MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Dân số và phát triển kinh tế - xã hội là một trong những vấn đề từ
lâu đã thu hút nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu. Cách đây hơn 200
năm, giáo sư sử học người Anh Thomas Malthus lần đầu tiên đã đề cập đến
vấn đề này một cách rõ ràng và có hệ thống nhất trong quyển "Bàn về
nguyên tắc dân số" trong lúc dân số thế giới chưa đầy 1 tỷ người.
Từ khi xảy ra hiện tượng "bùng nổ dân số", vấn đề dân số không
còn là của riêng của một quốc gia nào, mà là của cả thế giới mang tính toàn
cầu, thách thức nhân loại, đòi hỏi nhân loại phải có thái độ nghiêm túc hơn
trong việc nghiên cứu và xử lý mối quan hệ giữa dân số và phát triển. Vấn
đề này, từ lâu đã được các nhà khoa học và các nhà chính trị quan tâm đặc
biệt. "Cho đến nay thế giới đã trải qua 5 kỳ hội nghị quốc tế về vấn đề dân
số, trong đó 2 kỳ họp vào năm 1945 tại Roma (Italia) và năm 1965 tại Bêô-grát (Nam Tư cũ) mang tính chất trao đổi chuyên ngành. Ba kỳ họp tiếp
theo được Liên Hiệp Quốc tổ chức vào các năm 1974 tại Bucarét (Rumani)
1984 tại Mêhicô citi (Mêhicô) và năm 1994 tại Cairô (Ai Cập)" [22, X].
Chương trình hành động của hội nghị quốc tế về dân số và phát triển họp ở
Cairô đã đưa ra 15 nguyên tắc trong đó nguyên tắc thứ 6 nêu rõ: " Ngày
nay cũng như trong tương lai, đòi hỏi các mối liên hệ giữa dân số, tài
nguyên môi trường và phát triển phải được công nhận đầy đủ, quản lý đúng
đắn và đạt đến sự hài hòa, năng động" [24, 14]. Nhờ sự quan tâm đặc biệt
này mà trong những năm gần đây các công trình nghiên cứu về dân số và
phát triển ra đời nhiều hơn, nghiên cứu một cách có hệ thống hơn. Cũng
chính từ đó cho thấy, vấn đề dân số và phát triển là một trong những vấn đề
phức tạp và còn rất nhiều quan điểm khác nhau, thậm chí trái ngược nhau.
1
Trong lĩnh vực triết học, vấn đề dân số và phát triển đã được các
phúc cho nhân dân "Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là
làm sao cho nước được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do,
đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành" [5, 161]. Thực
hiện mong muốn của Hồ Chủ tịch, Đảng Cộng sản Việt Nam không chỉ
lãnh đạo nhân dân thực hiện công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, mà
còn quan tâm giải quyết những vấn đề về chăm lo đời sống cho nhân dân,
vấn đề quan hệ giữa dân số và phát triển. Trong thời kỳ chiến tranh khốc
liệt mặc dù cần nhiều sức người cung cấp cho các chiến trường và xây
dựng xã hội mới, nhưng Đảng ta đã cảnh báo rằng dân số Việt Nam tăng
nhanh sẽ là lực cản lớn, hạn chế phát triển.
Trong công cuộc đổi mới hiện nay, Đảng ta xác định "công tác
DSKHH - GĐ là một bộ phận quan trọng của chiến lược phát triển đất
nước, là một trong những vấn đề kinh tế xã hội hàng đầu của nước ta, là
một trong những yếu tố cơ bản để nâng cao chất lượng cuộc sống của từng
người, từng gia đình và toàn xã hội" [112, 74]. Nhưng trong công cuộc vận
động thực hiện các mục tiêu về DSKHH - GĐ, bên cạnh các quan điểm
đúng đắn về quan hệ giữa dân số và phát triển còn một số quan điểm chưa
đúng đắn như tuyệt đối hóa vai trò của dân số. Quan điểm này làm cho có
một số người ngộ nhận rằng chính quá trình gia tăng dân số Việt Nam là
nguyên nhân cơ bản nhất quyết định sự vận động và phát triển của xã hội
Việt Nam. Mặt khác có một số quan điểm lại cho rằng vấn đề dân số không
liên quan gì đến sự phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam. Do đó công tác
nghiên cứu để có quan điểm đúng đắn về quan hệ giữa dân số và phát triển
trong công cuộc đổi mới đặc biệt là thời kỳ đẩy mạnh CNH và HĐH hiện nay
ở nước ta lại càng trở nên bức bách cả về lý luận và thực tiễn, cả về trước mắt
và lâu dài.
2. Tình hình nghiên cứu
3
Việt Nam - Giới thiệu và bình luận, Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn
4
quốc gia, Viện Thông tin Khoa học xã hội, 1995; Cơ sở văn hóa Việt Nam
do GS Trần Quốc Vượng chủ biên, Nhà xuất bản Giáo dục 1997. Gần đây
còn có các công trình nghiên cứu của tập thể các nhà khoa học trong dự án
VIE/97/P17 với các đề tài Dân số và phát triển - Một số vấn đề cơ bản do
GS.TS Lê Hữu Nghĩa chủ biên, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội,
2000; Dân số và phát triển của PGS.TS Vũ Hiền và TS Vũ Đình Hòe đồng
chủ biên, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999...
Song song với các công trình trên, chúng tôi còn tham khảo các báo
cáo, công trình khoa học đã được đăng tải trên các Tạp chí Cộng sản, Tạp
chí Triết học, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, Tạp chí Khoa học xã hội, các bài
báo đã được đăng tải trên các báo Nhân Dân, Báo Tuổi trẻ, Báo Khoa học
phổ thông...
Ngoài ra, chúng tôi còn tham khảo các tài liệu của các nhà khoa học
đã đi trước như: Luận án PTS khoa học địa chất của Đặng Kim Hồng với
đề tài: "Sự phát triển dân số và mối quan hệ của nó với sự phát triển kinh
tế - xã hội của Thành phố Hồ Chí Minh"; Luận án PTS khoa học kinh tế
của Doãn Mậu Diệp với đề tài: "Mô hình hóa toán học một số quá trình
dân số và quan hệ dân số với kinh tế"; Luận án khoa học kinh tế của Đỗ
Tiến Dũng với đề tài: "Tác động của tăng trưởng dân số đến môi trường tự
nhiên vùng Tây Nguyên".
Chúng tôi còn tham khảo các công trình nghiên cứu của các nhà
khoa học nước ngoài đã được dịch ra tiếng Việt như: Michael P. Todaro
trong quyển Kinh tế học cho thế giới thứ ba. Nhà xuất bản Giáo dục, 1998;
Dejkin: Nói chuyện về sinh thái học, Nhà xuất bản Khoa học và kỹ thuật,
Hà Nội, 1985; các tuyên bố của các hội nghị về dân số và phát triển trên thế
giới; các cam kết của các chính phủ về vấn đề dân số và phát triển, về vấn
Luận án làm rõ khái niệm dân số, phát triển, phát triển bền vững và
mối quan hệ biện chứng giữa dân và phát triển.
6
Luận án xác định rõ vai trò vị trí và tầm quan trọng của dân số trong
tồn tại xã hội cũng như sự tác động của các yếu tố khác trong tồn tại xã hội
như môi trường địa lý và phương thức sản xuất vật chất của xã hội đối với
dân số.
Phân tích vai trò của dân số đối với sự phát triển kinh tế - xã hội
cũng như sự tác động của nền kinh tế, của giáo dục, y tế, tài nguyên môi
trường đối với các quá trình dân số.
Từ thực trạng quan hệ giữa dân số và phát triển ở nước ta cũng như
những vấn đề đặt ra luận án vạch ra các nguyên nhân và các giải pháp cho
vấn đề dân số bảo đảm cho sự phát triển kinh tế xã hội ở nước ta được liên
tục và bền vững.
4. Cơ sở và phương pháp nghiên cứu
Luận án dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và
chủ nghĩa duy vật lịch sử của triết học mác-xít, những tác phẩm kinh điển
của chủ nghĩa Mác-Lênin. Các văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam, tư
tưởng Hồ Chí Minh, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ;
Hội nghị Trung ương lần thứ tư (khóa VII) về công tác DS-KHHGĐ, các
công trình nghiên cứu của các nhà khoa học làm cơ sở lý luận và tài liệu
của luận án.
Thực tiễn biến động của các quá trình dân số Việt Nam, quá trình
phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam trước và trong đổi mới cũng như sự
tương tác qua lại giữa dân số và phát triển của Việt Nam trong thời gian
qua làm cơ sở thực tiễn của luận án.
Phương pháp nghiên cứu của luận án là phương pháp lịch sử, logic,
Theo quan điểm chính thống, dân số là đại lượng tuyệt đối con người
trong một đơn vị hành chính (xã, phường, huyện, tỉnh, vùng) hay một quốc
gia, một châu lục hoặc cả hành tinh chúng ta tại một thời điểm nhất định.
Ở đây, chúng ta cần phân biệt giữa dân số và dân cư, dân số với số
dân. Dân cư là những tập hợp người sống trên một lãnh thổ được đặc trưng
bởi kết cấu và các mối quan hệ qua lại với nhau xét về mặt kinh tế, bởi tính
chất của việc phân công lao động và cư trú theo lãnh thổ. Còn số dân chỉ
biểu thị đơn thuần về mặt số lượng của dân số.
Dân số không phải là một số lượng con người được cộng lại một
cách giản đơn như toán học, mà là một cộng đồng người sống trên một lãnh
thổ tại một thời điểm xác định. Vì thế, khái niệm dân số không chỉ biểu thị
về mặt số lượng, mà còn hàm chứa mặt chất lượng như kết cấu, sự phân bố,
trình độ văn hóa... Theo C.Mác và Ph.Ăngghen dân số với cả số lượng và
chất lượng của nó chính là "những cá nhân con người sống". Theo cách
hiểu triết học thì "dân số là số lượng người làm ăn sinh sống trong một
vùng lãnh thổ nhất định nào đó: một quốc gia, một địa phương... Vấn đề
dân số bao gồm nhiều mặt như số lượng, chất lượng dân cư, mật độ dân cư,
sự gia tăng dân số, sự phân bố dân cư theo lãnh thổ" [34, 422].
Nếu xem xét về mặt số lượng của dân số, theo quan điểm triết học,
đó là: "Số lượng dân cư, mật độ dân cư là thể hiện sức mạnh về lượng của
dân số, theo nghĩa: số người càng đông, sức mạnh càng lớn. Thực chất đây
là sức mạnh được tính theo cơ bắp, sức mạnh thuộc về thể lực của con
9
người. Sức mạnh về lượng của dân số phụ thuộc rất lớn vào trình độ tổ
chức, quản lý, vào sự đoàn kết [34, 422].
Sức mạnh về chất lượng của dân số là "sự thể hiện sức mạnh trí lực
của con người, lao động trí tuệ như kỹ năng, kỹ xảo, năng lực thực hành
những hoạt động có hàm lượng khoa học cao, sự thông minh nhạy bén, ý
xuất giống người. Điều này được thực hiện trong khuôn khổ của hệ thống
dân số của xã hội..." [119, 68]. Theo cách này, ta lại có thể hiểu dân số
không chỉ đơn thuần là một hiện tượng xã hội đơn lẻ, mà là một hệ thống
xã hội. Tuy nhiên ông lại coi dân số chỉ là dân cư?
Trong "Từ điển triết học giản yếu" viết: "Dân cư là toàn bộ người
thường trú trong một khoảng thời gian lịch sử nhất định trên một địa bàn
(một nước, một miền hay một địa điểm của một nước, một vùng nhiều
nước, hoặc cả thế giới). Dân cư không phải là một khái niệm trừu tượng,
một tổng số cư dân, mà là một tổng thể; cấu trúc của nó do một hình thái
kinh tế - xã hội nhất định quyết định" [64, 113-114].
Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin thường xem xét dân số
gắn với việc xem xét các nhu cầu hoạt động và nhu cầu sống của con
người. Vì thế mỗi khi nói đến dân số, các ông thường xem xét nó trong mối
quan hệ với nhu cầu, nhất là sự gia tăng dân số thường kéo theo sự gia tăng
nhu cầu. Theo chúng tôi, đây là một cách xem xét mối quan hệ giữa dân số
và phát triển. Phát triển chính là quá trình giải quyết các nhu cầu chân
chính của con người, và hơn thế nữa, chính là quá xem xét và giải quyết
mối quan hệ của những con người đang hoạt động, đang sống với những
điều kiện, cả những điều kiện tự nhiên và điều kiện xã hội của sự hoạt động
đó. Vì thế, khi đề cập đến việc nghiên cứu phương thức mà con người sản
xuất ra những tư liệu sinh hoạt của mình, các ông nói: "Không nên nghiên
cứu phương thức sản xuất ấy đơn thuần theo khía cạnh nó là sự tái sản xuất
ra sự tồn tại thể xác của các cá nhân. Mà hơn thế, nó đã là một hình thức
hoạt động nhất định của những cá nhân ấy, một hình thức nhất định của sự
11
biểu hiện đời sống của họ, một phương thức sinh sống nhất định của họ"
[61, 269] và "Những cá nhân biểu hiện đời sống của họ như thế nào thì họ
giới vật chất. Trong quá trình phát triển, sẽ nảy sinh những quy luật cao
hơn về chất, đó là một quá trình quanh co phức tạp. Lênin đã phân tích về
chất của quá trình phát triển, luận chứng tính tất yếu của cuộc đấu tranh của
các mặt đối lập với tính cách là nguồn gốc nội tại của quá trình này. Ông
cho rằng, quá trình phát triển đồng thời cũng là sự gián đoạn của tính liên
tục. Sự quá độ từ cái cụ thể này sang mặt đối lập của nó. "Sự phát triển là
cuộc đấu tranh của các mặt đối lập. Sự phát triển dường như diễn lại các
giai đoạn đã qua, nhưng dưới một hình khác ở một trình độ cao hơn. Sự
phát triển ấy diễn ra theo đường xoắn ốc chứ không theo đường thẳng. Sự
phát triển bằng những hình thức nhảy vọt, bằng những sự đột biến, bằng
những cuộc cách mạng, những bước gián đoạn của sự tiến triển dần dần, sự
biến đổi lượng thành chất".
Đây là quan niệm về sự phát triển nói chung, sự phát triển biện chứng.
Tuy nhiên, trong giới hạn của vấn đề, chúng ta cần xem xét sự phát triển
một cách cụ thể hơn. Đó là sự phát triển của xã hội, và gắn với nó là một
hiện tượng xã hội cụ thể, là một yếu tố cấu thành tồn tại xã hội: đó là dân
số. Nhưng, trong thực tế lại có nhiều cách định nghĩa về phát triển khác nhau:
Quan niệm thứ nhất: Những năm 1960 và 1970 - được gọi là những
thập kỷ phát triển và phát triển hầu hết đều được hiểu phần lớn theo nghĩa
là khả năng đạt được tốc độ tăng GNP đạt hàng năm là 6 % [54].
Quan niệm thứ hai: Coi phát triển là hạn chế và xóa bỏ nạn nghèo
đói, bất công, bất bình đẳng và thất nghiệp trong bối cảnh của một nền kinh
tế đang tăng trưởng... Cụ thể hơn, họ còn cho rằng phát triển là một quá
trình nhiều mặt, liên quan đến những thay đổi trong cơ cấu, thái độ và thể
chế xã hội, cũng như việc đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế, giảm bớt mức độ
bất bình đẳng và xóa bỏ tình trạng nghèo đói tuyệt đối... Vì thế, họ coi phát
triển là và chủ yếu là phát triển kinh tế. Trong đó bao hàm cả việc tăng trưởng
kinh tế và việc phân phối một cách rộng rãi các lợi ích kinh tế...[100].
của sự phát triển xã hội! Sau này người ta đưa ra khái niệm về phát triển
bền vững.
15
Theo quan niệm chung thì phát triển bền vững là một loại hình phát
triển của xã hội và được hiểu theo các nội dung sau: Phát triển nhằm vào
việc giải quyết tốt các quan hệ xã hội: tạo ra công ăn việc làm, cải thiện các
quan hệ xã hội, thực hiện công bằng xã hội, thực hiện tốt xóa đói giảm
nghèo... Phát triển dựa trên cơ sở tự lực cánh sinh, dựa vào sức mình là
chính; là tôn trọng, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc; phát triển không phải
là vay mượn, không phải là nhờ làm hộ, không phải dựa trên nguồn lực
nước ngoài, không phải là lai căng, mất gốc. Phát triển phải gắn với việc bảo
vệ tốt tài nguyên môi trường, bảo vệ tính đa dạng sinh học, không phải nhằm
vào vơ vét tài nguyên thiên nhiên, không phải lấy tương lai để duy trì hiện tại,
không phải là để lại đằng sau từng bước phát triển của mình một bãi hoang
mạc, không đẩy thế hệ mai sau lâm vào hoàn cảnh phải đối mặt với hiện
tượng "tự nhiên quay lưng lại với con người, trả thù con người". Phát triển
bền vững cũng có thể quan niệm "phải có một sự phát triển cân đối và thích
hợp giữa các yếu tố dân số, kinh tế văn hóa mới có sự phát triển bền vững
của một quốc gia một dân tộc" [45, 122]. "Phát triển bền vững hàm chứa yếu
tố công bằng xã hội và văn hóa đồng thời phát triển mà vẫn bảo vệ được
sinh thái hay tái lập một hệ sinh thái mới phù hợp cao phát triển lâu dài"
[86, 29].
Theo chúng tôi, phát triển cần phải bảo đảm sự tồn tại lâu dài - đó
là sự phát triển bền vững. Từ quan niệm này chúng ta có thể coi: phát triển
bền vững là sự phát triển đáp ứng những nhu cầu của thế hệ hiện tại mà
không làm hại đến khả năng các thế hệ tương lai đáp ứng yêu cầu của họ.
Hội nghị quốc tế về dân số và phát triển Cai rô từ 5-13/9 năm 1994
đã vạch ra chương trình hành động quốc tế, trong đó có nêu: "Thừa nhận
đẳng về xã hội để tránh xuất hiện một giai cấp người nghèo. Theo ông, dân
số gia tăng là một yếu tố của sự bần cùng hóa, vì thế số lượng dân cư trong
một đô thị cần phải ổn định, tương thích với một không gian hợp lý. Cái cốt
yếu của đô thị là tự nó phải đủ với nó. Đô thị không nên quá nhỏ vì nó cản
trở sự phân công lao động xã hội và các hoạt động kinh tế cần thiết khác
nhằm thỏa mãn nhu cầu của thị dân. Nhưng nếu số lượng dân cư quá lớn sẽ
18
dẫn tới một số lượng người nghèo đông đúc, việc quản lý đô thị sẽ trở nên
khó khăn hơn và có nguy cơ rối loạn. Từ quan điểm bảo đảm một dân cư
hợp lý đó, ông cho rằng cần có một luật pháp để tạo ra một loạt các biện
pháp giảm sinh như làm trụy thai hoặc cần trao cho các vị thẩm phán quyền
ra lệnh phá thai hay giết trẻ em bằng cách vứt những đứa trẻ ngoài mong
muốn vào lửa để kiểm soát số dân.
Trong tư tưởng triết học phương đông cổ đại, người ta còn nhắc đến
tư tưởng của Lão Tử và Khổng tử. Lão Tử (thế kỷ thứ VI trước Công
nguyên), nhà triết học cổ đại Trung Quốc đã từng quan niệm nếu một quốc
gia nhỏ bé thì sẽ có cuộc sống hạnh phúc. Còn Khổng Tử (551-497 trước
Công nguyên) lại rất chú ý đến vấn đề dân số; nhất là mối quan hệ giữa dân số
và tài nguyên môi trường. Ông cho rằng giữa số dân và diện tích đất đai có
mối quan hệ cân đối. Nếu tính cân đối đó không được duy trì, chẳng hạn
như dân số ít thì đất đai bị bỏ không, hoặc là dân số thừa thì sẽ gặp nhiều
khó khăn. Tư tưởng của Khổng Tử về mối quan hệ giữa dân số và môi
trường, sau này vào thế kỷ thứ XX đã được lý thuyết "dân số tối ưu" phát
triển, nâng cao [95].
Như vậy, ngay từ thời cổ đại, người ta cũng đã rất quan tâm đến dân
số trong quan hệ đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội. Nhiều nhà tư
tưởng lớn thời kỳ đó, đã xuất phát và dựa vào những điều kiện về chính trị,
xã hội để quan sát các quá trình dân số. Các ông khẳng định rằng, để ổn
chính phủ khuyến khích kết hôn sớm và bảo vệ những gia đình đông con.
Ngược lại, chủ nghĩa trọng nông lại không xem dân số đông là một
yếu tố hùng cường của một quốc gia. Họ nhấn mạnh vai trò của lương thực,
thực phẩm và sự phát triển của nông nghiệp nói chung; rằng khối lượng
lương thực, thực phẩm nói riêng và sự giàu có của cải xã hội nói chung
cùng với lối sống và phong tục xã hội sẽ chi phối, quy định sự sinh sôi, nảy
nở của con người. Đến lượt nó, chính dân số sẽ tự điều chỉnh cho phù hợp
với sự gia tăng của lương thực, thực phẩm. Cuối thế kỷ XVI, Botero -
20
người Ý, cho rằng: sự thiếu thực phẩm sẽ hạn chế việc sinh sôi nảy nở của
loài người, nhưng nguy cơ này có thể tránh được, nhờ vào các biện pháp di
dân và sự tăng gia sản xuất.
Như vậy thời kỳ này tồn tại hai trường phái khác nhau về dân số:
một trường phái thì coi trọng sự gia tăng dân số; một trường phái thì coi
trọng sự phát triển lương thực, thực phẩm.
Xem xét tư tưởng dân số cuối thế kỷ thứ XVIII, đầu thế kỷ thứ XIX
chúng ta cần nghiên cứu sự ra đời và những nội dung cơ bản của học thuyết
dân số của Thomas Rôbơt Malthus.
Thomas Rôbơt Malthus (1766-1834) - một nhà kinh tế học và mục
sư người Anh, vào năm 1798 đã công bố học thuyết nổi tiếng của mình về
mối quan hệ giữa dân số và phát triển kinh tế. Trong quyển sách "Bàn về
dân số" ông cho rằng, các quy luật tự nhiên quyết định tính tất yếu của sự
không phù hợp ngày càng lớn giữa nhịp điệu gia tăng dân số và nhịp điệu
tăng tư liệu sinh hoạt (lương thực và thực phẩm...). Ông chứng minh quy
luật đó về mặt toán học, mà theo đó thì sở dĩ quần chúng nhân dân sống
nghèo đói và chịu đau khổ là do dân số tăng lên theo cấp số nhân, còn tư
liệu sinh hoạt (lương thực, thực phẩm...) chỉ tăng lên theo cấp số cộng. Tư
một tai họa cần tránh. Tuy nhiên, có nhiều ý kiến khác nhau trong việc
đánh giá Malthus. Khi đánh giá rõ ràng, chúng ta cần dựa trên tính chất và
hoàn cảnh lịch sử của thời đại mà ông đang sống. Trong các biện pháp
mạnh mẽ của ông có thể có những sai lầm, nhất là khi ông cho rằng: cần
phải tạo ra các điều kiện để cho các tác động của tự nhiên gây ra cái chết,
cần phải khuyến khích một cách thật lòng những lực lượng tàn phá khác
của tự nhiên với mục đích hạn chế sự gia tăng dân số... Có thể những sai
lầm của ông bắt nguồn từ chỗ, trong hoàn cảnh lịch sử mà ông đang sống,
không thể nào tiên đoán được sức sản xuất lại mạnh đến như vậy. Điều này
được thấy rõ khi so sánh từ năm 1950 đến năm 1970, trong khi dân số tăng
40% thì tổng sản phẩm xã hội thế giới tăng 170%.
Vào thế kỷ XIX, các nhà triết học, các nhà xã hội học, các nhà kinh
tế học... lần lượt phê phán học thuyết dân số của Malthus. J.B. Say cho
rằng: "Các phương tiện sinh tồn tăng nhanh hơn dân số". Emille Dukheim
cho rằng, sự phát triển dân số kéo theo nó là một sự thay đổi về chất lượng
của xã hội. Các nhà tư tưởng theo trào lưu xã hội chủ nghĩa lại cho rằng tổ
22
chức xã hội là vấn đề hàng đầu để giải quyết nạn "nhân mãn" chứ không
phải là vấn đề điều chỉnh qui mô dân số...
Sau này những người theo trường phái tân Malthus lại cho rằng,
muốn xóa bỏ sự nghèo đói, sự không phù hợp giữa tăng dân số và tăng của
cải vật chất thì chỉ có một biện pháp làm giảm dân số xuống một cách
mạnh mẽ bằng chiến tranh, bằng bệnh dịch. Các nước nghèo sẽ không bao
giờ có thể nâng cao được thu nhập theo đầu người của mình trên mức tối
thiểu, trừ phi họ đưa ra được các biện pháp tránh thai để hạn chế việc gia
tăng dân số. Nếu không có những biện pháp như vậy thì chắc chắn sẽ xuất
hiện những hiện tượng như: nạn đói, bệnh tật, chiến tranh để thực hiện
nghiệp và đô thị. Học thuyết này có ý nghĩa to lớn trong việc nghiên cứu
dân số ở các nước đang phát triển. Các nước đang phát triển cần xác định
quá trình dân số nước mình, dân tộc mình đang ở vào giai đoạn nào của quá
trình phát triển dân số. Tuy nhiên, quá trình quá độ dân số ở một số nước
đang phát triển diễn ra không hoàn toàn giống với các nước đã phát triển. Do
các nước đang phát triển nhờ áp dụng một cách có hiệu quả những thành
tựu y học hiện đại từ các nước phát triển nên tỷ suất tử giảm nhanh chóng,
nhưng tỷ suất sinh lại vẫn tăng cao, nên dẫn tới sự gia tăng dân số lớn.
Quan hệ giữa dân số và phát triển sau này cũng được trình bày
trong lý thuyết dân số tối ưu. Học thuyết dân số tối ưu xuất phát từ hai thực
trạng trên thế giới, nhiều quốc gia có số dân quá đông khiến cuộc sống gặp
nhiều khó khăn, tình trạng đói ăn diễn ra thường xuyên, nạn suy dinh
dưỡng trở nên phổ biến. Trong khi đó, ở một vài nơi, một vài quốc gia lại
có mật độ dân số không cao, dân cư thưa thớt. Cả hai trường hợp trên đều
dễ gây nên những khó khăn trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Từ
hai thực trạng trên, lý thuyết dân số tối ưu ra đời. Theo lý thuyết đó, một
quốc gia muốn phát triển kinh tế - xã hội thuận lợi cần phải có dân số phù
hợp nhằm tiến tới một dân số hợp lý.
Hạn chế chủ yếu của lý thuyết dân số tối ưu là ở chỗ không tính đến
những biến động của kinh tế - xã hội. Thực tế đã cho thấy, một khi có sự
24
tác động của khoa học kỹ thuật vào sản xuất, làm cho sản xuất phát triển
không ngừng, việc phát hiện ra các nguồn tài nguyên mới, các nguồn vật
liệu mới đã làm thay đổi một cách cơ bản cơ cấu lao động, thay đổi nhanh
chóng năng suất lao động tất yếu và điều đó làm thay đổi một cách cơ bản
thu nhập bình quân đầu người. Do đó, lý thuyết dân số tối ưu có ý nghĩa
như một định hướng tổng quát trong việc nghiên cứu quan hệ giữa dân số
và phát triển.