Luận văn nghiên cứu các bài tập nhằm phát triển sức mạnh tốc độ kỹ thuật đòn tay cho nam vận động viên karatedo đội tuyển quốc gia - Pdf 40

i
MỤC LỤC
Trang bìa
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục chữ viết tắt, ký hiệu và đơn vị đo lường sử dụng trong luận án
Danh mục bảng, biểu đồ, hình vẽ trong luận án

Trang

PHẦN MỞ ĐẦU

1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

4

1.1

4

Xu thế phát triển Karatedo trên thế giới và ở Việt Nam

1.1.1 Lịch sử phát triển Karatedo trên thế giới
1.1.2 Lịch sử phát triển Karatedo ở Việt Nam
1.1.3 Xu thế phát triển Karatedo hiện đại

4
9

1.3.2 Đặc điểm về phát triển tố chất sức mạnh tốc độ trong môn Karatedo
1.3.3 Đặc điểm về tố chất sức mạnh tốc độ trong thi đấu đối kháng môn
Karatedo

25
32
35

1.4

41

Nghiên cứu có liên quan

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU

47

2.1

Đối tượng nghiên cứu

47

2.2

Phương pháp nghiên cứu

47



2.3.1 Thời gian nghiên cứu
2.3.2 Địa điểm nghiên cứu

59
60

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN

61

Nghiên cứu thực trạng huấấn luyện phát triển SMTĐ kyỹ thuật
đòn tay cho nam VĐV Karatedo đội tuyển quốấc gia

61

3.1.1 Thực trạng huấấn luyện tốấ chấất sức mạnh tốấc độ cho nam VĐV
Karatedo đội tuyển quốấc gia
3.1.2 Nghiên cứu thực trạng huấn luyện SMTĐ đòn tay của nam VĐV
Karatedo đội tuyển quốc gia

61

3.2

Nghiên cứu nội dung, tiêu chuẩn đánh giá sức mạnh tốc độ và kỹ
thuật đòn tay cho nam VĐV Karatedo đội tuyển quốc gia

66


72

93

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

113

Kết luận

113

Kiến nghị

115

Danh mục các công trình công bố liên quan đến luận án

116

Tài liệu tham khảo

117

Phụ lục


iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT, KÝ HIỆU VÀ ĐƠN VỊ ĐO LƯỜNG
I. CÁC CHỮ VIẾT TẮT SỬ DỤNG TRONG LUẬN ÁN:

Nhà xuất bản

SMTĐ

Sức mạnh tốc độ

TDTT

Thể dục thể thao

TN

Thực nghiệm

TT

Thứ tự

VD

Ví dụ

VĐV

Vận động viên

II. ĐƠN VỊ ĐO LƯỜNG SỬ DỤNG TRONG LUẬN ÁN

cm


sl

Số lần


iv

DANH MỤC BẢNG, BIỂU TRONG LUẬN ÁN
Tt

Bảng

Tên bảng

Trang

1.

3.1

Thời gian huấn luyện tố chất thể lực của nam VĐV Karatedo đội
tuyển quốc gia

63

2.

3.2

Hiệu quả các kỹ thuật đòn tay trong thi đấu Kumite của nam VĐV

70

6.

3.6

HSTQ các test đánh giá SMTĐ đòn tay với thành tích thi đấu của
nam VĐV Karatedo đội tuyển quốc gia

71

7.

3.7

Kết quả kiểm tra các test thể lực của nam VĐV Karatedo đội
tuyển quốc gia
đội tuyển quốc gia

78

8.

3.8

Bảng chuẩn phân loại đánh giá SMTĐ đòn tay của nam VĐV
Karatedo

79


3.12

Tiêu chuẩn đánh giá các thông số kỹ thuật đòn tay của nam VĐV
Karatedo đội tuyển quốc gia

84

13.

3.13

Kết quả phỏng vấn lựa chọn hệ thống các bài tập huấn luyện
nhằm phát triển SMTĐ đòn tay cho nam VĐV Karatedo đội tuyển
quốc gia (n = 25)

Sau trang
90

14.

3.14

Kết quả kiểm tra các test đánh giá SMTĐ đòn tay của nam VĐV
Karatedo ĐTQG sau thực nghiệm lần 1

103

15.

3.15

19.

3.19

20.

3.20

21.

3.21

22.

3.22

23.

3.23

24.

3.24
Hình

26.
27.

2.1
2.2

Độ tăng trưởng SMTĐ đòn tay của nam VĐV Karatedo ĐTQG
qua hai lần thực nghiệm

Sau trang
105

Kết quả so sánh các thông số kỹ thuật đòn tay của nam VĐV
Karatedo đội tuyển quốc gia sau thực nghiệm lần 1
Kết quả so sánh các thông số kỹ thuật đòn tay của nam VĐV
Karatedo đội tuyển quốc gia sau thực nghiệm lần 2
So sánh sự tăng trưởng các thông số kỹ thuật đòn tay của nam
VĐV Karatedo ĐTQG qua các giai đoạn thực nghiệm
Kết quả đánh giá tổng hợp SMTĐ đòn tay của nam VĐV
Karatedo đội tuyển quốc gia sau quá trình thực nghiệm
Kết quả kiểm tra các thông số kỹ thuật đánh giá SMTĐ kỹ thuật
đòn tay của nam VĐV Karatedo đội tuyển quốc gia sau quá trình
thực nghiệm

Sau trang
106
Sau trang
106
Sau trang
106

Hiệu quả các kỹ thuật đòn tay trong thi đấu Kumite của nam VĐV
Karatedo sau thực nghiệm (n=70

Sau trang
111

106
Sau trang
106
Sau trang
106
Sau trang
106
Sau trang
111
Sau trang
111


0


1
PHẦN MỞ ĐẦU
Thể thao thành tích cao là một bộ phận cấu thành nền thể dục thể thao xã
hội chủ nghĩa. Mục đích của thể thao thành tích cao là vươn tới những đỉnh cao
thành tích. Động cơ thành tích chính là động lực mạnh mẽ thúc đẩy vận động
viên (VĐV) trong việc vươn tới các thành tích kỷ lục, cũng như thúc đẩy hoạt
động khoa học thể thao nhằm tìm ra những phương pháp, biện pháp, yếu tố mới
thúc đẩy, khai thác tối đa khả năng của con người trong việc vươn tới các thành
tích đó. Để thực hiện mục tiêu đó, ngành thể dục thể thao cũng đã đưa ra những
quan điểm, giải pháp hữu hiệu để đổi mới công tác đào tạo tài năng thể thao, chú
ý tập trung phát triển một số môn thể thao mũi nhọn để tham gia các đại hội thể
dục thể thao quốc tế và khu vực, trong đó có môn Karatedo.
Ở nước ta, so với các môn thể thao khác, Karatedo mặc dù được hình
thành muộn hơn song đã nhanh chóng phát triển rộng khắp các tỉnh, thành phố

lứa tuổi 14 - 16, nhưng đối tượng là các nam VĐV đội tuyển vẫn chưa ai đề cập tới.
Trên cơ sở phân tích ý nghĩa, tầm quan trọng và tính bức thiết của vấn đề,
luận án quyết định chọn luận án: “Nghiên cứu các bài tập nhằm phát triển sức
mạnh tốc độ kỹ thuật đòn tay cho nam VĐV Karatedo đội tuyển quốc gia".
1.2. Mục đích nghiên cứu:
Mục đích nghiên cứu của luận án nhằm tìm hiểu đặc điểm phát triển sức
mạnh tốc độ kỹ thuật đòn tay, các test đặc trưng cho phát triển sức mạnh tốc độ
kỹ thuật đòn tay VĐV của nam Karatedo đội tuyển quốc gia, trên cơ sở đó đề
xuất các bài tập để phát triển sức mạnh tốc độ kỹ thuật đòn tay cho các VĐV
nam Karatedo đội tuyển quốc gia, từ đó nâng cao khả năng tập luyện và thành
tích thi đấu của họ.
1.3. Mục tiêu nghiên cứu:
Mục tiêu 1: Nghiên cứu thực trạng huấn luyện phát triển sức mạnh tốc độ
kỹ thuật đòn tay của nam VĐV Karatedo đội tuyển quốc gia.
Mục tiêu 2: Nghiên cứu nội dung, tiêu chuẩn đánh giá sức mạnh tốc độ
và kỹ thuật đòn tay của nam VĐV Karatedo đội tuyển quốc gia.


3
Mục tiêu 3: Nghiên cứu lựa chọn bài tập nhằm phát triển sức mạnh tốc
độ kỹ thuật đòn tay cho nam VĐV Karatedo đội tuyển quốc gia.
1.4. Giả thiết khoa học:
Qua việc tìm hiểu đặc điểm phát triển sức mạnh tốc độ kỹ thuật đòn tay,
giả thiết luận án đánh giá xác định năng lực sức mạnh tốc độ có ảnh hưởng quan
trọng tới kỹ thuật đòn tay của VĐV nam Karatedo đội tuyển quôc gia. Do đó
việc sử dụng hệ thống các bài tập thể lực chuyên môn có kết hợp các yếu tố kỹ
thuật phát triển SMTĐ đòn tay vào các buổi tập sẽ góp phần nâng cao năng lực
SMTĐ và kỹ thuật đòn tay cho nam VĐV Karatedo đội tuyển quốc gia.



5
đây là Hiệp hội Karatedo lớn nhất và có uy tín nhất Nhật Bản, nó đại diện cho
Karatedo truyền thống Nhật Bản [67], [68].
1.1.1.2. Lịch sử phát triển môn Karatedo trên thế giới:
Karatedo đối với nhiều người yêu võ thuật vẫn còn mơ hồ về nguồn gốc
của nó. Tuy nhiên, xuất xứ chính xác của môn võ này cũng chưa được xác định,
bởi không tìm được thư tịch cổ nào ghi chép về môn võ này. Ngày nay, môn
Karate được phát triển khá mạnh trên toàn thế giới và được chia ra rất nhiều
nhánh hệ phái khác nhau như: Shotokan Ryu, Shito Ryu, Shorin Ryu, Wado Ryu,
Goju Ryu, Kyokushinkai,… Tuy nhiên, hiện tại chỉ có 4 hệ phái được chính thức
sát nhập vào hệ thống Karate trên toàn thế giới đó là: Shotokan Ryu (do thầy
Ghichin Funakoshi sáng lập), Shito Ryu (do thầy Kenwa Mabuni sáng lập),
Wado Ryu (do thầy Hironori Ohtsuka sáng lập) và Goju Ryu (do thầy Miyagi
Chojun sáng lập) [67].
Karatedo đã được truyền bá và nhân rộng tới nhiều quốc gia ngay từ đầu
những năm 1950, chủ yếu là các võ sư người Nhật trong Hiệp hội Karatedo Nhật
Bản (JKA). Nhưng họ chỉ quan tâm đến việc truyền bá võ thuật mà không quan
tâm đến việc thành lập các tổ chức quốc gia hay quốc tế giống như trong các
môn thể thao khác.
Vào năm 1961, một võ sư người Pháp (Đai đen 4 đẳng) tên là Jacques
Delcuourt tập hợp và cùng với các võ đường tại Pháp thành lập Liên đoàn
Karatedo Pháp.
Sau khi Karatedo được thành lập ở Pháp, thì liền ngay sau đó từ năm
1961 đến 1963 liên tục một số nước châu Âu thành lập liên đoàn (07 liên đoàn),
vào vào thời gian đó một giải Karatedo quốc tế lần đầu tiên được tổ chức ở Pháp
với chỉ có 3 nước tham gia, đó là Bỉ, Pháp, và Anh.
Vào ngày 15 tháng 12 năm 1963 (đây là mốc khởi đầu của phong trào
Karatedo Thế giới), 7 quốc gia đã tập hợp lại tại Pháp để mở đầu một Đại hội
Karatedo Châu Âu lần thứ nhất. Và tên tuổi của một trong số những thành viên
của Đại hội này có một ảnh hưởng rất lớn đối với WKF sau này.

Đại hội Châu Âu lần thứ tư được tổ chức vào năm 1966 đây là giải Vô
địch Châu Âu lần đầu tiên được tổ chức vào ngày 7/5/1966 tại Paris với các nội


7
dung: đồng đội (5 VĐV + 1 VĐV dự bị); và các nội dung cá nhân: với 4 VĐV/01
quốc gia không kể hạng cân và hoàn toàn chỉ có nam giới tham gia thi đấu (mà
phải đến 10 năm sau nữ mới có mặt tham gia thi đấu tại các giải của Karatedo,
năm 1974).
Trong giải đấu này có rất nhiều chấn thương ở mặt. Các nhà Điều hành
đã phải họp nhau lại để thảo luận về vấn đề này (đây là vấn đề cho đến 33 năm
sau vẫn chưa giải quyết được).
Trong số những VĐV thi đấu tại giải Vô địch Châu Âu lần thứ nhất này,
có một số VĐV đã trở nên nổi tiếng: Ông T. Morris, người sau này trở thành
Chủ tịch Hội đồng trọng tài Liên đoàn Karatedo thế giới.
Đại hội đã phân tích các kết quả tại giải Vô địch Châu Âu. Có rất nhiều ý
kiến, quan điểm khác nhau: có ý kiến cho rằng các trận đấu quá nặng, căng
thẳng, có người cho rằng các điều luật không ngăn được các tình huống bạo lực
thường xảy ra trong trận đấu, có ý kiến cho rằng phải có sự khống chế.
Năm 1967 Lớp trọng tài đầu tiên được tổ chức ở Rom (Italia). Nhiệm vụ
chính duy trì và phát triển theo tinh thần dựa trên cơ sở các điều luật của Hiệp
hội Karatedo Nhật Bản – JKA (Japan Karate Association).
Giải Vô địch Châu Âu lần thứ 2 được tổ chức vào ngày 5 và 6/5/1967 tại
Luân Đôn (nước Anh). Tại giải lần này có hai nội dung chính được Chủ tịch
Delcourt đề xuất và được Đại hội quyết định hai điểm chính sau:
Các trận đấu đồng đội sẽ là 5 người thi đấu chính và 2 người dự bị (hệ
thống thi đấu này vẫn duy trì cho đến nay).
Các trận đấu cá nhân bị chấn thương và các VĐV bị chấn thương tại các
trận đồng đội hoặc bị kiệt sức trong trận đồng đội sẽ phải được xem xét trước khi
tiếp tục thi đấu. Do đó, Chủ tịch đã đưa khuyến cáo những VĐV tham gia thi đấu

nhất đổi tên Tổ chức liên hiệp Karatedo Thế giới (WUKO) thành Liên đoàn
Karatedo thế giới (WKF) với hơn 150 quốc gia trong đó có Việt Nam. Cùng năm
này đội tuyển Karatedo Việt Nam cũng đã tham dự giải Vô địch thế giới lần thứ
2 được tổ chức tại Kota Kinabalu, Malaysia [68].
Từ năm 1994 đến nay WKF liên tục phát triển và ngày càng hoàn thiện
hệ thống tổ chức, luật thi đấu nhằm hướng tới có mặt tại Olympic - một đấu
trường cao nhất hành tinh.


9
1.1.2. Lịch sử phát triển Karatedo ở Việt Nam:
Ở Việt nam môn Karatedo được phát triển rất mạnh do tính khoa học và
hiệu quả tập luyện của nó cộng với chủ nghĩa anh hùng dân tộc và tinh thần
thượng võ của người dân Việt Nam. Ở Thành phố Hồ Chí Minh phát triển hệ
phái Kyokyushinkar do võ sư Hồ Cẩm Ngạc truyền bá vào khoảng năm 1950. Ở
Huế phát triển hệ phái Goju do một người Nhật tên là Chojin Suzuki truyền bá,
giảng dạy. Từ Miền Nam và qua một số học giả nước ngoài Karatedo đã được du
nhập vào Hà Nội, nhưng chỉ sau ngày đất nước hoàn toàn thống nhất vào năm
1975, Karatedo mới thực sự được truyền bá và phát triển rộng khắp. Với sự ham
mê võ thuật của người dân Việt Nam, đặc biệt là tầng lớp thanh thiếu niên và
được sự quan tâm đầu tư, khuyến khích của Lãnh đạo các cấp trong và ngoài
ngành thể thao tại các tỉnh, thành ngành trong cả nước, nên đến năm 1980 đã
thành lập được một số câu lạc bộ tập luyện có mặt ở hầu hết các tỉnh, thành trong
cả nước.
Tuy nhiên mãi đến năm 1984 một số giải thi đấu mới được tổ chức nhưng
vẫn mang tính tự phát, vì vậy năm 1987 một cuộc hội thảo về Karatedo tại Huế
đã thống nhất sử dụng Luật trong thi đấu Karatedo (tuy mới chỉ tập trung vào
Luật Kumite). Tháng 7 năm 1988 giải Huế Hữu nghị được tổ chức và tiếp theo
đó năm 1989 tại Hà Nội cũng tổ chức theo phương thức giải này. Tại các giải
này, hệ thống tổ chức chỉ mang tính giao lưu giữa các câu lạc bộ, vùng, miền

1.1.3. Xu thế phát triển Karatedo hiện đại:
Hiện nay trình độ Karatedo thi đấu trên Thế giới đã phát triển đến đỉnh cao
(mặc dù chưa được đưa vào Olympic), nhiều chuyên gia, HLV từ kinh nghiệm
huấn luyện thành công trong môn Karatedo đã cho rằng đặc trưng

chủ yếu

trong kỹ thuật, chiến thuật của VĐV Karatedo là: Nhanh, mạnh, khéo léo và
chuẩn xác với sự khống chế cao khi va chạm vào mục tiêu, hơn nữa những mục
tiêu lại luôn biến hóa khôn lường chỉ trong một hiệp đấu duy nhất. Đây là con
đường tất yếu giành thắng lợi trong thi đấu Karatedo đỉnh cao.
Nhanh: trong môn Karatedo chính là tốc độ ra đòn (tấn công và phản
công) trong Karatedo được các nhà chuyên môn và khoa học đánh giá rất cao về


11
sự biến hóa và tốc độ của nó, thậm chí nếu không tập trung cao thì khó quan sát
được đòn đánh diễn ra như thế nào. Điều này cho thấy tốc độ đòn rất nhanh và
chớp nhoáng. Kỹ thuật dứt điểm nhanh trong thời gian ngắn nhất (có thể chưa
đến 1 giây). Nhanh còn biểu hiện qua phản ứng ra đòn và vào đòn, tần số động
tác, di chuyển và né tránh đòn.
Mạnh: Sức mạnh trong Karatedo thường được thể hiện ở sự kết hợp với
sức nhanh, như sự tung đòn với một tốc độ và sức mạnh tối đa nhưng khi chạm
mục tiêu phải có sự khống chế, đây là khả năng tự điều khiển thần kinh – một
khả năng quan trọng và đặc trưng nhất mà các môn võ khác không có. Sức mạnh
trong Karatedo hay nói cách khác chính là SMTĐ. Sức mạnh trong môn
Karatedo làm chấn động chứ không được phép làm chấn thương đối phương –
đây cũng chính là chữ “Do” - chính là đạo trong môn Karatedo - và cũng là một
trong những tiêu chuẩn ghi điểm trong thi đấu môn Karatedo.
Khéo léo: Đây là một yếu tố mà Karatedo trước kia chưa được chú trọng,

thể không nắm rõ luật thi đấu. Mặc dù, chỉ xoay quanh các kỹ thuật theo các tiêu
chí ở trên, nhưng hàng năm Liên đoàn Karatedo đều có sự điều chỉnh bổ sung
các Điều luật để cho phù hợp cũng như ngắn gọn và rõ ràng hơn để có thể từng
bước tham gia vào Đại hội thể thao Olympic trong tương lai.
1.2.Một số đặc điểm cơ bản trong huấn luyện kỹ thuật
môn Karatedo:
1.2.1. Đặc điểm kỹ thuật trong thi đấu thể thao:
1.2.1.1. Một số khái niệm:
Kỹ thuật của bài tập thể lực (tức kỹ thuật thể thao) là cách thức sắp xếp,
tổ chức và thực hiện hệ thống các động tác để giải quyết nhiệm vụ vận động,
hoặc nói gọn hơn, đó là những cách thức để giải quyết nhiệm vụ vận động [36], [49].
Những cách thức giải quyết nhiệm vụ vận động hợp lý và có hiệu quả
cao nhất được gọi là kỹ thuật thể thao.
Kỹ thuật thể thao luôn được đổi mới và hoàn thiện. Sự tìm tòi, khám phá
khoa học về các quy luật vận động của cơ thể, sự tiến bộ về trình độ thể lực của
VĐV, sự hoàn thiện các phương pháp giảng dạy, huấn luyện, sự đổi mới các thiết


13
bị, dụng cụ, sân bãi thể thao đang là những nhân tố chủ yếu thúc đẩy sự ra đời
các kỹ thuật thể thao mới trong hầu hết các môn thể thao.
Mỗi loại hình bài tập có những yêu cầu chuyên biệt về mặt kỹ thuật thể
thao. Xét theo các yêu cầu chuyên biệt đó, có thể phân tích chia các môn thể thao
nhành ba nhóm:
Nhóm thứ nhất: Gồm các môn thể thao có quy định chặt chẽ cách thức
thực hiện động tác, như các môn thể dục dụng cụ, nhào lộn, và một số môn võ
thuật ở nội dung biểu diễn (kata trong môn Karatedo);
Nhóm thứ hai: Phần lớn gồm các môn vận động có chu kỳ, trong đó phụ
thuộc vào yêu cầu đạt thành tích ở mức tối đa, như các môn cử tạ, điền kinh, bơi,...
Nhóm thứ ba: Gồm tất cả các môn thi đấu đối kháng và các môn bóng.

Quỹ đạo chuyển động là đường đi của một bộ phận nào đó của thân trong
không gian. Quỹ đạo được thể hiện bằng hình dạng, phương hướng và biên độ
chuyển động. Sự đa dạng của hình dáng quỹ đạo động tác phụ thuộc vào khả
năng đa dạng của sự phối hợp thần kinh vận động, độ linh hoạt của các khớp [4], [49].
Đặc tính không gian-thời gian: Đặc tính này biểu hiện bằng tốc độ
chuyển động. Đó là độ nhanh của sự chuyển dịch vị trí trong không gian của vật
thể hay một điểm trong một đơn vị thời gian [49]. Trong các môn thể thao, đặc
biệt là các môn đòi hỏi SMTĐ, phụ thuộc rất nhiều vào khả năng tạo được tốc độ
cao trong động tác của một số bộ phận cơ thể (thí dụ, động tác giậm nhảy trong
các môn nhảy, động tác ra đòn trong các môn võ).
Đặc tính về lực: Mỗi một động tác được thực hiện đều là kết quả của sự
tác động qua lại giữa các lực tạo thành động tác đó. Các lực đó gồm lực bên
trong và lực bên ngoài [49].
Lực bên trong của động tác bao gồm lực kéo của cơ khi co, lực đàn hồi
và độ trơn nhờn của cơ, lực phản hồi do sự tác động qua lại giữa các bộ phận cơ
thể (phản lực).
Lực bên ngoài là những lực tác động lên cơ thể từ phía ngoài, bao gồm
trọng lực của bản thân cơ thể, phản lực điểm tựa, lực ma sát của môi trường
(nước, không khí...) và các lực tác động của người ngoài (đối thủ, người cùng
tập...), của dụng cụ.


15
Đặc tính thời gian của động tác thể hiện ở thời gian kéo dài và nhịp độ
của động tác.
1.2.2. Đặc điểm kỹ thuật trong môn Karatedo:
Khái niệm về kỹ thuật trong môn Karatedo: Thuộc loại hình môn kỹ năng
giao đấu đối kháng trực tiếp, với các quy định về giao tiếp, lễ nghĩa, giáo dục
phẩm chất ý chí; Trong thực hiện kỹ thuật với yêu cầu đòi hỏi cao về tư thế,
động tác chính xác. Là một môn thể thao được đưa vào hệ thống thi đấu bao gồm

kỹ thuật quăng quật, chộp bẻ hầu như bị lãng quên và không được thường xuyên
sử dụng trong tập luyện kỹ thuật của Karatedo mà chỉ tập trung chủ yếu vào các
kỹ thuật tay, chân. Đây chính là lý do nhiều người thường cho rằng Karatedo chỉ
có kỹ thuật tay và chân. Nhưng sự thực Karatedo gồm tất cả các kỹ thuật quăng,
quật, chộp bẻ và đều có quy luật và luật lệ riêng. Thời gian gần đây, theo luật thi
đấu, nếu các kỹ thuật này được kết hợp với các kỹ thuật để ghi điểm thì đây là
một trong những kỹ thuật ghi điểm cao trong Kumite [22], [30], [36].
Các tư thế tấn:
Karatedo có nhiều thế tấn, chúng được sử dụng để biểu diễn nghệ thuật
và trong thi đấu thể thao. Những người chủ trương phòng thủ cũng như những
VĐV thể thao đều tận dụng đến tấn pháp để tìm dịp tốt tung ra những đòn đá
hoặc đòn đấm thích thợi. Trong Karatedo, các thế tấn đều tùy thuộc vào động tác
của tay và chân. Chính thế đứng của cơ thể sẽ quyết định sức mạnh của một đòn
đánh hoặc một đòn đỡ. Nếu thế đứng vững và thăng bằng thì các động tác sẽ rất
mạnh và có hiệu quả. Một số thế đứng tấn cho phép người tập có thể dễ dàng
tiến tới trước để tấn công hoặc lùi nhanh ra phía sau để tránh né. Một số thế khác
giúp người tập có thể tung ra đòn nhanh, mạnh. Các thế tấn không chỉ sử dụng
trong giao đấu đối kháng, chúng còn giúp ổ định thể lực khi người tập bị mệt
hoặc căng thẳng.
Trong Karatedo, có nhiều hệ phái mỗi một hệ phái lại có những đặc trưng
khác nhau, với mỗi thế tấn đều có mục đích sử dụng khác nhau, nhưng tựu chung
đều có những nguyên lý chung và được phân thành 3 nhóm chính với các thế


17
ng t nhiờn, th ng kộo cng ra ngoi v th ng kộo cng vo trong [11], [24],
[36].
Cỏc t th thõn hỡnh gm hai nhúm l t th thng ng v t th ng
ngi, theo 3 cỏch: i din, bỏn din v trc din [11], [29], [36].
1.2.2.2. K thut trong thi u th thao :

soát được đòn đánh của mình ở mọi nơi, mọi lúc. Có hai dạng Kumite được sử
dụng trong tập luyện đó là Kihon Kumite và Jiyu Kumite [36], [57], [67].
“Kihon Kumite” là những bước căn bản đầu tiên trong thi đấu đối kháng,
nhằm huấn luyện cho VĐV khả năng thi đấu như trong môi trường thi đấu thực
sự. Các kỹ thuật trong Kihon Kumite được sử dụng trong tập luyện và thi đấu cả
trong Kata (trong trình diễn Bunkai) và trong thi đấu Kumite (đối kháng).
“Jiyu Kumite” tương tự như các kỹ thuật trong Kihon Kumite, nhưng có
khác biệt là các kỹ thuật được thực hiện ở một trạng thái tự nhiên của cơ thể (các
thế tấn tự nhiên). Việc sử dụng các kỹ thuật trong Jiyu Kumite đòi hỏi có sự
thành thạo về các kỹ thuật Kihon trước đó. Các kỹ thuật trong Jiyu Kumite cũng
tương tự như các kỹ thuật trong Kihon Kumite, nhưng khác biệt là các đối thủ tự
do thực hiện tất cả các kỹ thuật nếu thấy nó phù hợp với từng điều kiện, hoàn
cảnh, khoảng cách và các nhân tố khác. Việc thi đấu này không có quy ước
trước, khác với Kihon Kumite đã được quy ước khi thực hiện. Do vậy, việc sử
dụng các kỹ thuật trong Jiyu Kumite đòi hỏi phải thành thạo các kỹ thuật Kihon
Kumite trước đó. Các kỹ thuật trong Jiyu Kumite chỉ sử dụng trong tập luyện và
thi đấu Kumite.
1.2.3. Đặc điểm về tâm lý vận động của VĐV nam ĐTQG trong thi đấu
đối kháng môn Karatedo
Trong thi đấu Kumite các quá trình cảm xúc, ý chí, hành động luôn thay đổi
và các tình huống xảy ra trong một trận đấu rất đa dạng, mặc dù chỉ trong thời
gian rất ngắn, do vậy đòi hỏi phải có tri giác nhạy bén cao, tư duy chính xác, tốc
độ và khả năng phán đoán các hành động của đối thủ có thể xảy ra đặc biệt ở
những giây phút cuối trận đấu hoặc ở những trận đấu quyết định.


19
Thi đấu Kumite trong Karatedo là một môn thể thao giao đấu đối kháng cá
nhân trực tiếp, đòi hỏi VĐV phải chịu đựng nặng nề về tâm lý với những áp lực
về khát vọng chiến thắng, do trách nhiệm danh dự và sự tự tôn của bản thân… có


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status