khóa luận tốt nghiệp Biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở việt nam gắn với phát triển kinh tế tri thức hiện nay - Pdf 40

1

MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Lịch sử loài người không gì khác hơn là lịch sử phát sinh, phát triển và thay
thế lẫn nhau của các hình thái kinh tế - xã hội. Sự thay thế một hình thái kinh tế - xã
hội này bằng hình thái kinh tế - xã hội khác thường được thực hiện thông qua một
cuộc cách mạng xã hội. Nguyên nhân sâu xa của cuộc cách mạng đó là mâu thuẫn
giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, mâu thuẫn này sớm hay muộn cũng sẽ
được giải quyết nhằm xoá bỏ quan hệ sản xuất, thiết lập quan hệ sản xuất mới phù
hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.
Vì thế, quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của
lực lượng sản xuất là quy luật cơ bản, xuyên suốt, bao trùm toàn bộ lịch sử vận
động, phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội từ thấp lên cao. Đây là nền tảng lý
luận và phương pháp luận để giải thích các quá trình phát triển của lịch sử xã hội
loài người.
Mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất đã chỉ ra
rằng, sự kết hợp đúng đắn giữa các yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất, giữa các
yếu tố cấu thành quan hệ sản xuất, giữa quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của
lực lượng sản xuất sẽ đem lại những phương thức liên kết có hiệu quả cao giữa
người lao động với tư liệu sản xuất, thúc đẩy sản xuất xã hội phát triển, thúc đẩy
tăng trưởng kinh tế và ổn định xã hội.
Việt Nam tiến hành thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là phù hợp với xu thế
của thời đại, phù hợp thực tiễn cách mạng Việt Nam, phù hợp với khát vọng của nhân
dân Việt Nam, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ
Chí Minh. Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội “có nền
kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến
bộ phù hợp” [4, tr.70]. Để thực hiện được điều này thì phương hướng cơ bản đầu tiên
của nước ta trong giai đoạn hiện nay là: “Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên môi trường” [4, tr.72].


phát triển kinh tế tri thức của Đảng và Nhà nước là phù hợp với thực tiễn đất nước
và hoàn cảnh quốc tế. Xét dưới góc độ lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, quá


3

trình này sẽ góp phần phát triển lực lượng sản xuất ở nước ta hiện nay đặc biệt là
nguồn lực con người và công cụ sản xuất, từng bước hoàn thiện quan hệ sản xuất
tiến bộ, phù hợp, xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, không
ngừng nâng cao năng suất lao động và cải thiện đời sống nhân dân.
Sau 20 năm thực hiện chủ trương công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, và
10 năm tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức,
tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm sau tăng cao hơn năm trước; kinh tế vĩ mô
tương đối ổn định, các quan hệ và cân đối chủ yếu trong nền kinh tế được cải thiện
việc huy động các nguồn nội lực và ngoại lực cho phát triển có chuyển biến tích
cực. Tổng vốn đầu tư vào nền kinh tế tăng nhanh đã làm tăng đáng kể năng lực sản
xuất kinh doanh, tạo nhiều sản phẩm có sự cạnh tranh, hoàn thành và đưa vào sử
dụng nhiều công trình lớn về kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, tăng cường tiềm lực
và cơ sở vật chất - kỹ thuật của nền kinh tế.
Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, trong quá trình thực hiện sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vẫn còn nhiều hạn chế, khuyết điểm. Chính
vì thế, việc tiếp tục nghiên cứu và vận dụng đúng đắn, sáng tạo nguyên lý mácxít về
mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất vào thực tiễn
công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam trong hoàn cảnh mới vẫn là một vấn đề
cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn để đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế, tiến hành
thành công công cuộc đổi mới đất nước, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội.
Với tính cấp thiết đó, tôi đã lựa chọn đề tài: “Biện chứng giữa lực lượng sản
xuất và quan hệ sản xuất trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở
Việt Nam gắn với phát triển kinh tế tri thức hiện nay” để làm luận văn thạc sĩ triết
học của mình.

Mác - Lênin” của Hội đồng Trung ương chỉ đạo biên soạn (Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội 2002); “Chủ nghĩa Mác - Lênin và công cuộc đổi mới ở Việt Nam” của
PGS.TS.Đặng Hữu Toàn (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2002); “Phát triển kinh
tế tri thức rút ngắn quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa” của GS.TS.Đặng Hữu
(Tạp chí cộng sản, số 22 - 2002); “Vai trò nền tảng, động lực của khoa học và công
nghệ đối với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển xã hội ở Việt
Nam” của PGS.TS.Phạm Thị Ngọc Trầm (Tạp chí Triết học, số 7 - 2002); “Một số
định hướng đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam giai đoạn 2001 -


5

2010” của Nguyễn Xuân Dũng (Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2002); “Công
nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam - Phát thảo lộ trình” của TS.Trần Đình Thiên
(Nxb Chính trị quốc gia, 2002); “Kinh tế tri thức - xét từ góc độ lực lượng sản xuất
và quan hệ sản xuất” của Phạm Ngọc Quang (Tạp chí Triết học, số 3 - 2003); “Học
thuyết Mác với sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam” (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội
2003); “Lý luận về hình thái kinh tế - xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở
Việt Nam” của Đoàn Quang Thọ (Tạp chí Triết học, số 3 - 2003); “Mối quan hệ
giữa phát triển nguồn nhân lực với đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa” của
TS.Nguyễn Đình Hoà (Tạp chí Triết học, số 1 - 2004); “Kinh tế tri thức - thời cơ và
thách thức đối với sự phát triển của Việt Nam” của GS.Đặng Hữu (Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội 2004); “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam - Phát thảo lộ
trình” của Trần Đình Thêm (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004); “Học thuyết
Mác về hình thái kinh tế - xã hội và lý luận về con đường phát triển xã hội chủ
nghĩa ở nước ta” của TS. Phạm Văn Chung (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2005);
“Chuyên đề nghiên cứu Nghị quyết của Đại hội Đảng lần thứ X” của Ban tư tưởng văn hóa Trung ương (Nxb Chính trị quốc gia, 2006); “Thời đại kinh tế tri thức - cơ
hội và thách thức đặt ra đối với các nước đang phát triển” của PGS.TS.Phí Mạnh
Hồng (Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, số 2 - 2006); “Quan điểm đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức - Bước phát triển mới

Những công trình trên đã nghiên cứu những khía cạnh khác nhau của mối
quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất cũng như vai trò cơ
sở lý luận của quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển
của lực lượng sản xuất trong thực tiễn đổi mới đất nước, trong quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Bên cạnh đó, những công trình trên đã tiếp cập
đến vai trò của khoa học công nghệ, của kinh tế tri thức trong quá trình công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước. Đây là nguồn tư liệu quan trọng, là cơ sở, là nền tảng
cho quá trình thực hiện đề tài luận văn: “Biện chứng giữa lực lượng sản xuất và
quan hệ sản xuất trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam
gắn với phát triển kinh tế tri thức hiện nay”.


7

3. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Làm rõ mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là
một trong những cơ sở khoa học đối với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam và việc xây dựng
phương hướng đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri
thức giai đoạn 2011 - 2015. Để đạt được mục đích này, nhiệm vụ của luận văn sẽ là:
- Phân tích và làm sáng tỏ quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về mối quan
hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất.
- Trên cơ sở mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản
xuất vạch rõ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri
thức ở nước ta hiện nay là một tất yếu khách quan.
- Làm rõ định hướng, giải pháp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn
với phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam giai đoạn 2011 - 2015.
4. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Từ mục đích và nhiệm vụ của đề tài đã quy định đối tượng và phạm vi nghiên
cứu của đề tài là:

đoạn 2011 - 2015.
7. KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục các tài liệu tham khảo, luận
văn gồm có 2 chương và 6 tiết.
Chương 1: Phương thức sản xuất vật chất và công nghiệp hóa, hiện đại hóa
gắn với phát triển kinh tế tri thức hiện nay
1.1. Phương thức sản xuất
1.2. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
1.3. Kinh tế tri thức
Chương 2: Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với phát
triển kinh tế tri thức hiện nay
2.1. Biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là cơ sở khoa học
của đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức
2.2. Những điều kiện ảnh hưởng đến quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
gắn với phát triển kinh tế tri thức ở nước ta hiện nay.
2.3 Thực trạng, định hướng và giải pháp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại


9

hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam giai đoạn 2011 - 2015.


10

CHƯƠNG 1
PHƯƠNG THỨC SẢN XUẤT VẬT CHẤT
VÀ CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA GẮN VỚI
PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRI THỨC HIỆN NAY
1.1. Phương thức sản xuất và quy luật vận động của nó

“Không nên nghiên cứu phương thức sản xuất ấy một cách đơn thuần theo khía
cạnh nó là sự tái sản xuất ra sự tồn tại thể xác của các cá nhân. Mà hơn thế, nó là
một phương thức hoạt động nhất định của những cá nhân ấy, một hình thức nhất
định của hoạt động sống của họ, một phương thức sinh sống nhất định của họ. Hoạt
động sống của họ như thế nào thì họ như thế ấy. Do đó họ là như thế nào, điều đó
ăn khớp với sản xuất của họ, với cái mà họ sản xuất ra cũng như với cách họ sản
xuất. Do đó, những cá nhân là như thế nào, điều đó phụ thuộc vào những điều kiện
vật chất của sự sản xuất của họ” [18, tr.67].
Vì thế, dựa vào phương thức sản xuất đặc trưng của mỗi thời đại lịch sử,
người ta có thể phân biệt các thời đại kinh tế khác nhau, hiểu thời đại lịch sử đó
thuộc về hình thái kinh tế - xã hội nào.
Đối với sự vận động của lịch sử loài người cũng như sự vận động của mỗi xã
hội cụ thể, sự thay đổi về phương thức sản xuất bao giờ cũng là sự thay đổi có tính
chất cách mạng. Trong sự thay đổi đó, các quá trình kinh tế, xã hội được chuyển
sang một chất mới. Và sự thay thế hợp quy luật khách quan của các phương thức
sản xuất tạo nên quá trình phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội là một quá
trình lịch sử - tự nhiên.
Phương thức sản xuất là cách thức mà con người làm ra của cải vật chất cho
xã hội trong một giai đoạn lịch sử nhất định. Theo cách đó, con người có những
quan hệ với tự nhiên và quan hệ với nhau trong sản xuất; hay nói cách khác, phương
thức sản xuất là sự thống nhất biện chứng giữa lực lượng sản xuất ở một trình độ
nhất định với quan hệ sản xuất tương ứng. Hai mặt này được hình thành một cách
khách quan trong quá trình sản xuất vật chất, có sự tác động qua lại lẫn nhau, được
C.Mác gọi là “quan hệ song trùng” của bản thân sự sản xuất xã hội.
Trong đó, lực lượng sản xuất là toàn bộ các lực lượng được con người sử dụng
trong quá trình sản xuất ra của cải vật chất. Lực lượng sản xuất biểu hiện mối quan


12



13

phát huy tốt thì đó chính là nền tảng sức mạnh của mỗi quốc gia. Do vậy, muốn
thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với phát
triển kinh tế tri thức thì một trong những đột phá mang tính chiến lược hiện nay là
phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao.
Trong cấu trúc của lực lượng sản xuất, con người không chỉ là một bộ phận
cấu thành cơ bản mà hơn thế, còn đóng vai trò đặc biệt quan trọng - kết nối các yếu
tố cấu thành lực lượng sản xuất với nhau để chúng có thể phát huy tác dụng một
cách có hiệu quả nhất.
Yếu tố đầu tiên có sự liên kết chặt chẽ với người lao động là tư liệu sản xuất tổng thể những yếu tố vật chất của quá trình lao động. Tư liệu sản xuất bao gồm tư
liệu lao động và đối tượng lao động.
Tư liệu lao động là một vật hay toàn bộ những vật mà người lao động dùng để
tác động vào đối tượng lao động nhằm sản xuất ra của cải vật chất. Tư liệu lao động
là một trong những yếu tố giản đơn, cần thiết của quá trình lao động sản xuất ra của
cải vật chất. Tư liệu lao động bao gồm: Loại truyền dẫn hoạt động lao động của con
người tới đối tượng lao động hay còn gọi là công cụ lao động; loại chứa đựng
nguyên, nhiên, vật liệu, nửa thành phẩm, thành phẩm; những điều kiện vật chất tuy
không trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất nhưng cũng chiếm một vị trí quan
trọng trong quá trình sản xuất (kho tàng, bến bãi...).
Trong toàn bộ các thành tố cấu thành tư liệu lao động, công cụ lao động đóng
vai trò quan trọng nhất và là một thành tố cơ bản của lực lượng sản xuất. Mọi công
cụ sản xuất đều có ba bộ phận: động lực, truyền lực và công tác.
Bộ phận công tác (còn gọi là bộ phận chấp hành hay tác động) trực tiếp tác
động lên đối tượng lao động để làm ra sản phẩm. Bộ phận truyền lực truyền năng
lượng từ nguồn động lực đến bộ phận công tác. Ở công cụ sản xuất thủ công, nguồn
động lực là do sức cơ bắp của người lao động, còn bàn tay trực tiếp làm bộ phận
công tác chuyển động. Nếu bộ phận công tác giao cho máy thực hiện - gọi là máy
công tác, thì ta có công cụ nửa cơ khí. Khi nguồn động lực cũng do máy cung cấp

Để tiến hành quá trình sản xuất vật chất, đối tượng lao động là một yếu tố
không thể thiếu. Đối tượng lao động là toàn bộ những vật mà trong quá trình lao
động con người tác động vào bằng công cụ lao động để sản xuất ra của cải vật chất.
Đối tượng lao động có hai loại: Loại thứ nhất có sẵn trong tự nhiên như các khoáng


15

sản, đất, đá, thủy sản. Loại thứ hai đã qua chế biến nghĩa là đã có sự tác động của
lao động trước đó, ví dụ như thép phôi, sợi dệt, bông.
Chính sự phong phú và đa dạng của đối tượng lao động là điều kiện vật chất
quan trọng của quá trình sản xuất vật chất. Tuy nhiên, vì nhiều lý do khác nhau,
những nguồn tài nguyên thiên nhiên mà tạo hóa đã ban cho loài người đang ngày
một cạn kiệt dần. Dù ai cũng biết, quốc gia nào cũng biết, vận mệnh của cả loài
người, của từng quốc gia gắn liền với vận mệnh của những nguồn tài nguyên đó. Vì
thế, Việt Nam muốn phát triển nhanh và bền vững, cần gắn công nghiệp hóa, hiện
đại hóa với bảo vệ tài nguyên môi trường, khôi phục và bảo vệ môi trường sinh thái.
Phát triển nền kinh tế tri thức, ứng dụng những thành tựu của khoa học công nghệ
hiện đại, phát hiện và sáng tạo ra nhiều đối tượng lao động mới, những nguyên liệu
mới, phát triển năng lượng sạch, sản xuất sạch, tạo ra nhiều giá trị sử dụng mới, đáp
ứng thỏa mãn nhu cầu xã hội ngày càng tốt hơn, giảm bớt việc khai thác các đối
tượng lao động có sẵn trong tự nhiên.
Một bộ phận nữa có vị trí quan trong trong lực lượng sản xuất là khoa học và
công nghệ. C.Mác đã từng khẳng định: Khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực
tiếp với điều kiện khoa học được con người vận dụng và thông qua hành động của
con người đến mức độ nào đó hay khoa học phải tồn tại dưới dạng lao động vật hóa
thành máy móc thì lúc đó nó mới trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Điều này
được C.Mác viết trong “Tư bản”: “Có một lực lượng sản xuất khác mà tư bản không
mất một khoản chi phí nào, đó là sức mạnh của khoa học... Nhưng tư bản chỉ có thể
chiếm hữu được sử dụng sức mạnh ấy của khoa học bằng cách sử dụng máy móc

phát triển nhanh, bền vững nền kinh tế, nâng cao năng suất lao động.
Các yếu tố của lực lượng sản xuất quan hệ hữu cơ với nhau trong đó người lao
động và công cụ lao động là hai yếu tố cơ bản nhất. Trên cơ sở sự thống nhất biện
chứng giữa các yếu tố cấu thành nên nó, lực lượng sản xuất là kết quả khách quan
của hoạt động thực tiễn của con người, được hình thành trong lao động và biến đổi
cùng lao động. Đồng thời, lực lượng sản xuất biểu hiện năng lực thực tiễn của con
người trong quá trình chinh phục tự nhiên vì nhu cầu của con người, là thước đo
quan trọng của sự tiến bộ xã hội.


17

Sự phát triển của lực lượng sản xuất đã thúc đẩy quá trình phân công lao động
xã hội. Đồng thời mỗi bước tiến của sự phân công lao động xã hội lại có tác dụng
thúc đẩy lực lượng sản xuất của xã hội phát triển. Lực lượng sản xuất của xã hội
phát triển cùng với nó là sự cải tiến không ngừng công cụ lao động, tư liệu sản xuất
mở rộng, đối tượng lao động ngày càng đa dạng lại thúc đẩy phân công lao động
phát triển, năng suất lao động xã hội cao. Theo C.Mác, “những thời đại kinh tế khác
nhau không phải ở chỗ chúng sản xuất ra cái gì mà ở chỗ chúng sản xuất bằng cách
nào, với những tư liệu lao động nào” [14, tr.269].
Điều này cho thấy rằng, việc tiến hành công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại
hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam là yêu cầu phát triển khách quan
của lực lượng sản xuất, để nâng cao trình độ của lực lượng sản xuất, nâng cao năng
suất lao động, nâng cao được trình độ kinh tế - kỹ thuật, hiệu quả và sức cạnh tranh
của nền sản xuất xã hội. Muốn thực hiện thành công quá trình công nghiệp hóa,
hiện đại hóa phải chú trọng vào xây dựng, bồi dưỡng và phát huy nguồn lực con
người - nhân tố quan trọng nhất của lực lượng sản xuất, áp dụng những thành tựu
khoa học - công nghệ vào quá trình sản xuất, cải tiến công cụ lao động, gắn với đảm
bảo an sinh xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái để phát triển nhanh và bền vững.
Lực lượng sản xuất là nhân tố cơ bản, tất yếu tạo thành nội dung vật chất của

hội. Số ít người đó có “quyền tự do chi phối sức lao động của người khác” [18,
tr.86], quyền chiếm lấy hầu hết của cải xã hội, còn phần đông những người khác
không có tư liệu sản xuất. Các quan hệ xã hội, do vậy, trở thành bất bình đẳng.
Đối lập với sở hữu tư nhân, sở hữu công cộng là loại hình sở hữu mà trong đó
tư liệu sản xuất thuộc về mọi thành viên trong cộng đồng, là tài sản chung của cả
cộng đồng. Hình thức sở hữu này tồn tại trong chế độ công xã nguyên thủy và chế
độ cộng sản chủ nghĩa với hai trình độ khác nhau. Chế độ sở hữu trong xã hội cộng
sản chủ nghĩa được thực hiện ở giai đoạn mà lao động trở thành nhu cầu của mỗi
người và sự phát triển của các cá nhân thành những cá nhân hoàn chỉnh với sự xóa
bỏ tính tự phát và các cá nhân “liên hợp” chiếm hữu “tổng thể những lực lượng sản
xuất”, lúc này chế độ tư hữu bị thủ tiêu.
Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức ở
nước ta được tiến hành gắn với quá trình phát triển kinh tế thị trường định hướng xã


19

hội chủ nghĩa. Về sở hữu, vẫn sẽ phát triển theo hướng còn tồn tại các hình thức sở
hữu khác nhau, nhiều thành phần kinh tế khác nhau. Các hình thức sở hữu hỗn hợp
đan kết với nhau hình thành nên các tổ chức kinh tế đa dạng. Tuy nhiên, việc xác
lập chế độ công hữu về tư liệu sản xuất cũng như việc xóa bỏ chế độ tư hữu một
cách phù hợp được quan tâm hàng đầu, vì đây là nhiệm vụ quyết định tính định
hướng xã hội chủ nghĩa trong quá trình phát triển kinh tế đất nước.
Quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất quyết định quan hệ giữa từng tập đoàn về
mặt tổ chức và quản lý quá trình sản xuất và quyết định luôn phương thức phân phối
sản phẩm cho các tập đoàn người theo địa vị của họ đối với hệ thống sản xuất xã hội.
Bên cạnh đó, quan hệ tổ chức quản lý sản xuất với vai trò đặc thù của nó quyết
định tính hiệu quả của việc kết hợp các nguồn lực vật chất trong sản xuất, từ đó hình
thành nên cơ cấu sản xuất hợp lý từ đó quyết định quy mô, tốc độ, xu hướng của một
nền sản xuất cụ thể. Do đó, nó có khả năng đẩy nhanh hoặc kìm hãm các quá trình

chuyển hướng từ cơ chế bao cấp sang cơ chế phân phối sản phẩm theo lao động và
kết hợp các cách phân phối khác (phân phối lại) cũng như thực hiện trao đổi sản
phẩm ngang bằng theo cơ chế cung cầu của nền kinh tế thị trường có định hướng xã
hội chủ nghĩa. “Thực hiện chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả
kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác và phân phối
thông qua hệ thống an sinh xã hội, phúc lợi xã hội” [4, tr.74]. Cơ chế phân phối này
vừa tạo động lực kích thích các chủ thể kinh tế nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất
kinh doanh, đồng thời hạn chế những bất công trong xã hội. Thực hiện tăng trưởng
kinh tế gắn liền với tiến bộ, công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính
sách phát triển. Đây sẽ là động lực cho việc đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa,
hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức ở nước ta hiện nay.
Vậy là, ba mặt quan hệ cấu thành quan hệ sản xuất thống nhất, gắn bó với
nhau tạo thành một hệ thống tương đối ổn định, mỗi mặt của hệ thống đó có vai trò
và ý nghĩa riêng biệt, xác định, khi nó tác động tới nền sản xuất xã hội nói riêng và
toàn bộ tiến trình lịch sử nói chung. Trong đó, quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất là
quan hệ chi phối và quyết định các quan hệ còn lại.
Mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất tạo nên
chỉnh thể toàn vẹn là phương thức sản xuất.


21

1.1.2. Quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển
của lực lượng sản xuất
Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất tồn tại không tách rời nhau, thống
nhất biện chứng với nhau trong phương thức sản xuất nhất định. Trong hai mặt đó,
lực lượng sản xuất là nội dung, thường xuyên biến đổi, phát triển; quan hệ sản xuất
là hình thức xã hội của sản xuất, tương đối ổn định. Sự tác động qua lại lẫn nhau
một cách biện chứng giữa hai mặt đó tạo thành quy luật về sự phù hợp của quan hệ
sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất - quy luật cơ bản nhất của sự

kinh tế chủ yếu dựa vào yếu tố phát triển theo chiều rộng, dựa vào khai thác tài
nguyên thiên nhiên, năng suất lao động và khả năng cạnh tranh của nền kinh tế thấp.
Chất lượng nguồn nhân lực chưa cao, đặc biệt là lực lượng lao động chất lượng cao
còn thiếu và yếu chưa đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện
đại hóa.
Để khắc phục được những hạn chế trên, Đảng ta chủ trương đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức. Hướng đến
giải phóng và phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất với trình độ khoa học, công
nghệ ngày càng cao; đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ vào quá trình sản
xuất; huy động và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực cho phát triển. Chuyển đổi
mô hình tăng trưởng từ chủ yếu phát triển theo chiều rộng sang phát triển hợp lý
giữa chiều rộng và chiều sâu, vừa mở rộng quy mô, vừa chú trọng nâng cao chất
lượng, hiệu quả, tính bền vững.
Gắn liền trình độ của lực lượng sản xuất là tính chất của lực lượng sản xuất.
Trên thực tế, tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất không tách biệt nhau mà
nó luôn luôn thống nhất với nhau. Chính trình độ của công cụ lao động, trình độ
phân công lao động quyết định tính chất của lực lượng sản xuất. Khi nền sản xuất
được thực hiện với những công cụ ở trình độ thủ công, phân công lao động xã hội
kém phát triển, lực lượng sản xuất chủ yếu là mang tính cá nhân. Khi sản xuất đạt
tới trình độ cơ khí hóa, hiện đại, phân công lao động xã hội phát triển thì lực lượng
sản xuất đòi hỏi phải được vận động trong sự hợp tác xã hội rộng rãi trên cơ sở
chuyên môn hóa. Tính chất tự cấp, tự túc, cô lập của nền sản xuất nhỏ lúc đó phải
được thay thế bằng tính chất xã hội hóa.
Trong xu thế toàn cầu hóa, cùng những tác động mạnh mẽ của cuộc cách
mạng khoa học - công nghệ hiện đại, của nền kinh tế tri thức. Việt Nam đã và đang


23

từng bước tham gia vào quá trình phân công lao động quốc tế, điều này làm cho lực

24

trạng thái phù hợp mới được thiết lập. Mâu thuẫn được giải quyết đến đâu thì sự
phù hợp được xác lập đến đó. Khi sự phù hợp đạt được về cơ bản, thì có thể nói đã
tạo ra được một sự thống nhất giữa quan hệ sản xuất với lực lượng sản xuất ở một
trình độ cao hơn.
Tuy lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất, nhưng quan hệ sản xuất
bao giờ cũng có tính độc lập tương đối và tác động trở lại sự phát triển của lực
lượng sản xuất. Quan hệ sản xuất quy định mục đích sản xuất, tác động đến thái độ
của người lao động trong quá trình sản xuất, đến tổ chức phân công lao động xã hội,
đến phát triển và ứng dụng khoa học vào sản xuất... và do đó tác động đến sự phát
triển của lực lượng sản xuất.
Khi quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là
động lực thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển. Ngược lại, quan hệ sản xuất lỗi
thời, lạc hậu, hoặc “tiên tiến” hơn một cách giả tạo so với trình độ phát triển của lực
lượng sản xuất thì sẽ kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất. Theo tính khách
quan, quan hệ sản xuất đó sẽ được thay thế bằng quan hệ sản xuất mới phù hợp với
trình độ của lực lượng sản xuất để thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển.
Như vậy, sự phát triển của lực lượng sản xuất chẳng những do yếu tố nội tại
của nó quy định, mà còn do sự tác động của quan hệ sản xuất. Sự phù hợp của quan
hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và sự vận động trong
trạng thái mâu thuẫn của nó biểu thị mối quan hệ biện chứng, tất nhiên, mang tính
nội tại giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất. Chính mối quan hệ đó đã hình
thành nên quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của
lực lượng sản xuất.
Quy luật này vạch rõ tính chất phụ thuộc khách quan của quan hệ sản xuất vào
trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Chứng minh vai trò quyết định của lực lượng
sản xuất đối với quan hệ sản xuất. Đồng thời, khẳng định quan hệ sản xuất cũng có tính
độc lập tương đối và tác động trở lại sự phát triển của lực lượng sản xuất.
Quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực

1.2.1. Công nghiệp hóa
Thực tiễn xã hội đã chỉ rõ để phát triển lực lượng sản xuất, thủ tiêu tình trạng
lạc hậu về kinh tế - xã hội, khai thác tối ưu các nguồn lực và lợi thế, đảm bảo nhịp
độ tăng trưởng nhanh và ổn định, mỗi nước phải xác định cơ cấu kinh tế hợp lý,



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status