MỤC LỤC
MỤC LỤC...................................................................................................................................1
1. PGS.TS. Trần Thanh Ái; Đào tạo theo hệ thống tín chỉ - Các nguyên lý, thực trạng và
giải pháp. Nguồn: ..................................................................................21
15. PGS.TS. Cary J. Trexler, Hệ thống tín chỉ tại các trường đại học Hoa Kỳ: Lịch sử phát
triển, Định nghĩa và Cơ chế hoạt động, trong "Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục", số 11/2008
(đăng lại trên trang web tham khảo ngày
22/1/2010).............................................................................................................................22
MỤC LỤC.................................................................................................................................22
1
.......................................................................................................................................................
.......................................................................................................................................................
.......................................................................................................................................................
.......................................................................................................................................................
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tín chỉ là một phương thức đào tạo tiến bộ trên thế giới, hệ thống này lần
đầu tiên, vào năm 1872 được áp dụng tại Viện Đại học Harvard - Hoa Kỳ, hệ
thống này ra đời như một cách để giải quyết những vấn đề của giáo dục trung
học Hoa kỳ và nó đã đem lại những thành quả to lớn trong nền kinh tế tri thức
và cách đào tạo hiệu quả này đã được nhiều quốc gia học hỏi và áp dụng. Để bắt
kịp với sự tiến bộ của thời đại ,đồng thời nhằm đổi mới giáo dục đại học ở Việt
Nam, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã yêu cầu chuyển đổi từ việc thực hiện chương
trình đào tạo theo nhóm sinh viên được chia thành lớp theo kiểu Đông Âu (Xô
viết) thành việc thực hiện đào tạo theo hệ thống tín chỉ kiểu Hoa Kỳ, bắt đầu từ
năm học 2008-2009 và đòi hỏi phải hoàn tất việc chuyển đổi này trước năm
2012.
- Quy định tạm thời về kiểm định chất lượng trường đại học (ban hành
theo quyết định số 38/2004/QĐ-BGD&ĐT ngày 2/12/2004 của Bộ trưởng Bộ
Giáo dục và Đào tạo): "Thực hiện chế độ công nhận kết quả học tập người học
(tích lũy theo học phần); chuyển quy trình tổ chức đào tạo theo niên chế sang
học chế tín chỉ". Quy chế 43/2007; Chỉ thị 53/2007 của Bộ Giáo dục và Đào tạo
về nhiệm vụ trọng tâm của giáo dục đại học năm học 2007 - 2008; Quy chế
31/2001 và Công văn 1878 hướng dẫn quy chế 31.
- Quy chế đào tạo đại học ở Đại học Quốc gia Hà Nội (ban hành kèm theo
Quyết định số 343/ĐT ngày 10 tháng 9 năm 2007 của Giám đốc Đại học Quốc
gia Hà Nội).
- Chủ trương hướng dẫn, thực hiện theo lộ trình các bước chuyển đổi
phương thức đào tạo theo hệ thống tín chỉ ở Đại học Huế: Kế hoạch triển khai CV số 1124, 9/2007; Triển khai thực hiện "Đề án Đào tạo bậc đại học theo học
chế tín chỉ", Đại học Huế hướng dẫn chuyển đổi chương trình đào tạo hiện hành
phù hợp với phương thức đào tạo theo hệ thống tín chỉ để các Trường, Khoa,
Trung tâm trực thuộc Đại học Huế tiến hành chuyển đổi chương trình theo đúng
những quy định chung của Bộ Giáo dục và Đào tạo và Đại học Huế. Quy chế
đào tạo đại học ở Đại học Huế và các trường thành viên thuộc Đại học Huế.
Trong tình chung các đơn vị như Khoa Giáo dục chính trị, trường Đại học Sư
phạm, Khoa Kinh tế chính trị thuộc Đại học Huế đã tiến hành tổ chức các Hội
thảo về Đổi mới đào tạo theo hệ thống tín chỉ, với nhiều bài viết của các Thầy
5
giáo, Cô giáo, các nhà quản lý giáo dục đi vào phân tích ưu điểm, hạn chế, tìm
ra những giải pháp để thực hiện áp dụng hình thức đào tạo này, đặc biệt áp dụng
đổi mới cách giảng dạy và học tập các môn lý luận chính trị trong tình hình hiện
nay.
- Trường Đại học Khoa học đã tổ chức nhiều hoạt động thực hiện các
bước chuyển đào tạo từ hệ niên chế sang hệ tín chỉ : Ban hành Quy chế học vụ
đào tạo hệ chính quy theo học chế tín chỉ; Xây dựng mẫu Đề cương học phần
thời gian, đến nay nó trở thành một thước đo toàn diện trong giáo dục đại học ở
Mỹ.
Vượt ra ngoài biên giới nước Mỹ, đào tạo theo tín chỉ bắt đầu được áp
dụng mạnh mẽ trước hết ở các nước Tây Âu từ những năm 1960 và lan rộng ra
toàn thế giới.
Ở Việt Nam, trước năm 1975 một số trường đại học đã áp dụng học chế
tín chỉ : Viện Đại học Cần Thơ, Viện Đại học Thủ Đức … Đại học Bách khoa
TP.HCM đã khôi phục nó từ năm 1993 và tiếp theo đó lần lượt trường Đại học
Đà Lạt, Đại học Cần Thơ, Đại học Thuỷ sản Nha Trang, trường Đại học Bách
khoa Hà Nội, Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Hồ Chí Minh...vv
Thực hiện theo Quy chế 43 về Đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy
theo hệ thống tín chỉ (Ban hành kèm theo Quyết định số 43/2007/QĐ-BGDĐT
ngày 15 tháng 8 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo), năm 2008,
Đại học Huế chuyển từ đào tạo hệ niên chế sang đào tạo theo hệ tín chỉ, Đại học
Khoa học - Đại học Huế nói chung và Khoa lý luận nói riêng cũng đã chuyển
đổi từ khóa tuyển sinh năm học 2008-2009.
1.1.2 Một số khái niệm về đào tạo tín chỉ
• Tín chỉ
Tín chỉ là đại lượng dùng để đo khối lượng kiến thức, kĩ năng của một
môn học mà người học cần phải tích lũy trong một khoảng thời gian nhất định
8
thông qua các hình thức: (1) học tập trên lớp; (2) học tập trong phòng thí
nghiệm, thực tập hoặc làm các phần việc khác (có sự hướng dẫn của giáo viên);
và (3) tự học ngoài lớp như đọc sách, nghiên cứu, giải quyết vấn đề hoặc chuẩn
bị bài.
• Giờ tín chỉ
Mỗi tiết học được quy định 50 phút được tính là một giờ tín chỉ. Một tín
học của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, để họ có thể vận dụng
tương đối tốt vào việc nhận thức và giải quyết những vấn đề hiện thực xã hội;
đồng thời, có khả năng hội nhập với khoa học triết học thế giới.
1.2.2. Nội dung chương trình đào tạo ngành Triết học
1.2.2.1. Khái quát nội dung chương trình đào tạo
Tổng số tín chỉ phải tích lũy: 121 tín chỉ, bao gồm:
- Khối kiến thức giáo dục đại cương
: 38 tín chỉ
- Khối kiến thức giáo dục chuyên nghiệp : 74 tín chỉ,
- Khối kiến thức thực tập, kiến tập
: 01 tín chỉ
-Khóa luận tốt nghiệp
: 07 tín chỉ
1.2.2.2 Khung chương trình đào tạo chi tiết
10
Chương 2
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP CỦA VIỆC HỌC TẬP
THEO PHƯƠNG THỨC ĐÀO TẠO TÍN CHỈ Ở KHOA LÝ LUẬN
CHÍNH TRỊ, TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC - ĐẠI HỌC HUẾ
2.1. Thực trạng của việc học tập theo phương thức đào tạo tín chỉ ở
khoa lý luận chính trị, Đại học khoa học - Đại học Huế
vai trò liên kết giữa các thành viên trong lớp, là cầu nối hiệu quả với Chi đoàn,
Khoa và Nhà trường trong việc thực hiện các kế hoạch đã đề ra.
2.1.3 Thực trạng về việc học tập của sinh viên các lớp chuyên ngành
- Về việc nắm bắt quy định, quy chế đào tạo tín chỉ của sinh viên
Theo điều tra, phần lớn chỉ nắm được một số thông tin rất cơ bản liên quan đến
việc cách quy điểm theo hệ số 4, điểm tích lũy, các lớp học phần. Việc đăng ký
học phần của nhiều sinh viên trong thời gian qua đã có một số vấn đề tồn tại như
sau: không đăng ký học phần hoặc đăng ký trễ so với thời gian quy định; không
theo dõi kết quả đăng ký học phần sau khi Nhà trường xét duyệt.
+
Về việc nắm bắt cách tính điểm
Điểm học phần là tổng của điểm đánh giá quá trình và điểm thi kết thúc học
phần nhân với trọng số tương ứng. Điểm học phần làm tròn đến một chữ số thập
phân, sau đó được chuyển thành điểm chữ như sau:
a. Loại đạt:
A (8,5 - 10) Giỏi
B (7,0 - 8,4) Khá
C (5,5 - 6,9) Trung bình
D (4,0 - 5,4) Trung bình yếu
b. Loại không đạt:
F (dưới 4,0) Kém
Cách tính điểm trung bình chung:
1. Để tính điểm trung bình chung học kỳ và điểm trung bình chung tích lũy, mức
điểm chữ của mỗi học phần phải được quy đổi sang điểm số như sau:
A tương ứng với 4
B tương ứng với 3
C tương ứng với 2
12
định của ĐH Huế, trong đó có 1 sinh viên của khoa Lý luận chính trị.
13
Cơ sở vật chất của Khoa vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu tự học của phần
lớn sinh viên.
Hiện nay đa số sinh viên tín chỉ vẫn còn xa lạ với việc tự hoạch định nội
dung học tập, và quản lý quá trình tự học, nhiều sinh viên sử dụng không đúng
mục đích thời gian tự học đã được thiết kế trong chương trình, phần lớn thời
gian dành cho các hoạt động riêng như: đi làm thêm, học thêm văn bằng hai, các
hoạt động vui chơi, giải trí, và không loại trừ những hoạt động xấu khác.
Bên cạnh đó, giảng viên vẫn chưa có biện pháp để kiểm tra, đánh giá việc
tự học và tự nghiên cứu của sinh viên.
Mặt khác, trong tự học, đối với sinh viên, khó nhất của học tín chỉ là phải
áp dụng phương pháp học tích cực.
Sinh viên vẫn chưa có kỹ năng và sáng tạo trong khi đọc tài liệu, chỉ giới
hạn trong những tài liệu mà giáo viên giới thiệu. Khả năng đọc hiểu, phân tích,
tổng hợp để nắm được nội dung cốt lõi các tác phẩm kinh điển chuyên ngành nói
riêng và các nội dung học phần nói chung còn hạn chế.
- Về việc học trên lớp
Đối với lớp học phần, có thể nhận thấy rất rõ ràng sinh viên không chuyên
triết học, không thích học, hay nặng hơn là chán học các bộ môn Mác - Lênin
nói chung bởi nó không phù hợp với những đòi hỏi đặc thù của từng chuyên
ngành. Việc dạy và học bị rút ngắn nên ngay cả những nội dung cơ bản nhất của
chương trình đã quá sơ sài so với yêu cầu cần phải có thì người giảng cũng
không kịp truyền thụ hết, chương trình học khô cứng và y hệt nhau cho mọi đối
tượng thuộc các chuyên ngành khác nhau nên học các lớp học phần chung về
chuyên đề Triết học bao giờ cũng khá thiệt thòi trong việc lĩnh hội hàm lượng
kiến thức trang bị cho sinh viên chuyên ngành.
kỳ, năm học, kế hoạch học tập phù hợp với từng môn học, thời gian và đặc điểm
tâm lý của bản thân, phải thực tế và linh hoạt, không thể lập một kế hoạch mà
trong đó mỗi công việc đều quy định thời gian cụ thể.
Thứ ba, chuẩn bị tài liệu và phương tiện theo sự hướng dẫn của
giảng viên
Để chuẩn bị bài kỹ trước mỗi buổi học, bên cạnh giáo trình môn học, mỗi
sinh viên cần chủ động sưu tầm tài liệu, thông tin trên các phương tiện; với các
yêu cầu cụ thể như: sinh viên sẽ trả lời những câu hỏi nào? Sử dụng phương tiện
15
gì để phục vụ cho việc học tập? để khi tiến hành bài học trên lớp thì giảng viên
và sinh viên cùng làm việc tránh tình trạng độc thoại của giảng viên.
Thứ tư, việc nghe giảng và ghi chép
- Chuẩn bị nghe giảng: Sinh viên cần làm tốt công tác chuẩn bị, nên bắt
đầu từ việc xem lại bài ghi lần trước . Khi nghiên cứu nội dung bài mới, những
vấn đề khó hoặc chưa hiểu, sinh viên nên ghi chép lại để khi nghe giảng sẽ chú ý
hơn và nếu bài giảng chưa giải thích rõ sinh viên cần trao đổi với thầy, cô hoặc
bạn bè.
- Nghe giảng và ghi chép trên lớp : khi nghe giảng, sinh viên phải hoạt
động tư duy hết sức tích cực, khẩn trương để có thể nắm được những vấn đề
giảng viên gợi mở, trình bày.
Đối với các môn Lý luận chính trị, cần đảm bảo tính chính xác và tính
logic của các quan điểm, luận cứ, luận chứng…Vì vậy, bài ghi của sinh viên
phải chính xác, đảm bảo yêu cầu về kiến thức và tính logic của bài học. Tuy
nhiên, cách ghi bài của mỗi sinh viên có thể khác nhau, tùy thuộc vào vốn hiểu
biết và sự vận dụng sáng tạo của mỗi sinh viên.
Thứ năm, thu thập kiến thức từ giáo trình và tài liệu
- Sinh viên phải biết lựa chọn sách, báo, tạp chí, văn kiện, nghị quyết...
phù hợp với từng bài học.
Để việc tự học, tự nghiên cứu đạt kết quả cao, bản thân sinh viên cần
được cung cấp hệ thống học liệu và bồi dưỡng phương pháp tự học, tự nghiên
cứu.
- Để khắc phục tình trạng thụ động trong học tập của sinh viên, Khoa cần
cử giảng viên cố vấn là người có tâm huyết, có kinh nghiệm trong quản lý đào
tạo và giảng dạy, nắm vững quy trình đào tạo theo hệ thống tín chỉ và hệ thống
môn học thuộc chuyên ngành.
Cố vấn học tập được xem là một mắt xích trong sợi dây chuyền đào tạo
theo hệ thống tín chỉ. Cố vấn học tập cần giúp đỡ sinh viên, khi các sinh viên
đăng ký học, học ngành hai, học tích lũy lại các học phần bị điểm F hoặc D để
cải thiện điểm trung bình chung tích lũy…
- Đối với sinh viên Triết học, Khoa lý luận chính trị:
Thứ nhất, yêu cầu nắm vững quy định, quy chế đào tạo tín chỉ.
17
Thứ hai, cần tích cực học tập, sử dụng đúng thời gian tự học để nghiên
cứu, học tập góp phần nhằm cao chất lượng trong đào tạo tín chỉ.
Thứ ba, tích cực tham gia các hoạt động phong trào của Đoàn Thanh niên,
Hội Sinh viên trong điều kiện mới.
18
KÊT LUẬN
Như vậy, thực hiện học chế tín chỉ là một điều tất yếu trong lộ trình đổi
mới giáo dục đại học ở Việt Nam. Đây cũng là cơ hội để trường Đại học Khoa
học Huế cùng với khoa Lý luận chính trị thay đổi mô hình giảng dạy để trở
thành một hệ thống dựa trên mục tiêu học tập, đặt trọng tâm vào việc học tập
1. PGS.TS. Trần Thanh Ái; Đào tạo theo hệ thống tín chỉ - Các nguyên lý, thực
trạng và giải pháp. Nguồn: .
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo. Giáo trình Đường lối cách mạng của Đảng Cộng
sản Việt Nam. Nxb. CTQG Hà Nội, 2009.
3. Bộ Giáo dục và Đào tạo. Giáo trình Những Nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa
Mác - Lênin. Nxb. CTQG Hà Nội, 2009.
4. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Quyết định số 43/2007/QĐ-BGD&ĐT
5. Bộ Giáo dục và Đào tạo. Giáo trình Tư tưởng Hồ Chí Minh. Nxb. CTQG Hà
Nội, 2009.
6. GS.TS Lê Thạc Cán; Tổ chức giảng dạy và học tập theo chương trình định
sẵn và theo học chế tín chỉ; Bài viết cho Tọa đàm về đào tạo theo tín chỉ ở
ĐHQGHN (4/2006).
7. TS. Nguyễn Kim Dung; Đào tạo theo hệ thống tín chỉ: Kinh nghiệm thế giới
và thực tế ở Việt Nam. Bài viết cho hội thảo "Đào tạo theo tín chỉ" do trường ĐH
Huflit tổ chức năm 2005.
Nguồn />8. Đại học Huế, Trường Đại học Khoa học, Niên giám 2008-2009.
9. Đại học Huế, Trường Đại học Khoa học, Niên giám 2009-2010.
10. PGS.TS Trần Kim Đỉnh; Đào tạo các môn lý luận chính trị theo tín chỉ Những bước đi đầu tiên. Nguồn />11. Nguyễn Tấn Hùng; Đào tạo tín chỉ ở nước ta hiện nay: ưu điểm, một số bất
cập và biện pháp thực hiện, Tạp chí Khoa học và Công nghệ, Đại học Đà Nẵng số 5 (40).2010, tr.148 - 154.
12. Luật Giáo dục sửa đổi ( được Quốc hội thông qua 20/5/2005)
13. Phạm Thị Ly, Hệ thống tích luỹ và chuyển đổi tín chỉ Châu Âu và phương
thức hội nhập của Việt Nam, trong "Kỷ yếu Hội thảo khoa học Đào tạo liên
thông theo hệ thống tín chỉ, Ban liên lạc các trường đại học và cao đẳng Việt
Nam", 2008.
21
14. Th.S Đinh Thị Phòng; Giảng dạy triết học đáp ứng yêu cầu đào tạo tín chỉ
chuyên ngành triết học ở trường Đại học khoa học, thực trạng và giải pháp. Đề
tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở, Đại học Khoa học Huế, 2010.