
kỳ đổi mới đến nay, nhiều cơ quan, nhà khoa học, các nhà nghiên cứu từ Trung
ương đến địa phương tập trung nghiên cứu về các vấn đề liên quan đến người
Khmer Nam bộ ở khu vực ĐBSCL trên các lĩnh vực và đã công bố nhiều công trình,
tác phẩm có giá trị khoa học và thực tiển. Có thể nhìn tổng quan như sau:
7
a). Các công trình nghiên cứu về văn hóa, dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng, nghi
lễ của người Khmer Nam bộ:
Sách nghiên cứu “Tìm hiểu vốn văn hóa Khmer Nam bộ” (1988) [ 38] được
tập họp từ một số bài viết của các tác giả như: Đinh Văn Liên [43] “Văn hóa Khmer
trong quá trình giao lưu và Phát triển”; Thạch Voi và Hoàng Túc [86] về “Phong
tục nghi lễ của người Khmer ĐBSCL”… Các bài nghiên cứu này đã khái quát đến
nhiều lĩnh vực văn hóa truyền thống của người Khmer ở vùng ĐBSCL.
Sách nghiên cứu “Vấn đề dân tộc ở ĐBSCL” (1991), tập họp từ các bài viết của các
nhà nghiên cứu như: Mạc Đường [20] với “Vấn đề dân cư và dân tộc ở ĐBSCL”; Phan
An có bài viết “Một số vấn đề kinh tế - xã hội của vùng nông thôn Khmer ĐBSCL”…Các
bài viết nói trên chủ yếu nghiên cứu về khía cạnh dân tộc học, xã hội học, không thấy đề
cập đến lĩnh vực âm nhạc truyền thống của người Khmer Nam bộ ở khu vực này.
Trần Văn Bổn [7][8], có công trình nghiên cứu về “Một số lễ tục dân gian người
Khmer ĐBSCL”(1999), và “Phong tục và nghi lễ vòng đời người Khmer Nam bộ” ra đời
Các tác phẩm nghiên cứu về “Dân ca Nam bộ”[87, 1978] của nhóm tác giả: Lư Nhất
Vũ, Lê Giang, Nguyễn Văn Hoa… như: “Dân ca Hậu Giang”- (1986) [88], “Dân ca Kiên
Giang” (1985), “Dân ca Cửu Long” (1986), Tiểu luận “Những phát hiện về Thang âm,
điệu thức trong Dân ca Khmer Nam bộ” (1992)[89]. Trong các tác phẩm nói trên, chúng
tôi đã tiếp cận kho tàng ANDG của người Khmer Nam bộ nhưng ở góc độ hẹp: một số bài
bản dân ca Khmer Nam bộ đã được thu âm và ký âm bằng nốt nhạc, có dịch nghĩa tiếng
Việt (do Lê Giang chuyển thơ), phân tích thang âm, điệu thức của các làn điệu dân ca
Khmer của một số tỉnh trong khu vực ĐBSCL. Tuy nhiên, các bài bản âm nhạc trong thực
hành nghi lễ dân gian Khmer Nam bộ nói chung và ở Sóc Trăng nói riêng vẫn còn thiếu
hụt rất nhiều, chưa sưu tầm một cách đầy đủ và có hệ thống khoa học.
Công trình nghiên cứu khoa học “Nhạc khí dân tộc Khmer Nam bộ” (2005) và
“Nhạc khí dân tộc Khmer Sóc Trăng”(2007) của nhóm tác giả: Sơn Ngọc Hoàng, Đào
Huy Quyền, Ngô Khị [28] [29]. Các công trình này đã nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện
về kho tàng nhạc khí của người Khmer Nam bộ nói chung và người Khmer Sóc Trăng
nói riêng đã được kế thừa và đang còn bảo tồn, gìn giữ cho đến ngày nay. Hoàng Túc
[65], với công trình nghiên cứu “Diễn ca Khmer Nam Bộ” (2011), tác giả đã tìm hiểu sâu
về phong tục tập quán, các thực hành nghi lễ dân gian của người Khmer Nam bộ, đặc
biệt là trong lễ cưới và lễ tang truyền thống, từ đó cho thấy đây là một kho tàng ca diễn,
9
múa rất phong phú về tính cách và thể loại. Các công trình nghiên cứu trên là tư liệu cân
thiết chúng tôi làm tài liệu khảo trong luận án này.
Công trình nghiên cứu khoa học “Tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng ở Việt Nam” do
Ngô Đức Thịnh chủ biên (2012).[77]. Cuốn sách là tập họp các bài nghiên cứu về tín
ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng ở Việt Nam theo hướng tiếp cận văn hóa học. Đặc biệt,
chúng tôi quan tâm đến hai bài nghiên cứu “Tín ngưỡng, tôn giáo và ca nhạc cổ truyền” và
“Múa nghi lễ (múa thiêng)” của Nguyễn Thụy Loan. [49][50]. Trong hai bài nghiên cứu
này, tác giả đã phân tích, lý giải quá trình nảy sinh mối quan hệ giữa tín ngưỡng tôn giáo và âm
cần thiết cho chúng tôi tham khảo, làm cơ sở so sánh, đối chiếu trong đề tài luận án.
Tóm lại, tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề như trên cho thấy, đã có nhiều công
trình nghiên cứu, tác phẩm, nhiều báo cáo khoa học, báo cáo chuyên đề của các cơ quan
nghiên cứu, các nhà khoa học đã nghiên cứu khá toàn diện về văn hóa truyền thống của
người Khmer Nam bộ ở ĐBSCL. Đó là những công trình nghiên cứu đáng tin cậy được
dùng làm tư liệu tham khảo cho đề tài luận án này. Tuy nhiên, việc nghiên cứu mang tính
chuyên sâu, toàn diện và có hệ thống khoa học về thể loại NLDGK trong giai đoạn hiện
nay ở Sóc Trăng và cả khu vực ĐBSCL thì vẫn đang còn bỏ ngỏ.
3.Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài Luận án có tên là: “Âm nhạc nghi lễ dân gian trong văn hóa của người
Khmer ở Sóc Trăng” nhằm những mục tiêu nghiên cứu sau:
Nghiên cứu chuyên sâu và toàn diện về thể loại ANDG và các giá trị của NLDGK ở
Sóc Trăng nhằm nêu bật diện mạo và ý nghĩa của nó trong xã hội cổ truyền. Đồng thời,
nghiên cứu sự tồn tại và biến đổi của NLDGK trong xã hội hiện đại.
Hệ thống hóa bài bản âm nhạc, hệ thống các nhạc khí trong dàn nhạc của NLDGK ở
Sóc Trăng. Làm nổi bật những đặc điểm mang tính đặc thù, phong cách của một thể loại
ANDG truyền thống dân tộc. Nhận diện các giá trị đặc trưng của NLDGK, trên cơ sở thực
tế, đề xuất một số giải pháp bảo tồn và phát huy các giá trị của NLDGK ở Sóc Trăng trong
xã hội hiện đại.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là Âm nhạc nghi lễ dân gian trong văn
hóa của người Khmer ở Sóc Trăng” và những khía cạnh liên quan.
Phạm vi giới hạn của đề tài luận án là:
11
- Nghiên cứu chuyên sâu và toàn diện về thể loại ANDG sử dụng trong hai nghi lễ
dân gian là lễ Cưới và lễ Tang truyền thống của người Khmer ở Sóc Trăng. Những khía
cạnh liên quan tới nó trên địa bàn là các huyện, thị xã, thành phố của tỉnh Sóc Trăng, cụ
các nghi lễ dân gian của người Khmer; những cuộc phỏng vấn sâu, quan sát tham dự, tham
khảo ý kiến nghệ nhân, những tài liệu về mặt văn hóa, xã hội, lịch sử, nghệ thuật, âm nhạc,
băng từ…liên quan đến đề tài luận án đã phát hành và cả tư liệu cá nhân đã tích lũy được
bằng tiếng Khmer. Những khái niệm, thuật ngữ chuyên ngành đã được nhiều nhà nghiên
12
cứu công bố sẽ được sử dụng để phân tích, lý giải cho nội dung của luận án. Những khái
niệm này được sử dụng, trích dẫn, viện dẫn, không phân tích.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiển của đề tài
-Luận án góp phần xác định không gian tồn tại trong xã hội cổ truyền và hiện
trạng của thể loại NLDGK thông qua khảo sát đối tượng trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng.
- Hệ thống hóa về âm nhạc trong lễ cưới và lễ tang truyền thống của người
Khmer ở Sóc Trăng.
- Luận án góp phần làm rõ diện mạo của NLDGK ở Sóc Trăng biểu hiện qua
khía cạnh thẩm mỹ nghệ thuật, đạo đức và những yếu tố xã hội liên quan. Đồng
thời, nêu bật ý nghĩa, các giá trị của NLDGK trong việc biểu hiện triết lý nhân sinh,
tín ngưỡng tôn giáo và bản sắc văn hóa của người Khmer.
- Luận án chỉ ra vai trò to lớn của NLDGK trong việc bảo lưu tập quán cổ
truyền, bảo lưu các hình thức tín ngưỡng và bảo lưu vốn nghệ thuật âm nhạc dân
gian cổ truyền của người Khmer ở Sóc Trăng.
Kết quả nghiên cứu của đề tài luận án: “Âm nhạc nghi lễ dân gian trong văn hóa
của người Khmer ở Sóc Trăng” mang ý nghĩa cả về mặt Khoa học và thực tiển.
+Về mặt khoa học: -Luận án cho thấy, âm nhạc nghi lễ dân gian là một thành tố vô
cùng quan trọng, góp phần cùng với thực hành nghi lễ để thể hiện hệ thống đức tin, cũng như
thực hiện các chức năng khác của nghi lễ đối với cá nhân và cộng đồng người Khmer.
- Luận án làm rõ các giá trị của di sản văn hóa dân tộc trong xã hội cổ truyền,
đồng thời làm nổi bật những đặc điểm của hệ thống NLDGK, những biến đổi của
nó trong bối cảnh tác động của toàn cầu hóa hiện nay.
tích, truyền thuyết Khmer và Phụ lục ký âm bài bản âm nhạc do tác giả thực hiện.
14
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỂN
CHO VIỆC NGHIÊN CỨU ÂM NHẠC NGHI LỄ DÂN GIAN
CỦA NGƢỜI KHMER Ở SÓC TRĂNG
1.1. Một số cơ sở lý thuyết nghiên cứu âm nhạc nghi lễ dân gian
1.1.1. Các lý thuyết nghiên cứu nghi lễ (Rites)
Nghi lễ (Rites) được hiểu là: do nhu cầu tiếp xúc và khẩn cầu thế giới thần
linh mà các nghi lễ được hình thành ngay từ thời nguyên thủy và phát triển thành hệ
thống. Tâm lý kinh sợ và mong muốn được ban ơn từ thần linh đã tạo ra hệ thống
tín ngưỡng và nghi lễ. Theo Từ điển Bách khoa kiến thức: “Nghi lễ thường được thể
hiện qua sự ứng xử, giao tiếp trong xã hội, trong tín ngưỡng, trong sinh hoạt tôn
giáo thông qua đời sống tâm linh, mang đậm sắc thái văn hóa dân tộc”[62].
Trong công trình nghiên cứu “Văn hóa nguyên thủy” của E.B. Tylor (2001), đã xem
nghi lễ là “phương tiện giao tiếp với những thực thể linh hồn”[69]. Còn J. Cazeneuve thì
cho rằng: “Thuật ngữ La tinh Rites (nghi lễ) chỉ ra rất chính xác đó là những nghi lễ có
quan hệ với các siêu nhiên, được thể hiện bằng những thói quen xã hội giản dị, những
tập tục” [40, tr 97]. Đặng Nghiêm Vạn cũng đã đưa ra một khái niệm về nghi lễ như sau:
“Nghi lễ là mối quan hệ của các thực thể ở thế giới bên kia với cuộc sống trần gian của
cộng đồng và cá nhân, nó làm cho giáo lý tôn giáo trở nên sống động phổ quát qua hành
vi thực hành tôn giáo” [82, tr 97].
Như vậy, nghi lễ có ý nghĩa rất rộng, bao trùm hành vi, thái độ, tín ngưỡng, văn hoá,
ngôn ngữ, phong cách của con người và xã hội. Trong nghĩa hẹp thì nghi lễ là nghi thức
hành lễ tụng niệm mang tính tín ngưỡng thờ phụng của một tôn giáo. Nghi lễ thường đi
đôi với nhạc. Lễ và Nhạc là triết lý chủ yếu của tôn giáo có tác dụng chuyển hoá con
người và xã hội. Lễ rất quan trọng để kiểm soát hành vi, ước muốn của con người, còn
quan niệm đời thường gắn với thế giới siêu linh, từ đó xuất hiện những nghi lễ cho cuộc
sống con người. Theo Ngô Đức Thịnh, nghi lễ vòng đời người là “những nghi lễ liên
quan đến cá nhân, từ khi sinh ra đến khi chết” [78, tr 23]. Trong quá trình lịch sử, do
những tác động khác quan và chủ quan, hình thức của các nghi lễ vòng đời người của
từng tộc người đều có những chuyển đổi theo thời gian, tuy nhiên, nó không hề làm mất
đi bản sắc của tộc người đó.
16
Nghi lễ chuyển đổi (Rites of passage): Lý thuyết này đã được phát triển vào thập
niên 60 của thế kỷ XX, bởi Mary Douglas và Victor Turner dựa trên nền tảng học thuyết
của nhà nhân học người Pháp gốc Bỉ Amold Van Gennep (1873 – 1975) trong công trình
“Những nghi lễ chuyển đổi” (Les Rites de passage), xuất bản năm 1909. Trong lý thuyết
này, A.V.Gennep cho rằng: “Nghi lễ chuyển đổi là những nghi lễ đánh dấu sự chuyển
đổi của cá nhân trong suốt vòng đời. …hợp nhất những kinh nghiệm của con người và
kinh nghiệm văn hóa với vòng đời: Ra đời, sinh con, trưởng thành, kết hôn và chết
đi”[28, tr 48]. A.V. Gennep đã chia nghi lễ chuyển đổi làm ba giai đoạn: Giai đoạn cách
ly (trước ngưỡng), chuyển tiếp (trong ngưỡng) và hội nhập (song ngưỡng).
Như vậy, nghi lễ chuyển đổi gắn với từng tộc người, mỗi tộc người có một chuỗi các
nghi lễ chuyển đổi với những nội dung, hình thức biểu hiện khác nhau tùy thuộc vào đẳng
cấp xã hội, giới tính, nghề nghiệp, tuổi tác...của những cá nhân được tiến hành các nghi thức
đó. Có rất nhiều nghi lễ chuyển đổi trong cuộc sống con người, tuy nhiên có 5 giai đoạn
quan trọng trong đời sống được xem là dấu hiệu quan trọng nhất của sự chuyển đổi, đó là:
“Sự ra đời – tuổi trưởng thành – rời khỏi gia đình – hôn lễ và tang ma”. Để đánh dấu sự
thay đổi này, các nghi lễ sẽ được tổ chức và tùy vào từng nền văn hóa sẽ có cách tổ chức
khác nhau, nhưng bao giờ nó cũng phải thống nhất và có ý nghĩa đối với nền văn hóa đó.
Trong thực hành nghi lễ nói chung, nghi lễ vòng đời người nói riêng của các dân tộc
trên thế giới, âm nhạc là một thành tố đóng một vai trò vô cùng quan trọng, nó luôn tồn
tại trong các nghi lễ. Từ đó, đã cho ra đời nhiều lý thuyết nghiên cứu về âm nhạc nghi lễ.
nhạc” [94, tr 34]. J. Blacking đã cho rằng, trong lịch sử con người, âm nhạc được sinh ra
và tồn tại từ trong văn hóa và quay trở lại phục vụ cho nhu cầu văn hóa của con người.
Trong lịch sử nghiên cứu âm nhạc học, ngoài những công trình nghiên cứu về
thành tựu của nền âm nhạc châu Âu, đã có nhiều công trình nghiên cứu về các nền âm
nhạc cổ truyền của các dân tộc khác nhau trên thế giới, được gọi là “Những nền âm nhạc
của những truyền thống truyền khẩu” (Les Musiques des traditions orales). Qúa trình
nghiên cứu trong lĩnh vực này đòi hỏi cần phải có một hệ thống quan điểm, lý thuyết,
phương pháp khoa học mang tính tổng hợp và liên ngành. Từ đó, đã cho ra đời một
ngành nghiên cứu khoa học mới, đó là ngành “Dân tộc nhạc học”. Ngành “Dân tộc
nhạc học” bao gồm một hệ thống quan điểm, lý thuyết, phương pháp nghiên cứu âm
nhạc cổ truyền của các dân tộc trong cấu trúc văn hóa – xã hội và dựa trên cơ sở nghiên
cứu những đặc điểm Văn hóa – xã hội, dân tộc học, nhân chủng học…theo xu thế mới
18
của thời đại. Trong quá trình phát triển, ngành “Dân tộc nhạc học” đã cho ra đời nhiều
tên tuổi lớn của thế giới
(2)
, các nhà âm nhạc học này đã có mối quan tâm đặc biệt để
nghiên cứu về thể loại âm nhạc dân gian của các dân tộc trên thế giới.
Âm nhạc dân gian (Musique populaire)- Đây là khái niệm dùng để chỉ một loại
âm nhạc truyền khẩu, truyền ngón, vô danh, ngẫu hứng, tự phát, xuất phát từ những cảm
hứng hồn nhiên, chân thật, phản ánh tâm thức của tập thể quần chúng nhân dân. Trong
sách “Âm nhạc Việt Nam – truyền thống và hiện đại”, Tô Vũ [86, tr 27] đã nhận định:
Tác phẩm “dân gian” luôn là “vô danh”, không nêu tên tác giả, không có bản phổ gốc
(văn học và ký âm). Nó được lưu truyền theo phương thức “truyền miệng” (hát), “truyền
Nhìn chung, NLDG Khmer ở Sóc Trăng mặc dù được hình thành bởi ba thể
loại: ANDG, ANTG và âm nhạc nghi lễ, song do đặc trưng xã hội của tộc người
Khmer mang đậm màu sắc Phật giáo Nam tông, nên giữa ba thể loại âm nhạc này
luôn có sự hòa hợp, đan xen lẫn nhau để cùng tồn tại và phát triển. Như vậy, có thể
thấy, NLDGK đóng một vai trò hết sức quan trọng trong nghi lễ vòng đời của người
Khmer ở Sóc Trăng. Nó chứng minh cho sức sống và khả năng tồn tại bền vững
trong đời sống văn hóa tinh thần của tộc người này sau mọi thử thách của thời gian
và lịch sử, cũng như trong xu hướng biến đổi văn hóa của xã hội hiện đại.
Trên cơ sở phân tích các lý thuyết nghiên cứu về nghi lễ, nghi lễ vòng đời người
và nghi lễ chuyển đổi, cũng như các lý thuyết nghiên cứu về ANDG, âm nhạc nghi lễ cho
thấy, âm nhạc là một thành tố luôn gắn liền với những thực hành nghi lễ vòng đời và sự
chuyển đổi của con người. Âm nhạc luôn đồng hành theo quy luật chuyển đổi của vòng
đời người kể từ khi sinh ra cho đến chết đi. Do đó, khi một tộc người nào đó tiến hành nghi
lễ, tức là phải thực hành các chức năng của âm nhạc trong nghi lễ đó. Các lý thuyết nghiên
cứu trên chính là cơ sở nền tảng về mặt lý luận giúp chúng tôi vận dụng, tiếp cận từ góc nhìn
văn hóa học về âm nhạc nghi lễ để qua đó, nghiên cứu, phân tích nhằm để nhận diện rõ các
chiều cạnh thể hiện, các giá trị của âm nhạc nghi lễ trong đời sống văn hóa của người Khmer
ở Sóc Trăng vốn đã được bảo lưu từ trong xã hội cổ truyền cho đến hôm nay.
1.2. Tổng quan về nền văn hóa truyền thống và nhạc lễ dân gian của
ngƣời Khmer ở Sóc Trăng
1.2.1. Khái quát về địa lý, môi trường tự nhiên của tỉnh Sóc Trăng
Sóc Trăng là 1 trong 13 tỉnh, thành thuộc khu vực ĐBSCL, nằm trong vùng hạ
lưu sông Hậu, trên trục lộ giao thông thủy bộ nối liền Thành phố Hồ Chí Minh với
20
các tỉnh miền Tây Nam bộ. Có bờ biển dài 72 km và 03 cửa sông lớn Định An, Trần
Đề, Mỹ Thanh đổ ra biển Đông.
Tỉnh Sóc Trăng có địa giới hành chính tiếp giáp như sau: Phía Tây Bắc giáp tỉnh
65.515
5,03%
Dân tộc khác
429
Tổng số chung
0,032%
1.304.965
100%
(Theo Niên giám thống kê tỉnh Sóc Trăng năm 2012, phát hành tháng 7/2013)
Bảng 1.2: Bảng phân bổ cơ cấu dân tộc Khmer trong tỉnh Sóc Trăng:
Đơn vị hành chánh
Dân số chung
Ngƣời Khmer
Tỷ lệ
TP Sóc Trăng
137.294
156.868
51.972
33,18%
Huyện Thạnh Trị
86.366
29.929
34,30%
21
Huyện Mỹ Tú
107.358
26.504
24,68%
Huyện Trần Đề
133.637
65.594
(Theo Niên giám thống kê tỉnh Sóc Trăng năm 2012, phát hành tháng 7/2013)
1.2.2. Khái quát về người Khmer ở Sóc Trăng
Người Khmer là cư dân nông nghiệp chuyên canh lúa nước, sinh sống từ rất lâu đời tại
vùng đất Nam bộ, đặc biệt là vùng châu thổ ĐBSCL. Theo Mạc Đường “Cho đến trước thế kỷ
XVII, người Khmer là thành phần cư dân duy nhất tồn tại ở ĐBSCL. Họ sống khu biệt và không
có mối quan hệ hành chính với bất cứ một quốc gia nào thời đó”[27, tr 30].
Các nhà Nhân chủng học cho rằng, người Khmer Nam bộ gốc vốn là tộc người
Văh Năh (Phù Nam), ra đời từ cuộc hôn nhân giữa Hoàng tử Preah Thông và nàng công
chúa rắn Neang Neak [107]. “Sự ra đời của nước Phù Nam là do sự kết hợp của Hổn
Điền với Liễu Diệp (Theo sử và cách phiên âm Trung Hoa; hay Kaundinya (Vương công
Bà-la-môn Ấn) với Neang Neak (nửa người nửa rắn theo huyền thoại), công chúa con
vua địa phương; hay vương công Preah Thông (tinh mặt trời) và nàng công chúa rắn
Neang Neak (tinh mặt trăng)” [91, tr 2]. Tiếng nói của người Khmer Nam bộ thuộc ngữ
hệ Môn – Khmer (3). Ở Việt Nam, các dân tộc ngôn ngữ Môn – Khmer được phân bố rải
rác từ Bắc chí Nam, hầu hết sinh sống ở miền rừng núi, chỉ riêng người Khmer Nam bộ
là định cư ở vùng châu thổ ĐBSCL [Hình 1.1: Phụ lục hình ảnh] và quần cư quanh phum
sróc trên những dải đất giồng. Theo số liệu thống kê năm 2012, người Khmer Nam bộ hiện
nay có trên 1,3 triệu người, đông thứ hai sau người Việt, sống tập trung ở 2 khu vực: Khu
vực miền Tây Nam bộ tập trung nhất là ở Sóc Trăng và Trà Vinh. Khu vực miền Đông Nam
bộ tập trung ở Thành phố Hồ Chí Minh, các tỉnh Tây Ninh, Bà Rịa – Vũng Tàu, Sông Bé.
Riêng trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng, tộc người Khmer có 400.733 người, đông nhất
vùng ĐBSCL và chiếm tỉ lệ 31,1% tổng số người Khmer cả nước. Tỉnh Sóc Trăng vốn
22
được xem là một tiểu vùng văn hóa mang tính đặc trưng nhất trên tất cả các lĩnh vực kinh
tế, văn hóa, xã hội của người Khmer Nam bộ tại khu vực ĐBSCL.
1.2.3. Về tổ chức xã hội truyền thống của người Khmer ở Sóc Trăng