LUẬN văn THẠC sĩ NÂNG CAO HIỆU lực QUẢN lý NHÀ nước đối với HOẠT ĐỘNG tôn GIÁO ở nước TA HIỆN NAY - Pdf 40

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Tôn giáo là một hiện tượng vô cùng phức tạp bởi nhiều lẽ. Tôn giáo
có thể liên kết con người lại với nhau, nhưng cũng có thể đẩy con người
đến chỗ kỳ thị, đối chọi nhau một cách sâu sắc.
Trong lịch sử, xã hội loài người đã từng chứng kiến những vụ đụng
độ tôn giáo quyết liệt, những cuộc chiến tranh tôn giáo đẫm máu chỉ vì
tranh giành các vùng đất được xem là Thánh địa của tôn giáo này từ tay của
tôn giáo khác. Ngày nay những cuộc chiến tranh sắc tộc - tôn giáo đang
diễn ra ở Bắc Ai Len, ở Cộng hoà Síp, Apganistan, ấn Độ, Pakistan... mà ở
phía sau nó là có sự đan xen những động cơ tôn giáo hết sức phức tạp,... là
những minh chứng cho thấy: tôn giáo đúng là một hiện tượng xã hội cực kỳ
phức tạp. Đứng về mặt quản lý xã hội, thì chính phủ của các quốc gia còn
phải nhận thấy sự tồn tại lâu dài của tôn giáo trong đời sống xã hội và phải
hết sức quan tâm, hiểu biết toàn diện về tôn giáo, và đặt tôn giáo đúng vào
vị trí của nó trong đời sống xã hội. Thực tiễn cho thấy: chính đảng cầm
quyền nào, nhà nước nào không coi trọng đúng mức vấn đề tôn giáo sẽ thất
bại hoặc sẽ gặp nhiều khó khăn trong quá trình lãnh đạo và quản lý đất
nước.
Hiện nay ở Việt Nam có 7 tôn giáo (Phật giáo, Thiên Chúa giáo,
Tin Lành, Hồi giáo, Cao đài, Hòa Hảo và Bà La môn) với hơn 15 triệu tín
đồ và 31 nhóm tín ngưỡng tôn giáo mới hình thành và phát triển ở 30 tỉnh,
có tôn giáo từ nước ngoài du nhập vào Việt nam đã ít nhiều mang màu sắc
Việt Nam. Sinh hoạt của tín đồ trải rộng trên toàn quốc và án giữ những nơi
có vị trí chiến lược quan trọng của mỗi vùng, của quốc gia. Nếu buông lỏng
quản lý hoạt động của các tôn giáo, để cho các thế lực phản động lợi dụng
thì công cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa của chúng ta sẽ gặp vô cùng khó
1


khăn. Vì thế đổi mới công tác quản lý các hoạt động tôn giáo có ý nghĩa

- Bước đầu khái quát rút ra nội dung công tác quản lý và từ đó để
đổi mới công tác phù hợp với tình hình nhiệm vụ của đất nước và địa phương.
4. Nhiệm vụ của luận văn
Trên cơ sở mục tiêu đã đề ra, luận văn tập trung giải quyết một số
nhiệm vụ sau:
- Làm rõ cơ sở lý luận của việc giải quyết vấn đề tôn giáo nói
chung, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta.
- Làm rõ đặc điểm tình hình tôn giáo ở nước ta, công tác quản lý
công tác tôn giáo hiện nay ở cơ sở.
- Nêu ra nội dung, phương hướng đổi mới công tác quản lý hoạt
động tôn giáo trong giai đoạn hiện nay ở nước ta và địa phương.
5. Phương pháp nghiên cứu
Chủ nghĩa duy vật lịch sử là phương pháp luận trong việc nghiên
cứu của luận văn, đồng thời cùng sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp thống kê: có sử dụng các số liệu và tài liệu đã được
công bố, các báo cáo tổng kết chuyên ngành.
- Phương pháp đối chiếu, so sánh.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp, lôgic và lịch sử.
6. Cái mới và giá trị của luận văn
- Hệ thống, sưu tầm khối lượng liên quan để làm sáng tỏ phần nào
nội dung và phương pháp quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo.
- Luận văn góp phần nhỏ trong tư liệu tham khảo chuyên ngành
CNXHKH, nghiên cứu của sinh viên và cán bộ quản lý công tác tôn giáo ở
cơ sở.
Kết cấu của luận văn gồm lời tựa, hai chương với 7 tiết, kết luận và
mục lục các tài liệu tham khảo.
3


4

5


Trước hết, cần nhận thấy rằng hiện tưọng khách quan tác động vào
con người, con người nhận thức (nắm bắt và hiểu được hiện tượng khách
quan ấy). Từ đó, con người thể hiện sự nhận thức ấy thành những cái mà
chủ nghĩa Mác gọi là hình thái ý thức xã hội. Hình thái ý thức tồn tại qua
nhiều dạng khác nhau như triết học, chính trị học, nhà nước, luật pháp, đạo
đức, văn hóa ... và tôn giáo. Như vậy, tôn giáo cũng như triết học, đạo
đức... chỉ là những hình thái ý thức xã hội.
Tuy nhiên, tôn giáo chỉ sự phản ánh hư ảo. Tính hư ảo, hoang
đường trong sự phản ánh của tôn giáo là ở chỗ chia thế giới thống nhất
thành hai thế giới đối lập nhau: thế giới thứ nhất là thế giới có thật với đặc
điểm có tính bản chất là đầy đau khổ, bất hạnh, thế giới thứ hai là thế giới
của thần thánh với đặc điểm là tốt đẹp, cầu được ước thấy.
Thừa nhận tôn giáo phản ánh cách nhận thức con người về hiện
thực khách quan có nghĩa là coi tôn giáo như một hình thức, một công cụ
thể hiện tư tưởng, tình cảm của con người. Khi viết "Tôn giáo là thuốc
phiện của nhân dân. Tôn giáo là hạnh phúc hư ảo của nhân dân" thì Mác
một phần nhấn mạnh tính tích cực và tiêu cực của tôn giáo, mặt khác thừa
nhận tôn giáo như là sự bù đắp, xoa dịu nỗi đau của con ngươì, tôn giáo là
một liều thuốc an thần.
* Một khi nhận thức được những khía cạnh trên đây trong bản chất
của tôn giáo, thì chúng ta cũng hiểu rõ nét đặc trưng của tôn giáo gồm:
a) Niềm tin: Khi người ta nói đến tôn giáo là nói đến niềm tin, bởi
không có niềm tin thì không thể có tôn giáo. Nhưng đó là "niềm tin hư ảo,
ảo tưởng" ở sự tồn tại và sức mạnh của lực lượng siêu nhiên. Niềm tin đó
xuất phát từ ý thức, tình cảm, tâm lý của con người và nó không thể chứng
minh được, nó hoàn toàn khác với niềm tin khoa học là niềm tin được
chứng minh bằng thực tiễn.

người hoàn toàn bất lực trước những thảm họa của thiên nhiên ập đến. Về
mặt hành vi thì con người tìm cách trốn chạy, về mặt nhận thức thì cho
rằng các hiện tượng đó là do có những đấng siêu hình tạo ra, chi phối, điều
khiển bằng sức mạnh siêu nhiên. Từ đó, con người cho rằng, ngoài những
7


hình ảnh mà họ nhận thấy được thì trong vũ trụ còn có một lực lượng siêu
nhiên đó là các thần, thánh và khi có thần thánh nổi giận thì con người sẽ
phải gánh lấy thảm họa. Để mưu cầu cho cuộc sống được ấm no, hạnh phúc
tránh được những thảm họa do thiên tai ập đến con người đã tìm cách xoa
diụ sự giận dữ của các thần linh bằng các nghi thức cúng bái, từ đây hình
thành nên lòng tín ngưỡng của con người. Bước đầu tín ngưỡng của con
người chỉ là thứ tín ngưỡng dân gian, qua thời gian lòng tín ngưỡng của
con người được củng cố bởi những sự việc xảy ra một cách trùng hợp hết
sức ngẫu nhiên không thể lý giải được cộng thêm sự thêu dệt của con người
đã làm cho con người có niềm tin chắc chắn rằng có một lực lượng siêu
nhiên với những sức mạnh khác thưòng có đủ khả năng chi phối cuộc sống
của con người, có thể mang đến cho con người cái hạnh phúc, và cả sự bất
hạnh, khổ đau - tín ngưỡng tôn giáo ra đời. Những hình thức, biểu tượng
như "Trời", "Phật", "Thánh", "Thần",... tác động đến đời sống tâm linh của
con người, được con người tin là có thật và hết lòng tôn thờ.
Tín ngưỡng tôn giáo đã thật sự trở thành là tôn giáo, có hình thức
tôn giáo khi xã hội loài người bắt đầu có phân chia giai cấp, khi nhận thức
của con người phát triển đến trình độ khái quát biến lực lượng siêu nhiên
thành các biểu tượng như "Đấng Tối cao", "Đấng Cứu thế", "Chúa Trời",
"Phật tổ", … khi xã hội có điều kiện về vật chất để xuất hiện một lớp người
thoát ly ra khỏi môi trường sản xuất, để chuyên làm công việc tôn giáo như
xây dựng giáo lý, giáo luật, tổ chức giáo hội, ...
Bên cạnh những hiện tượng tự nhiên xảy ra trong vũ trụ, con người

Nếu như cơ sở thứ nhất và thứ hai, một phần của cơ sở thứ ba cho
thấy tôn giáo chỉ là lối thoát của con người khi con người bất lực, sợ hãi, âu
lo, ... trước thiên nhiên, xã hội và con người, thì một phần cơ sở thứ ba cho
thấy tôn giáo là một hình thức phản ánh tâm tư nguyện vọng của con
người.
Từ những cơ sở này chúng ta có thể rút ra một kết luận quan trọng
là: Tôn giáo dần dần sẽ mất đi khi những cơ sở ra đời của nó không còn
nữa, và vì thế không được và không thể dùng bạo lực để triệt tiêu tôn giáo.

9


Khi lý giải bản chất của tôn giáo và cơ sở cho sự ra đời của tôn
giáo, triết học Mác thừa nhận tôn giáo có cả mặt tích cực lẫn mặt tiêu cực
của nó.
1.1.2. Vai trò của tôn giáo
Tôn giáo là sản phẩm của con người, được khai sinh từ đời sống
"tâm linh"của con ngưòi nhưng sau đó tôn giáo trở lại chi phối chính cái
đời sống "tâm linh" đó, nghĩa là chi phối đến đời sống tinh thần của con
người, hay ít ra là trong cộng đồng dân cư có tín ngưỡng.
Khi đề cập vai trò của tôn giáo thì cần thấy rõ chức năng và hai mặt
tích cực, tiêu cực của tôn giáo để thấy được rõ hơn vị trí của tôn giáo trong
đời sống tinh thần của con người, của xã hội.
Tôn giáo có chức năng thế giới quan, là chức năng làm cho con
người nhận biết, giải thích thế giới quan tôn giáo, theo những quan niệm về
sự phụ thuộc vào cái siêu nhiên, ... chức năng liên kết thì củng cố cộng
đồng, củng cố các quan hệ xã hội trong giải quyết các mối quan hệ xã hội
đặt ra. Tôn giáo còn có chức năng điều chỉnh. Tôn giáo đã tạo ra một hệ
thống chuẩn mực và gía trị. Các chuẩn mực tôn giáo không chỉ thể hiện
trong lĩnh vực tiến hành nghi lễ mà còn bao hàm trong các thuyết về luân

yêu thương con người, khơi dậy tình người (giúp đỡ, cưu mang nhau),...
tôn giáo mới đi vào lòng người, mới có chỗ trú trong xã hội. Tôn giáo đã
tạo một hệ thống chuẩn mực và giá trị. Các chuẩn mực tôn giáo không chỉ
thể hiện trong lĩnh vực tiến hành nghi lễ mà còn bao hàm trong các thuyết
về luân lý, đạo đức - xã hội do các tổ chức tôn giáo soạn thảo và truyền bá,
trong đó chứa đựng những quy định về khuyến khích và ngăn cấm một
cách chi tiết để điều chỉnh cả về hành vi đạo đức - xã hội con người, điều
chỉnh thái độ với bản thân, và gia đình, vơi những người khác trong cộng
đồng. Nói chung, giáo lý của tôn giáo có mặt tích cực là luôn luôn hướng
các suy nghĩ và hành vi của con người vào việc thiện, chống lại những việc
ác. Đạo đức của tôn giáo có mặt tốt là hướng con người đến sự yêu thương,
đùm bọc, giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống. Đạo đức tôn giáo có những
điều phù hợp với sự nghiệp xây dựng xã hội mới của chúng ta ngày nay.

11


Ba là: sản phẩm tôn giáo (nhà thờ, chùa chiền, tượng Phật, tượng
Chúa,...) là sự sáng tạo của con người, là sản phẩm của văn hóa nhân loại
và là văn hóa của dân tộc cần phải được giữ gìn và bảo vệ.
Bên cạnh mặt tích cực, tôn giáo cũng có những mặt hạn chế, tiêu cực
ít nhiều làm ảnh hưởng đến vai trò, vị trí của tôn giáo trong đời sống xã
hội.
Mặt hạn chế của tôn giáo là làm mờ nhạt ý thức đấu tranh, ý chí tự
chủ vươn lên, ý thức trách nhiệm của con người, làm cho con người trở nên
lệ thuộc vào thế giới bên ngoài, con người trở nên bị gò bó và nghèo đi.
Tôn giáo là đối tượng dễ bị lợi dụng, vì mục đích đen tối, tôn giáo với đặc
tính bảo thủ đã trở thành như là một lực cản trước sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, của xã hội.
Song song với hoạt động của tôn giáo thì bao giờ cũng có bóng
dáng của tệ mê tín dị đoan thông qua các biểu hiện như đồng bóng, bói

của tôn giáo.
Do vậy, tôn giáo là một bộ phận cấu thành quan trọng của đời sống
tinh thần của xã hội. Trong quá trình tồn tại và phát triển của mình, tôn
giáo đã ảnh hưởng khá sâu sắc đến đời sống văn hóa, xã hội, đến tâm lý,
đạo đức, lối sống, phong tục tập quán của dân tộc, ảnh hưởng đến đời sống
chính trị ở mức độ, cấp độ có khác nhau trong những hoàn cảnh của mỗi
quốc gia.
Ở Việt Nam, do điều kiện lịch sử, xã hội, tâm lý,... tôn giáo có vị trí
khá đặc biệt trong đời sống tinh thần, tín ngưỡng, nhân cách, đến quá trình
phát triển của xã hội,... ảnh hưởng đến sự phát triển của văn hóa dân tộc.
Thông qua những tác động của các sinh hoạt tín ngưỡng tôn giáo, đến các
sinh hoạt văn hóa (hội làng, tế lễ,...) đã góp phần tạo nên những nét riêng
về văn hóa Việt Nam.
Vai trò của tôn giáo vừa gợi cho Nhà nước trong việc quản lý đối
với hoạt động của tôn giáo trong giai đoạn mới của cách mạng.

13


1.2. QUAN ĐIỂM CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN ĐỐI VỚI TÔN
GIÁO VÀ PHƯƠNG HƯỚNG GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ TÔN GIÁO TRONG CNXH

Luận điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin về tôn giáo là sự tiếp
tục những truyền thống tiến bộ của các nhà vô thần trước đây, coi tôn giáo
là sự phản ánh hiện thực một cách sai lầm, hoang đường, là ảo tưởng do
con người tạo ra. Nhưng khác với các nhà vô thần trước, lần đầu tiên chủ
nghĩa Mác vạch rõ những quy luật phát triển của xã hội loài người và do đó
giải thích tôn giáo một cách khoa học.
Với quan điểm lập trường duy vật biện chứng và duy vật lịch sử đã
dẫn đến thái độ nhất quán của chủ nghĩa Mác - Lênin đối với tôn giáo.

chúng lao động. Khai thác và phát huy mọi tiềm năng của đồng bào các tôn
giáo để làm cho dân giàu nước mạnh là việc làm có ý nghĩa thiết thực hiện
nay.
Phân biệt rõ hai mặt chính trị và tư tưởng trong vấn đề tôn giáo là
nguyên tắc quan trọng để giải quyết đúng đắn vấn đề tôn giáo.
Phải đấu tranh loại bỏ yếu tố chính trị phản động trong tôn giáo là
nhiệm vụ quan trọng thường xuyên, thái độ và phương pháp giải quyết vừa
phải khẩn trương kiên quyết dứt khoát vừa phải thận trọng chu đáo tỷ mỷ
nhằm tập hợp và phát huy khối đoàn kết rộng rãi quần chúng có tín ngưỡng
và không có tín ngưỡng.
Khắc phục mặt tư tưởng thể hiện tâm lý tình cảm và niềm tin trong
tôn giáo là nhiệm vụ thường xuyên lâu dài gắn liền với quá trình xây dựng
CNXH, xóa bỏ áp bức bất công, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần
cho giáo dân. Phải coi trọng công tác tuyên truyền giáo dục chủ nghĩa vô
thần khoa học, thế giới quan duy vật, giáo dục về đường lối chính sách của
Đảng và Nhà nước XHCN.
Tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng
của nhân dân. Đây là sự tuân thủ quy luật riêng của quá trình chuyền biến
về mặt tư tưởng, đồng thời là sự thể hiện bản chất của nền dân chủ XHCN
và sự quan tâm của Đảng, Nhà nước XHCN đến nhu cầu tinh thần của quần
chúng lao động.

15


1.3. TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VÀ QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG CỘNG
SẢN VIỆT NAM VỀ TÔN GIÁO VÀ CÔNG TÁC TÔN GIÁO

1.3.1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo
1. Đại hội lần thứ VII của Đảng đã khẳng định: "Đảng ta lấy chủ

Khổng tử, Giê-su, Mác, Tôn Dật Tiên chẳng có những ưu điểm
chung sao? Các vị ấy đều mưu cầu hạnh phúc cho loài người, mưu cầu
hạnh phúc cho xã hội... Nếu các vị ấy còn sống trên cõi đời này, nếu các vị
ấy hợp lại một chỗ, tôi tin rằng các vị ấy nhất định sống chung với nhau rất
hoàn mỹ như những người bạn thân thiết. Tôi cố gắng làm người học trò
nhỏ của các vị ấy" (Văn kiện Hồ Chí Minh, Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí
Minh, tập 2, 1993, trang 134).
Như vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh khẳng định những lý tưởng cao
đẹp của tôn giáo, dĩ nhiên khi nói Người khẳng định lý tưởng của tôn giáo
không có nghĩa là người đồng nhất thế giới quan duy vật và thế giới quan
duy tâm như đã nêu trên.
Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng khẳng định khía cạnh tốt đẹp của đạo đức
tôn giáo là cần thiết cho các thành viên trong xã hội để tiến hành xây dựng
một cuộc sống lành mạnh, tốt đẹp, đưa những người có tôn giáo đến với cách
mạng, chống áp bức, bóc lột, hun đúc cho họ lòng yêu nước thương nòi.
Bác chỉ ra những mặt hạn chế của tôn giáo là nghiêng về tu dưỡng
đạo đức, không dùng bạo lực (dù bạo lực chính đáng để chống đế quốc xâm
lược), không đấu tranh mạnh mẽ và có tổ chức để lật đổ chế độ bất công...
đạo đức tôn giáo làm cho người ta chỉ tin vào số mệnh, không tin vào sức
mạnh của bản thân trong cuộc đấu tranh vì hạnh phúc ấm no và công bằng
xã hội. Mặc dù vậy, trong đạo đức tôn giáo có nhiều điều đóng vai trò tích
cực đẩy lùi những hiện tượng, sự việc tiêu cực, xấu xa trong xã hội. Theo
Thánh Mi-xen, Thượng đế có 10 điều răn, trong đó có việc thảo kính đối
với cha mẹ, không dối hại người, không giết người, không tà dâm, không
trộm cắp... Trong Phật giáo khuyên người ta tu theo "Bát chính đạo" là 8 con

17


đường tu hành chân chính: có lời nói thanh tịnh, thẳng thắn, không nói ác,



Đoàn kết giáo lương là một yếu tố cơ bản trong tư tưởng của chủ
tịch Hồ Chí Minh về tôn giáo. Đoàn kết giáo lương để đi đến đoàn kết dan
tộc, nó bắt nguồn từ truyền thống dân tộc Việt Nam. Khi còn hoạt động ở
nước ngoài, Người gửi về nước nhiều thư hiệu triệu quốc dân đồng bào không
phân biệt dân tộc, tôn giáo, Bắc - Trung - Nam phải muôn người như một,
Bác nhắc nhở đồng bào công giáo thực hiện tốt lòng kính Chúa, yêu nước.
Bác mở rộng đại đoàn kết của mình đến mức độ cao nhất. Chính
những tư tưởng đó đã hạn chế những mặt đối kháng. Nhờ có sự đoàn kết đó
mà cách mạng nước ta luôn giành thắng lợi. Đối với ở đâu, bất cứ nơi nào,
trong cả tôn giáo, Bác cũng kêu gọi sự đoàn kết. Người viết: "Lương giáo
đoàn kết, toàn dân đoàn kết, cả nước một lòng, nhân dân ta nhất định giành
thắng lợi trong cuộc đấu tranh thực hiện hòa bình, thống nhất Tổ quốc và
xây dựng một nước Việt Nam hòa bình thống nhất, độc lập dân chủ và giàu
mạnh". Từ chính sách đoàn kết đúng đắn của Người đã cuốn hút tuyệt đại
đa số tín đồ các tôn giáo đi theo con đường cách mạng đúng đắn của Đảng,
tham gia kháng chiến, xây dựng đất nước.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiến hành nhiều biện pháp chống những
hành vi vi phạm chính sách tín ngưỡng tôn giáo; chống những hoạt động
lợi dụng tôn giáo vì mục đích ngoài tôn giáo.
Bác luôn phê phán nghiêm khắc những cán bộ, đảng viên vi phạm
chính sách tôn giáo; Bác tìm ra những giải pháp có lý, có tình để cảm hóa
những người mù quáng, chống lại chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà
nước, ngay những người lầm lẫn ra đi Bác cùng có chính sách đúng đắn.
Có thể khẳng định tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo là sự kết hợp
hài hòa và kỳ diện mặt tốt đẹp nhất con người "trần thế", với giá trị nhân
bản của tôn giáo. Người đã góp công xây dựng nền tảng để Đảng và Nhà
nước ta đề ra chính sách tôn giáo trước kia cũng như hiện nay.


Quan điểm thứ tư: Tất cả các tổ chức trong hệ thống chính trị phải
làm tốt các công tác tôn giáo dưới sự lãnh đạo của Đảng và phải tăng
cường quản lý công tác tôn giáo của Nhà nước. Quan điểm này nhằm tạo
nên sự thống nhất và đồng bộ trong hoạt động quản lý tôn giáo.
Một số nguyên tắc chủ yếu trong quản lý hoạt động tôn giáo:

22


a) Nguyên tắc 1: Mọi công dân đều bình đẳng trưóc Hiến pháp và
pháp luật.
Nguyên tắc này được thể hiện tại Điều 52 của Hiến pháp 1992. Đây
là nguyên tắc thể chế dân chủ trong hoạt động của Nhà nước ta. Nội dung
của nguyên tắc này được hiểu: Nhà nước đảm bảo quyền tự do tôn giáo hay
không tôn giáo của công dân và công dân (dù là tín đồ tôn giáo hay không
phải là tín đồ tôn giáo) bình đẳng trước pháp luật, được hưởng quyền lợi và
có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ công dân. Từ cơ sở này, tín đồ được tự
do hành đạo trên cơ sở thực hiện nghĩa vụ công dân.
b) Nguyên tắc 2: Tự do tín ngưỡng:
Tín ngưỡng là một nhu cầu tinh thần của con người và nhu cầu này
không giống nhau giữa các cộng đồng ngươì với nhau. Tự do tín ngưỡng là
cơ sở pháp lý để người ta theo hay không theo tôn giáo, đồng thời không
chấp nhận sự thôn tính, độc tôn của tôn giáo này với tôn giáo khác. Nguyên
tắc này được thể hiện ở Điều 70, Hiến Pháp 1992.
c) Nguyên tắc 3: Về tính thống nhất giữa sinh hoạt tôn giáo và bản
sắc giá trị văn hóa:
Tín ngưỡng tôn giáo được thể hiện (vật chất hóa) qua các kinh sách,
luật lệ, lễ nghi, nhà thờ và đền chùa – nơi thờ phụng và hoạt động tôn giáo.
chính những dạng vật chất ấy của tôn giáo đồng thời là những sản phẩm
văn hóa. Theo đó mọi người (tín đồ, người không có đạo...) Đảng, Nhà


Theo báo cáo của ban Tôn giáo Chính phủ đến cuối năm 1996, có
15.203.132 người là tín đồ của các tôn giáo, trong đó:
1. Phật giáo

: 7.378.417 người.

2. Thiên Chúa Giáo : 4.952.605 người.

24


3. Hòa Hảo

: 1.252.906 người.

4. Cao Đài

: 1.122.827 người.

5. Tin Lành

: 403.238 người.

6. Hồi giáo

: 93.174 người.

Và có 21.534 cơ sở thờ tự, trong đó:
1. Phật giáo

các tôn giáo Ấn Độ và Trung Quốc (Cao đài là sự kết hợp chủ yếu của Nho
Giáo, Đạo giáo và Phật giáo, Hòa Hảo chủ yếu vận dụng từ Phật giáo).
Địa bàn, phạm vi hoạt động của các tôn giáo có khác nhau. Phật
giáo, Thiên Chúa Giáo và Tin Lành có địa bàn trải ra khắp toàn quốc. Cao
Đài hoạt động rải rác từ Quảng Nam - Đà Nẵng trở vào đến Nam bộ. Hòa

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status