TIỂU LUẬN TRIẾT học tư TƯỞNG về CON NGƯỜI TRONG TRIẾT học cổ điển đức ý NGHĨA đối với VIỆC PHÁT HUY NHÂN tố CON NGƯỜI ở VIỆT NAM - Pdf 40

TƯ TƯỞNG VỀ CON NGƯỜI TRONG TRIẾT HỌC CỔ ĐIỂN
ĐỨC - Ý NGHĨA VÀ GIÁ TRỊ HIỆN THỰC CỦA NÓ ĐỐI VỚI VIỆC
XÂY DỰNG VÀ PHÁT HUY NHÂN TỐ CON NGƯỜI Ở NƯỚC TA
HIỆN NAY
MỞ ĐẦU
Tư tưởng về con người và giải phóng con người là một trong những nội
dung cơ bản mà các trào lưu triết học nói chung, triết học Mác nói riêng đều
tập trung giải quyết. Tuy nhiên, ở mỗi thời đại lịch sử vấn đề đó được đặt ra
và giải quyết trong những bối cảnh và nội dung khác nhau tuỳ thuộc vào thế
giới quan và nhân sinh quan của các nhà triết học.
I. ĐIỀU KIỆN KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ NÔI DUNG CƠ BẢN CỦA
TƯ TƯỞNG VỀ CON NGƯỜI TRONG TRIẾT HỌC CỔ ĐIỂN ĐỨC
1.1. Hoàn cảnh ra đời của triết học cổ điển Đức
Khái niệm “Triết học cổ điển Đức” dùng để chỉ sự phát triển triết học
của nước Đức ở nửa cuối thế kỷ XVIII và nửa đầu thế kỷ XIX, được mở đầu
từ hệ thống triết học của Cantơ (1724 - 1804) trải qua Phíchtơ (1762 - 1814),
Sêlinh (1775 - 1854) đến triết học duy tâm của Hêghen (1770 -1831) và triết
học duy vật nhân bản của Phoiơbắc (1804 - 1872).
Triết học cổ điển Đức là giai đoạn phát triển mới về chất trong lịch sử tư
tưởng Tây Âu và thế giới cuối thế kỉ XVIII - đầu thế kỉ XIX. Đây là đỉnh cao
của thời kì triết học cổ điển phương Tây, đồng thời có ảnh hưởng to lớn tới
triết học hiện đại.
Triết học cổ điển Đức ra đời và phát triển trong những điều kiện của chế
độ chuyên chế nhà nước Phổ và nó là sự bảo vệ về mặt tư tưởng cho chế độ
đó. Thời kì cuối thế kỉ XVIII, cuộc cách mạng tư sản Pháp (1789) ảnh hưởng
mạnh đến nước Phổ, và Hêghen là một người tán dương cuộc cách mạng đó.
Đồng thời xã hội Phổ lúc này với những điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt đã


làm nảy sinh hệ tư tưởng có tính chất tiểu tư sản, thỏa hiệp. Tất cả cái đó tạo
nên nét riêng của triết học cổ điển Đức.

phát triển chưa từng có về triết học, văn hóa và nghệ thuật. Đây là quê hương
của nhiều nhà tư tưởng, nhà văn, nhà thơ nổi tiếng thế giới như Hecđơ, Gớt,
Sinlơ, Cantơ… Họ, một mặt, tiếp thu những di sản tư tưởng và văn hóa Đức
truyền thống, kế thừa các quan niệm của Nicôlai Kudan, Lepnit…, mặt khác,
được sự cổ vũ to lớn của tư tưởng Khai sáng và văn hóa Pháp thế kỉ XVIII.
Cách mạng tư sản Pháp (1789 -1794) là hậu thuẫn thực tiễn thức tỉnh giai cấp
tư sản Đức đấu tranh vì một trật tự xã hội mới ở Đức. Thể hiện nguyện vọng
đó của giai cấp tư sản, các tác phẩm của Gớt, Sinlơ, Cantơ, Phíchtơ… đều
toát lên một tinh thần phẫn nộ chống lại sự trì trệ và bất công của xã hội Đức
thời đó.
Trước đòi hỏi của quá trình phát triển phương thức sản xuất tư bản chủ
nghĩa ở các nước Tây Âu, khoa học tự nhiên đã đạt nhiều thành tựu lớn: Phát
hiện ra điện, phát hiện ra ôxy và bản chất sự cháy của Antoine Lavoisier, việc
phát hiện ra tế bào của Robert Hooke, định luật bảo toàn và chuyển hóa năng
lượng của Lômônôxốp, học thuyết về dưỡng khí của Pritski và Sielo...
Bối cảnh chính trị - xã hội và sự phát triển của khoa học ở Tây Âu và
nước Đức lúc đó chứng tỏ sự hạn chế và bất lực của phương pháp tư duy siêu
hình trong việc lý giải bản chất của các hiện tượng tự nhiên và thực tiễn xã
hội đang diễn ra cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX. Nó đòi hỏi cần có cách
nhìn mới về bản chất các hiện tượng tự nhiên và tiến trình lịch sử nhân loại,
cũng như cần có quan niệm mới về khả năng và vai trò của con người. Triết
học cổ điển Đức ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu đó.
1.4.2. Đặc điểm Triết học cổ điển Đức


- Triết học cổ điển Đức chứa đựng một nội dung cách mạng nhưng hình
thức của nó cực kỳ “rối rắm”, bảo thủ. Đặc điểm này thể hiện rõ nét nhất
trong triết học của
Cantơ và Hêghen.
- Đề cao vai trò tích cực của hoạt động con người, coi con người là một

hạn chế ở chỗ, đề cao sự mạnh trí tuệ của con người tới mức cực đoan: sáng
tạo ra các quy luật của thế giới. Thần thánh hóa con người tới mức coi bản
thân thế giới tự nhiên phải hoạt động theo ý chí con người.
Về lĩnh vực nhận thức con người, khi nghiên cứu triết học Cantơ, người
ta cũng có thể thấy rất rõ thái độ trân trọng của ông đối với con người và lý trí
con người. Chỉ có điều, là một nhà triết học độc đáo nên việc đề cao con
người ở Cantơ cũng rất khác biệt so với các nhà tư tưởng khác. Theo Cantơ,
"thế giới vật tự nó" là thế giới dành cho cảm giác.
Do vậy, thế giới đó đóng kín đối với lý tính và đối với khoa học. Tuy
thế, theo cách giải thích của Cantơ, đối với "thế giới vật tự nó", con người
không phải là tuyệt nhiên không thể vươn tới được. Bởi lẽ, con người, trong
quan niệm của Cantơ, luôn sống trong cả hai thế giới - thế giới mà cảm giác
có thể đạt tới và thế giới mà trí tuệ có thể đạt tới (còn gọi là thế giới khả giác
và thế giới khả niệm).
Thế giới mà cảm giác có thể đạt tới, theo Cantơ, đó là giới tự nhiên. Còn
thế giới mà trí tuệ đạt tới - đó là thế giới của tự do. Tự do trong quan niệm của
Cantơ là một trạng thái mà ở đó, con người hoàn toàn không bị lệ thuộc vào
những nguyên nhân tiền định nào đó vốn có trong thế giới có thể cảm giác
được. Tự do là khả năng tiên nghiệm đặc biệt cho phép giác tính con người
hoạt động độc lập với các quy luật tất yếu của tự nhiên trong lĩnh vực hiện
tượng luận, nó tồn tại một cách tương đối trong lĩnh vực hiện tượng luận.
Trong biên giới của tự do, hành động và hành vi của con người không bị chi
phối bởi lý tính lý luận mà bị chi phối bởi tính thực tiễn. Lý tính được gọi là


thực tiễn, theo Cantơ, là lý tính mà ý nghĩa chủ yếu của nó là điều chỉnh hành
vi con người. Động lực của lý tính thực tiễn không phải là tư duy, mà là ý chí
của con người. Cantơ gọi ý chí của con người là vương quốc của sự tự trị. ở
đây, ý chí của con người được quy định không phải bởi các nguyên nhân bên
ngoài, tức là những nguyên nhân thuộc về tính tất yếu của giới tự nhiên hoặc


đức học.

người. Và

cuối

cùng, nhiệm vụ trả lời câu hỏi thứ tư thuộc về nhân học - nhân học, mà
ngay trong cách đặt vấn đề của Cantơ cũng đã được phân biệt rạch ròi với
nhận thức luận, với đạo đức học và với tôn giáo. Rõ ràng, đây là một kiểu
phân loại hết sức độc đáo mà trước đó, khoa học, tôn giáo và triết học thường
có thái độ loại trừ nhau, không thừa nhận tiếng nói và vị thế của nhau trong
đời sống tinh thần con người. Cách phân loại của Cantơ đặt lại vấn đề về ý
nghĩa của sự tồn tại người trong chính nhận thức. Hơn thế nữa, Cantơ còn chỉ
rõ thực chất của sự nhận thức thế giới nói chung đối với con người, hoá ra lại
chính là, nhận thức con người; Cantơ viết: "Về thực chất, toàn bộ điều đó (4
câu hỏi và sứ mệnh trả lời 4 câu hỏi ấy) có thể quy giản về nhân học. Bởi vì,
ba vấn đề đầu tiên thuộc về vấn đề cuối cùng".
Kể từ Cantơ, nhân học triết học nói riêng và đặc biệt, các ngành nhân
học thực nghiệm khác đã có những bước tiến rất dài trong nhận thức về con
người và đời sống con người. Ngày nay, nhắc đến nhân học người ta rất ít nói
về Cantơ, nhưng quả thực công lao của ông đối với ngành khoa học này thì
khó có thể phủ nhận.


Quan niệm về đạo đức: Để trả lời câu hỏi “Tôi cần phải làm gì?” Cantơ
đã xây dựng một số quan niệm về đạo đức, những quan niệm
đựng trong tác

chứa

1.2.2. Tư tưởng về con trường trong triết học của Heghen
Ông chịu ảnh hưởng rất lớn từ tư tưởng của Cantơ, một phần từ các tác
phẩm của Heraclitus và Spinoza. Ông triển khai di sản triết học của Cantơ và
hình thành nên thuyết duy tâm siêu hình học của mình.
Ông đề cập về con người và khả năng lớn lao của lý trí con người. Hegel
đã thiết lập mệnh đề tổng quát rằng “cái gì có lý tính là hiện thực và cái gì
hiện thực là lý tính”, từ mệnh đề này ông đi đến kết luận rằng bất cứ cái gì tồn


tại đều có thể hiểu được. Điều này ông đi ngược lại với những gì mà Cantơ đã
đề cấp đến nhưng cho là không thể giải quyết được trong nhận thức của lý trí
thuần tuý như: Vấn đề Thượng Đế, Bản Ngã và Vũ trụ. Bằng tổng hợp triết
học đồ sộ của mình, Hegel tin lý trí con người có thể lý giải tất cả mọi vấn đề
của thực tại.
Riêng vấn đề con người, khác với Cantơ, Hegel cho rằng các phạm trù
không phải như là những quá trình của tinh thần mà như là những thực tại
khách quan có sự tồn tại độc lập với cá thể tư duy. Ông xem xét những chủ đề
về sự tha hóa của con người khỏi Thượng Đế và sự phục hồi của sự duy nhất
bị đánh mất giữa cái hữu hạn và cái vô hạn, sự vô hạn này là đời sống sáng
tạo vốn ôm ấp mọi tư tưởng trong một vũ trụ duy nhất và đó chính là Thượng
Đế hay Toàn Thể hoặc là Thực tại như là một toàn thế.
Trong tác phẩm chính đầu tiên của ông là Hiện tượng luận về tinh thần
(Phenomenology of the Spirit), Hegel đề cập đến khả năng biện chứng của
con người, “khởi đi với những mức độ thấp nhất của ý thức và công trình của
con người một cách biện chứng hướng đến mức độ mà ở đó tâm trí con người
đạt tới quan điểm tuyệt đối”.
1.2.3. Tư tưởng về con trường trong triết học của Phoiơbắc
Vốn là người có tư tưởng cách tân, Phoiơbắc mơ tới việc thiết kế những
đồ án cho việc cải cách triết học và ông thực sự đã làm như vậy trong 2 tác
phẩm: Những luận điểm dự thảo cho cuộc cải cách triết học (1842), Những

từ đâu đến, cơ quan cơ thể từ đâu đến, thì tinh thần cũng đến từ đấy ngay cả
hoạt động tinh thần cũng là việc làm của cơ thể, của đầu óc con người, hoạt
động đó khác với các hoạt động khác ở chỗ, nó là hoạt động của đầu óc.
Không phải là người nghiên cứu sâu về sinh lý học, song Phoiơbắc cũng
nhận thấy rằng, mỗi con người cụ thể bằng xương bằng thịt đang sống và hoạt
động là những bằng chứng sinh động về sự thống nhất giữa thể xác và tinh
thần, giữa phương diện vật lý và phương diện tâm lý. Sự thống nhất này phản
ánh sự thống nhất giữa cấu trúc và chức năng, giữa giải phẫu học và sinh lý
học. Và cũng từ đó ông dễ dàng rút ra một kết luận triết học duy vật rằng, tư
duy, ý thức của con người không là cái gì khác như là thuộc tính vốn có của
một dạng vật chất có tổ chức cao - bộ óc con người. Chính ở đây, ông đã phần
nào phỏng đoán được nội dung vấn đề cơ bản của triết học, điều mà sau này
Ăngghen đã phát biểu một cách rõ ràng hơn trong tác phẩm Lutvich Phơbách
và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức.
Sau khi công nhận một cách dứt khoát rằng, tồn tại là chủ thể, tư duy là
thuộc tính, ý thức là sản phẩm của bộ óc con người, Phoiơbắc đi đến việc tìm
hiểu sâu hơn bản chất tự nhiên - sinh học của con người. "Bản chất chung của
con người là gì? Những nhân tính cơ bản trong con người là gì? Đó là lý tính,
ý chí và trái tim. Con người hoàn thiện có năng lực tư duy, sức mạnh ý chí và


nguồn lực tình cảm. Năng lực tư duy chính là ánh sáng của nhận thức, sức
mạnh của ý chí chính là năng lượng của tính cách, nguồn lực tình cảm chính
là tình yêu... Trong ý chí, tư duy và tình cảm luôn chứa đựng bản chất tối cao,
tuyệt đối của con người và mục đích tồn tại của nó... con người tồn tại để
nhận thức, yêu thương và mong muốn. Nhưng mục đích của lý tính, của ý chí,
của tình yêu là gì? Là để làm cho con người trở thành người tự do". Đoạn
trích này là một văn bản điển hình thuộc Chương I với nhan đề Bản chất
chung của con người trong tác phẩm Bản chất Kitô giáo, do Phoiơbắc viết vào
năm 1841. Qua những lời lẽ đó, nhà triết học cổ điển Đức muốn chứng minh

điều kiện thực tế để thực hiện đợc sự giải phóng ấy. Tại Đại hội III, Đảng ta
xác định “con ngời là vốn quý nhất”, đến Đại hội IV, Đảng ta đã đa ra luận
điểm “con ngời mới – con ngời làm chủ tập thể”. Đây là sự vận dụng sáng tạo


và cụ thể hoá quan điểm về “quyền con ngời” và “quyền công dân” của triết
học Mác. Đại hội V, Đảng ta tiếp tục phát triển luận điểm con ngời mới, đồng
thời nhấn mạnh lòng nhân ái là truyền thống đặc trng của nhân dân ta. Đến
Đại hội VI, Đảng ta khẳng định vai trò quan trọng của nhân tố con ngời trong
toàn bộ sự phát triển kinh tế – xã hội. Đặc biệt, tại Đại hội VII, cơng lĩnh xây
dựng đất nớc trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội đợc thông qua, trong
đó, vấn đề con ngời đợc Đảng ta đặt vào vị trí trung tâm của chiến lợc phát
triển kinh tế – xã hội. Cơng lĩnh xác định: “Nguồn lực lớn nhất, quý báu nhất
của chúng ta là tiềm lực con ngời Việt Nam”. Hội nghị lần thứ T Ban chấp
hành Trung ơng(khoá VII), nhận thức về vai trò nhân tố con ngời của Đảng ta
đợc nâng lên một tầm cao mới. Đảng ta cho rằng: “Sự phát triển con ngời
quyết định mọi sự phát triển nh sự phát triển xã hội, phát triển kinh tế, phát
triển văn hoá…”. Và cũng tại Hội nghị này, đồng chí Tổng Bí th Đỗ Mời đã
nói: “Chúng ta cần hiểu sâu sắc những giá trị lớn lao và ý nghĩa quyết định
của nhân tố con ngời, chủ thể của mọi sáng tạo, mọi nguồn của cải vật chất và
văn hoá, mọi nền văn minh của quốc gia”. Đây chính là sự cụ thể hoá sâu sắc
t tởng con ngời lịch sử, con ngời xã hội trong triết học Mác vào điều kiện cụ
thể ở Việt Nam. Tại Đại hội VIII, Đảng ta khẳng định: “phát triển đất nớc
theo hớng đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá là xây dựng nớc ta thành
một nớc công nghiệp có cơ sở vật chất – kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp
lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lợng sản
xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng an ninh vững chắc, dân
giàu nớc mạnh, xã hội công bằng, văn minh” [4 – tr 80]. T tởng đó không chỉ
thể hiện ớc mơ, khao khát, nguyện vọng chính đáng bao đời nay của dân tộc
ta, mà hơn thế nữa nó hoàn toàn phù hợp với xu thế và quy luật phát triển của

Xác định con ngời là mục tiêu của phát triển kinh tế – xã hội, trên cơ sở
nhất quán những nội dung cụ thể đợc trình bày trong Nghị quyết Trung ơng 5
khoá VIII, Đại hội IX xác định: “Mọi hoạt động văn hoá nhằm xây dựng con


ngời Việt Nam phát triển toàn diện về chính trị, t tởng, trí tuệ, đạo đức, thể
chất, năng lực sáng tạo, có ý thức cộng đồng, lòng nhân ái, khoan dung, tôn
trọng nghĩa tình, lối sống có văn hoá, quan hệ hài hoà trong gia đình, cộng
đồng và xã hội, kế thừa truyền thống cách mạng của dân tộc, phát huy tinh
thần yêu nớc, ý chí tự lực, tự cờng xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [11 – tr 114].
Nh vậy, trên cơ sở nhất quán với những nội dung cụ thể đợc trình bày
trong Nghị quyết Trung ơng 5 khoá VIII, Đại hội IX nêu lên một cách khái
quát về mô hình con ngời Việt Nam trong thời kỳ mới, trong đó Đại hội bổ
sung, làm rõ thêm về con ngời phát triển toàn diện, có yếu tố mới nh: trí tuệ,
thể chất, năng lực sáng tạo, quan hệ hài hoà trong gia đình, cộng đồng và xã
hội, ý chí tự lực tự cờng xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Nhất quán với quan điểm của các kỳ đại hội, nhất là quan điểm của Đại
hội IX, trên cơ sở tổng kết thực tiễn qua 20 năm đổi mới đất nớc và những bài
học của các nớc xã hội chủ nghĩa trên thế giới, tại Đại hội X, Đảng ta đa ra
những đặc trng cơ bản của mô hình xã hội chủ nghĩa mà chúng ta xây dựng
là: “một xã hội dân giàu, nớc mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh; do nhân
dân lao động làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lợng sản xuất
hiện đại và quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lợng sản
xuất; có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con ngời đợc giải
phóng khỏi áp bức, bất công, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, phát triển
toàn diện…” [21 – tr 68]. Với các tiêu chí này, chúng ta có thể nhận thấy
rằng, con ngời – tức toàn thể nhân dân, dân tộc, hiện diện nh mục đích chủ
yếu, nh yêu cầu trung tâm, có ý nghĩa quyết định. Các đặc trng này đã thể
hiện rõ sự vận dụng sáng tạo quan điểm về vai trò của con ngời trong triết học
Mác của Đảng ta một cách sâu sắc và chặt chẽ trên tất cả các lĩnh vực, để từng



Hai là, “Phải gắn tăng trởng kinh tế với phát triển văn hoá, phát triển
toàn diện con ngời, thực hiện dân chủ, tiến bộ và công bằng xã hội, tạo nhiều
việc làm, cải thiện đời sống, khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với xoá
đói, giảm nghèo.Từng bớc thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng” [23
– tr 178, 179].
Ba là, “Đổi mới toàn diện giáo dục và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực
chất lợng cao” [24 – tr 95].
Là lực lợng chính trị, lực lợng cách mạng tin cậy của Đảng, Nhà nớc và
nhân dân, lực lợng vũ trang nhân nói chung, quân đội nhân dân nói riêng phải
đợc xây dựng ngày càng thiện chiến và hiện đại cả về chính trị và quân sự, cả
về kỹ thật và chiến thuật…đảm bảo khả năng sẵn sàng đánh thắng mọi kẻ thù
xâm lợc dới bất kỳ quy mô và hình thức nào, hoàn thành tốt chức năng đội
quân chiến đấu, lao động sản xuất và công tác trong thời kỳ mới.
Trên nền tảng t tởng đó, Đảng ta xác định, “Tăng cờng quốc phòng, giữ
vững an ninh quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ là nhiệm vụ trọng yếu thờng
xuyên của Đảng, Nhà nớc và của toàn dân, trong đó quân đội và công an nhân
dân là lực lợng nòng cốt” [16 – tr 40, 117]. Vì vậy, việc xây dựng quân đội
nói chung và xây dựng đội ngũ cán bộ nói riêng có ý nghiã hết sức quan trọng
cả trớc mắt và lâu dài. Quan điểm đó đợc thể hiện rõ nét qua các kỳ Đại hội.
Tại Đại hội VI, Đảng ta xác định: “Xây dựng quân đội nhân dân chính
quy ngày càng hiện đại có chất lợng tổng hợp ngày càng cao, có tổ chức hợp
lý, cân đối, gọn và mạnh, có kỷ luật chặt chẽ, có trình độ sẵn sàng chiến đấu
và sức chiến đấu cao” [1 – tr 38].
Đến Đại hội VII và Đại hội VIII, Đảng ta tiếp tục xác định: “Xây dựng
các lực lợng vũ trang nhân dân có chất lợng ngày càng cao, xây dựng quân
đội nhân dân cách mạng chính quy, từng bớc hiện đại, tinh nhuệ, với cơ cấu tổ
chức và quân số hợp lý, nâng cao chất lợng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu”


+ Thờng xuyên tăng cờng sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội.
“Thờng xuyên tăng cờng sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng


đối với quân đội nhân dân và công an nhân dân, đối với sự nghiệp quốc phòng
và an ninh” [18 – tr 41, 42, 119].
+ Xây dựng bản lĩnh chính trị, trình độ tổ chức chỉ huy cho cán bộ các
cấp, trớc hết là cán bộ lãnh đạo. “Không ngừng nâng cao trình độ chính trị,
học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ, kiến thức lãnh đạo, quản lý và công tác vận
động nhân dân, phát huy vai trò tiên phong gơng mẫu” [19 – tr 53, 54], “Xây
dựng đội ngũ cán bộ, trớc hết là cán bộ lãnh đạo và quản lý ở các cấp, vững
vàng về chính trị, gơng mẫu về đạo đức, trong sạch về lối sống, có trí tuệ,
kiến thức và năng lực hoạt động thực tiễn sáng tạo, gắn bó với nhân dân” [20
– tr 141].
Nhất quán với các quan điểm trên đây, căn cứ vào yêu cầu của sự
nghiệp đổi mới đất nớc trong điều kiện mới, trong văn kiện Đại hội X, Đảng
ta tiếp tục khẳng định: “Xây dựng nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân
dân vững mạnh toàn diện; bảo vệ vững chắc Tổ quốc, độc lập, chủ quyền,
thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; bảo vệ Đảng, Nhà nớc, nhân dân và chế độ xã
hội chủ nghĩa; bảo vệ an ninh chính trị, an ninh kinh tế, an ninh t tởng văn hoá
và an ninh xã hội; duy trì trật tự, kỷ cơng, an toàn xã hội; giữ vững ổn định
chính trị của đất nớc, ngăn ngừa, đẩy lùi và làm thất bại mọi âm mu, hoạt
động chống phá, thù địch, không để bị động, bất ngờ” [25 – tr 108, 109].
Trong bối cảnh đất nớc ngày càng hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế
toàn cầu, nhất là sau khi nớc ta gia nhập tổ chức thơng mại thế giới và đợc
bầu là uỷ viên không thờng trực của Hội đồng bảo an Liên Hợp quốc (nhiệm
kỳ 2008-2009), nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc của chúng ta vừa có những thuận
lợi mới vừa có những khó khăn, thách thức mới. Trớc tình hình đó,để thực
hiện thắng lợi mục tiêu đặt ra, Đại hội X xác định các nhiệm vụ và giải pháp
cơ bản sau đây:



KẾT LUẬN
Triết học cổ điển Đức là một giai đoạn lịch sử tương đối ngắn nhưng nó
đã tạo ra những thành quả kì diệu trong lịch sử triết học. Trước hết, nó đã
từng bước khắc phục những hạn chế siêu hình của triết học duy vật thế kỉ
XVII – XVIII. Thành quả lớn nhất của nó là những tư tưởng biện chứng đạt
tới trình độ một hệ thống lí luận – điều mà phép biện chứng thời cổ đại Hy
Lạp đã chưa thể đạt tới và chủ nghĩa duy vật thế kỉ XVII – XVIII Tây Âu
cũng không có khả năng tạo ra.
Triết học cổ điển Đức là một giai đoạn lịch sử tương đối ngắn nhưng nó
đã tạo ra những thành quả kì diệu trong lịch sử triết học. Trước hết, nó đã
từng bước khắc phục những hạn chế siêu hình của triết học duy vật thế kỉ
XVII – XVIII. Thành quả lớn nhất của nó là những tư tưởng biện chứng đạt
tới trình độ một hệ thống lí luận – điều mà phép biện chứng thời cổ đại Hy
Lạp đã chưa thể đạt tới và chủ nghĩa duy vật thế kỉ XVII – XVIII Tây Âu
cũng không có khả năng tạo ra.
Tuy nhiên, hạn chế lớn nhất của triết học cổ điển Đức là tính chất duy
tâm, nhất là duy tâm khách quan của Hê ghen, còn chủ nghĩa duy vật của Phơ
bách thì xét về thực chất không vượt qua trình độ chủ nghĩa duy vật thế kỉ
XVII – XVIII.
Triết học cổ điển Đức là một trong những tiền đề lí luận cơ bản của triết
học Mac, và toàn bộ chủ nghĩa Mac – Lênin nói chung. Những hạn chế và
thành quả của triết học cổ điển Đức đã được triết học Mac khắc phục, kế thừa
và nâng lên ở trình độ mới của chủ nghĩa duy vật hiện đại.


DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ Giáo dục và đào tạo, Triết học (Dùng cho nghiên cứu sinh và học
viên cao học không thuộc chuyên ngành triết học), Nhà xuất bản chính trị

thứ IX, Nxb CTQG, Hà Nội, năm 2001.
13. Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ IX, Nxb CTQG, Hà Nội, năm 2001.
14. Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ IX, Nxb CTQG, Hà Nội, năm 2001.
15. Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ IX, Nxb CTQG, Hà Nội, năm 2001.
16. Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ IX, Nxb CTQG, Hà Nội, năm 2001.
17. Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ IX, Nxb CTQG, Hà Nội, năm 2001.
18. Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ IX, Nxb CTQG, Hà Nội, năm 2001.
19. Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ IX, Nxb CTQG, Hà Nội, năm 2001.
20. Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ IX, Nxb CTQG, Hà Nội, năm 2001.
21. Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ X, Nxb CTQG, Hà Nội, năm 2006.
22. Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ X, Nxb CTQG, Hà Nội, năm 2006.
23. Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ X, Nxb CTQG, Hà Nội, năm 2006.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status