Luận văn nghiên cứu nhu cầu về chuyên môn của thực tiễn giáo dục đối với giáo viên thể dục thể thao cấp trung học cơ sở các tỉnh phía bắc - Pdf 40

1

MỞ ĐẦU
Lý do chọn đề tài
Giáo dục đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong chiến lược phát triển của
mỗi quốc gia. Đảng và Nhà nước ta luôn đề cao vai trò của giáo dục, coi giáo
dục là quốc sách hàng đầu, đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển, trong
đó vấn đề đội ngũ nhà giáo được coi là khâu then chốt. Để biến các mục tiêu
giáo dục thành hiện thực, đội ngũ giáo viên chính là lực lượng nòng cốt giữ
vai trò quyết định chất lượng và hiệu quả giáo dục. Chỉ thị 40/CT - TW của
Ban bí thư Trung ương Đảng đã đưa ra việc phải xây dựng đội ngũ nhà giáo
và quản lý giáo dục một cách toàn diện với mục tiêu chuẩn hóa, đảm bảo chất
lượng, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu và coi đây là nhiệm vụ vừa đáp ứng
yêu cầu trước mắt vừa mang tính chiến lược lâu dài nhằm thực hiện thành
công chiến lược phát triển giáo dục và chấn hưng đất nước [22].
Trong hệ thống giáo dục Quốc dân, giáo dục THCS có vai trò hết sức
quan trọng, bởi đây là cấp học mang tính liên thông giữa cấp tiểu học và cấp
THPT. Giáo dục THCS có vai trò là cầu nối, là sự chuyển giao giữa cấp học
nền tảng với cấp học có chức năng định hướng nghề nghiệp tương lai cho học
sinh [20], [26].
GDTC có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với tương lai của mỗi con
người, nhất là với lứa tuổi học sinh cấp THCS, bởi đây là giai đoạn phát triển
quan trọng về tâm - sinh lý và nhận thức xã hội. Quá trình GDTC trong nhà
trường có tác động tích cực không chỉ đối với sự phát triển thể chất, mà còn
tác động tích cực và có hiệu quả tới sự hình thành và phát triển nhân cách của
học sinh. GDTC ở nhà trường THCS là môi trường giàu tiềm năng để phát
hiện và bồi dưỡng nhân tài thể thao cho đất nước [3], [81].
Thực tiễn của nền giáo dục Việt Nam hơn 40 năm qua đã chứng minh
những đóng góp to lớn của công tác GDTC trường học nói chung và đội ngũ





3

môn học và về kiến thức và kỹ năng tự học, tự phát triển năng lực nghề
nghiệp. Điều đó đã dẫn đến hiện trạng mục tiêu và vị thế của công tác GDTC
trong nhà trường chưa được đảm bảo, chưa được phát huy tương xứng với
tiềm năng và kỳ vọng của xã hội, của tuổi trẻ học đường [78].
Thực trạng đó đồng thời là nhân tố kìm hãm xu thế và cơ hội đổi mới
nội dung môn học theo hướng phù hợp với nhu cầu và năng lực của học sinh;
tạo ra tình trạng giáo viên thiếu tích cực, chủ động tham gia tiến trình đổi mới
nội dung và chất lượng dạy học, làm gia tăng khoảng cách về chất lượng, uy
tín của môn học so với các môn học khác trong mỗi nhà trường. Vì vậy, bù
đắp sự thiếu hụt về tiềm năng và phát triển tiềm năng của giáo viên để tham
gia hoạt động ĐMGD có hiệu quả là điều kiện tiên quyết để nâng cao chất
lượng GDTC trong nhà trường THCS các tỉnh phía Bắc.
Từ những phân tích trên và xuất phát từ yêu cầu đổi mới giáo dục,
chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu nhu cầu về chuyên môn
của thực tiễn giáo dục đối với giáo viên Thể dục thể thao cấp Trung học
cơ sở các tỉnh phía Bắc”.
Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài hướng tới mục đích góp phần nâng cao trình đội
chuyên môn của đội ngũ giáo viên TDTT cấp THCS các tỉnh phía Bắc trước
nhu cầu của thực tiễn giáo dục.
Mục tiêu nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu, đề tài xác định các mục tiêu:
Mục tiêu 1. Nghiên cứu nhu cầu chuyên môn, cụ thể hóa các tiêu chí
phản ánh nhu cầu của thực tiễn giáo dục đối với giáo viên TDTT cấp THCS
các tỉnh phía Bắc.
Mục tiêu 2. Đánh giá thực trạng trình độ chuyên môn của đội ngũ giáo

phục có hiệu quả những tồn tại cơ bản về chuyên môn của giáo viên do quá
trình đào tạo trước đây trong các nhà trường CĐSP địa phương, tạo tiền đề để
giáo viên có thể tự nâng cao trình độ, đáp ứng yêu cầu đổi mới tiếp theo của
thực tiễn giáo dục, của đổi mới chương trình GDPT sau năm 2015.


5

Chương 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Quan điểm của Đảng và tư tưởng Hồ Chí Minh về
phát triển giáo dục
1.1.1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục
Tư tưởng về một nền giáo dục dân tộc, khoa học, đại chúng phục vụ sự
nghiệp giải phóng dân tộc và kiến thiết đất nước
Cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công cũng là thời điểm Chủ tịch Hồ
Chí Minh khai sinh cho đất nước một nền giáo dục dân tộc khoa học và đại
chúng. Ngay khi mới giành được độc lập, Người đã kêu gọi toàn dân thực hiện
nhiệm vụ trọng đại và cấp bách là diệt giặc đói, diệt giặc dốt, diệt giặc ngoại
xâm. Chính phủ do Người chỉ đạo đã bắt tay ngay vào một chương trình hành
động với những công việc thiết thực như kêu gọi mọi người dân tham gia học
chữ quốc ngữ trong phong trào bình dân học vụ. Tháng 9 năm 1945, Người gửi
thư cho học sinh cả nước nhân ngày khai trường. Bức thư của Người chính là
cương lĩnh cho nền giáo dục mới - một nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam [30].
Ngày 10 tháng 10 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh
thành lập Ban đại học văn khoa, Bộ Giáo dục ra tuyên bố nêu rõ mục đích của
nền giáo dục Việt Nam là, tôn trọng nhân phẩm, rèn luyện chí khí, phát triển
tài năng của mọi người để phụng sự đoàn thể và góp phần vào sự tiến hóa
chung của nhân loại. Với phương pháp giáo dục mới, chú trọng phần thực
học, phần học về chuyên môn nghề nghiệp chiếm một vị trí quan trọng giúp
học sinh có lối nhận thức khoa học, phát triển tư duy sáng tạo và óc thực tế

tư tưởng, văn hoá có trách nhiệm truyền bá cho thế hệ trẻ lý tưởng đạo đức
chân chính…chính vì vậy Bác cũng đưa ra những yêu cầu về phẩm chất đối
với người thầy giáo là phải thật thà, yêu nghề, đoàn kết với đồng nghiệp giúp
đỡ nhau cùng tiến bộ, thương yêu học sinh như con em ruột thịt của mình và
phải luôn ra sức thi đua công tác và học tập để không ngừng nâng cao trình độ
chuyên môn nghiệp vụ [30].


7

Chủ tịch Hồ Chí Minh - vị lãnh tụ vĩ đại của cách mạng Việt Nam đồng
thời cũng là một nhà giáo dục lớn của dân tộc, tư tưởng của Người về giáo dục
được thể hiện trên nhiều bình diện, những tư tưởng đó là mô tô bô ô phâ nô rất quan
trọng trong kho tàng lý luận về giáo dục và đã trở thành mục tiêu, nguyên lý,
phương pháp, phương châm dạy và học của nền giáo dục nước nhà.
1.1.2. Quan điểm đường lối của Đảng trong đổi mới căn bản, toàn diện nền
giáo dục hiện nay
Xu hướng phát triển giáo dục trên thế giới
Bước sang thế kỷ XXI thế giới có nhiều biến đổi, khoa học và công
nghệ có bước tiến nhảy vọt, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của GD&ĐT và
xu hướng toàn cầu hóa, đại chúng hóa giáo dục nên số người lao động có
trình độ cao ngày càng tăng, nền kinh tế tri thức có vai trò đặc biệt quan trọng
trong quá trình phát triển ở nhiều quốc gia [99], [100].
Để đáp ứng nhu cầu về lực lượng lao động cho nền kinh tế luôn biến đổi,
giáo dục cũng luôn phải bám sát thực tiễn, thích nghi với những thay đổi về cơ
cấu của nền kinh tế. Toàn cầu hóa kinh tế là một xu thế khách quan, do vậy hiện
nay hệ thống các nền giáo dục trên thế giới cũng đang đứng trước xu hướng toàn
cầu hóa, đại chúng hóa, quốc tế hóa giáo dục, liên kết mở rộng qui mô với các
cơ sở giáo dục ở nước ngoài... Trong khi quá trình toàn cầu hóa đã đem đến quá
trình thương mại hóa song song với quốc tế hóa các trường học, việc liên kết về

khâu then chốt trong đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục [23].
Nghị quyết hội nghị lần 8 BCH TW Đảng khóa XI (Nghị quyết số 29NQ/TW) về đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT, đáp ứng yêu cầu CNH HĐH trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc
tế đã đưa ra quan điểm chỉ đạo [24]:
- GD&ĐT là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và
của toàn dân. Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, được ưu tiên đi trước
trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hô ôi.
- Đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT là đổi mới những vấn đề lớn, cốt
lõi, cấp thiết, từ quan điểm, tư tưởng chỉ đạo đến mục tiêu, nội dung, phương


9

pháp, cơ chế, chính sách, điều kiện bảo đảm thực hiện, đổi mới ở tất cả các
bậc học, ngành học ...
- Phát triển GD&ĐT là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng
nhân tài. Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang
phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học. Học đi đôi với hành; lý
luận gắn với thực tiễn; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và
giáo dục xã hội.
- Phát triển GD&ĐT phải gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và
bảo vê ô Tổ quốc.
- Đổi mới hệ thống giáo dục theo hướng mở, linh hoạt, liên thông giữa
các bậc học, trình độ và giữa các phương thức giáo dục, đào tạo. Chuẩn hoá,
hiện đại hoá GD&ĐT.
- Chủ đô nô g phát huy mă tô tích cực, hạn chế mă tô tiêu cực của cơ chế thị
trường, bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển GD&ĐT. Ưu tiên
đầu tư phát triển GD&ĐT đối với các vùng đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc
thiểu số, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa và các đối tượng chính sách...
- Chủ động, tích cực hội nhập quốc tế để phát triển GD&ĐT, đồng thời
GD&ĐT phải đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế để phát triển đất nước.

- Đổi mới căn bản công tác quản lý giáo dục, đào tạo, bảo đảm dân chủ,
thống nhất; tăng quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội của các cơ sở giáo dục,
đào tạo; coi trọng quản lý chất lượng.
- Phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý, đáp ứng yêu cầu đổi
mới GD&ĐT. Xây dựng quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đô ôi ngũ nhà
giáo và cán bô ô quản lý giáo dục gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội,
bảo đảm an ninh, quốc phòng và hội nhập quốc tế. Thực hiện chuẩn hóa đội
ngũ nhà giáo theo từng cấp học và trình đô ô đào tạo. Tiến tới tất cả các giáo
viên tiểu học, THCS, giáo viên, giảng viên các cơ sở giáo dục nghề nghiê ôp
phải có trình độ từ đại học trở lên, có năng lực sư phạm. Đổi mới mạnh mẽ
mục tiêu, nô ôi dung, phương pháp đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng và đánh giá
kết quả học tập, rèn luyện của nhà giáo theo yêu cầu nâng cao chất lượng,
trách nhiệm, đạo đức và năng lực nghề nghiệp.


11

- Nâng cao chất lượng, hiệu quả nghiên cứu và ứng dụng khoa học,
công nghệ, đặc biệt là khoa học giáo dục và khoa học quản lý
- Chủ động hội nhập và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế trong giáo
dục, đào tạo
Mục tiêu đến năm 2020 nền giáo dục nước ta được đổi mới căn bản và
toàn diện theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội
nhập quốc tế; chất lượng giáo dục được nâng cao một cách toàn diện. Đến năm
2020, tỷ lệ đi học đúng độ tuổi ở tiểu học là 99%, THCS là 95% và 80% thanh
niên trong độ tuổi đạt trình độ học vấn THPT và tương đương. Phấn đấu đến
năm 2030, nền giáo dục Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực.
1.2. Giáo dục trung học cơ sở trong hệ thống giáo dục quốc dân
1.2.1. Vị trí, vai trò và mục tiêu của giáo dục THCS trong hệ thống giáo
dục quốc dân

nền tảng, đáp ứng yêu cầu phân luồng mạnh sau THCS [24], [66].
1.2.2. Khái quát về hệ thống trường, lớp, giáo viên và học sinh cấp THCS
1.2.2.1. Hệ thống trường và lớp cấp THCS
Nghị quyết hội nghị lần 2 BCH Trung ương Đảng khóa VIII đã đưa ra
định hướng chiến lược về phát triển GD&ĐT trong thời kỳ CNH - HĐH, với tư
tưởng chỉ đạo là thực sự coi GD&ĐT là quốc sách hàng đầu và GD&ĐT là sự
nghiệp của toàn đảng, của Nhà nước và toàn dân. Từ tư tưởng chỉ đạo cùng các
chính sách quan tâm, đầu tư cho giáo dục, GD&ĐT đã đạt được những thành
tựu quan trọng, đặc biệt là quy mô giáo dục và mạng lưới cơ sở GDPT phát
triển nhanh chóng và rộng khắp trên cả nước đáp ứng nhu cầu học tập ngày
càng tăng của nhân dân. Với chính sách xã hội hóa, giáo dục Việt Nam đã có
những điều kiện vật chất tốt hơn, chấm dứt tình trạng học 3 ca một ngày, cả
nước đã hoàn thành mục tiêu xóa mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học vào năm
2000 và phổ cập giáo dục THCS vào năm 2010, đến nay hệ thống các trường
THCS đã có ở hầu hết các xã hoặc liên xã trên toàn quốc [11], [21].
Hệ thống trường, lớp cấp THCS được tổ chức dưới nhiều loại hình
trường học khác nhau, trong đó có trường công lập và ngoài công lập; trường


13

THCS (từ lớp 6 đến lớp 9); trường phổ thông cơ sở (từ lớp 1 đến lớp 9) và
trường trung học liên cấp (từ lớp 6 đến lớp 12). Tuy nhiên, trường THCS
được tổ chức riêng cho học sinh từ lớp 6 đến lớp 9 chiếm đại đa số trong hệ
thống trường, lớp cấp THCS hiện nay.
Từ năm 2000 đến nay do tỷ lệ dân số tăng nhanh nhất là trong độ tuổi
đến trường nên quy mô và mạng lưới trường học cũng phát triển mạnh. Kết
quả thống kê được trình bày tại bảng 1.1 cho thấy: số trường THCS liên tục
được xây mới, năm học 2000 - 2001 tổng số trường THCS trên cả nước là
7.733 trường, trong đó trường công lập có 7.635 trường, trường ngoài công

36
1,41

1.2.2.2.Học sinh cấp THCS
Học sinh THCS là những học sinh đã hoàn thành chương trình tiểu học
và có độ tuổi từ 11 tuổi đến 15 tuổi, đây là lứa tuổi có sự phát triển mạnh mẽ
về nhiều mặt cả về thể chất, tâm lý và trí tuệ. Việc học tập ở trường THCS có
sự khác biệt và phức tạp hơn so với ở tiểu học, các em chuyển sang chương


14

trình học tập có phân môn mà mỗi môn học gồm những khái niệm, những quy
luật được sắp xếp thành một hệ thống tương đối sâu sắc, do vậy đòi hỏi các
em phải có sự tự giác và độc lập cao.
Số lượng học sinh cấp THCS từ năm học 2000 - 2001 đến nay có
nhiều biến động, tỷ lệ học sinh phổ thông trong độ tuổi đi học tăng nhanh
vào những năm đầu của thập kỷ mới, trong đó số học sinh cấp THCS năm
học 2000 - 2001 là 5.918.153 học sinh, tăng mạnh nhất vào năm học 2003 2004, với tổng số 6.612.099 học sinh, tuy nhiên các năm học sau số lượng
học sinh lại có chiều hướng giảm dần, đến năm học 2011 - 2012 chỉ còn
4.926.401 học sinh [11].
1.2.2.3. Đội ngũ giáo viên cấp THCS
Xuất phát từ vị trí, vai trò và tầm quan trọng của đội ngũ nhà giáo đối
với sự nghiệp phát triển giáo dục, Đảng, Nhà nước cùng ngành Giáo dục luôn
dành sự quan tâm đãi ngộ với các chính sách đào tạo, tuyển dụng, bồi dưỡng
dành cho đội ngũ nhà giáo. Trong chiến lược xây dựng, nâng cao chất lượng
đội ngũ giáo viên giai đoạn sau năm 2010 thì việc củng cố, hoàn thiện hệ
thống đào tạo, bồi dưỡng nhằm hình thành đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý
giáo dục đủ sức thực hiện đổi mới chương trình GDPT sau năm 2015 là một
nhiệm vụ trọng tâm [41].

210.774
210.997
216.961
211.035
213.072

Dân tộc
%
67,39
67,30
69,12
67,49
68,30

SL
20.118
22377
23.405
23.719
24.770

%
6,43
7,14
7,46
7,58
7,94

Đạt và trên
chuẩn

thiểu số. Về cơ bản các trường THCS đã đảm bảo đủ số lượng giáo viên giảng
dạy và cân đối số giáo viên cho các môn học cơ bản. Tuy nhiên, vẫn còn tình
trạng dạy kiêm nhiệm không đúng chuyên môn đào tạo đặc biệt là các trường
THCS ở vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc ít người dẫn đến chất lượng giáo
dục không đảm bảo [11], [41].
Về chất lượng đội ngũ giáo viên THCS: theo kết quả nghiên cứu của
Nguyễn Thúy Hồng về thực trạng đội ngũ nhà giáo ở cấp THCS đã có sự tăng
nhanh về tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn và trên chuẩn trình độ đào tạo. Năm 2010
số giáo viên đạt chuẩn chiếm 57,6% và trên chuẩn là 40,9%, đến năm 2012 tỷ
lệ giáo viên đạt và trên chuẩn đào tạo là 99,22%, trong đó có 46% đạt trình độ
trên chuẩn. Như vậy, xét về chất lượng theo chuẩn quy định của Bộ GD&ĐT
thì trình độ của đội ngũ giáo viên cấp THCS đã được đảm bảo. Mặc dù vậy,
cũng theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thúy Hồng thì hầu hết giáo viên
giảng dạy các hoạt động giáo dục như hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp,
hoạt động giáo dục hướng nghiệp chưa được đào tạo chuẩn và đa số các giáo
viên mới chỉ đáp ứng yêu cầu ở phương diện dạy học môn học chứ chưa đáp
ứng yêu cầu về NLGD, năng lực phát triển nghề nghiệp, năng lực tìm hiểu đối
tượng, môi trường giáo dục, năng lực phối hợp với gia đình, cộng đồng xã hội
trong giáo dục học sinh cũng như việc đổi mới phương pháp dạy học và kiểm
tra đánh giá vẫn còn hạn chế [41].
1.2.3. Công tác GDTC trong nhà trường THCS
1.2.3.1. Quan điểm của Đảng và Nhà nước về công tác GDTC trường học
Cấu trúc của nền TDTT Việt Nam được chia thành hai mảng rõ rệt:
TDTT quần chúng và thể thao thành tích cao. GDTC trong nhà trường vừa là
một môn học vừa là một mặt của giáo dục toàn diện, là một bộ phận quan
trọng của TDTT quần chúng.
Đảng ta hết sức quan tâm, chăm lo sức khỏe, tương lai cho thế hệ trẻ
của đất nước. Xuất phát từ vị trí, tầm quan trọng của công tác GDTC nên





17

trình GDTC; đào tạo bồi dưỡng giáo viên TDTT; hướng dẫn hoạt động ngoại
khoá trong hệ thống các trường học của cả nước (công lập và ngoài công lập);
quy định tiêu chuẩn đánh giá thể lực học sinh và tổ chức hệ thống thi đấu thể
thao cấp quốc gia dành cho học sinh, sinh viên mà trọng tâm là Hội khoẻ Phù
Đổng và Đại hội TDTT sinh viên toàn quốc tổ chức 4 năm 1 lần.
Chiến lược phát triển TDTT Viê tô Nam đến 2020 đã được Thủ tướng
Chính phủ phê duyệt bằng quyết định số 2198/QĐ-TTg trong đó xác định
nhiê ôm vụ và giải pháp phát triển TDTT trường học. Để thực hiê ôn được các
nhiê ôm vụ này, điểm mấu chốt là: các cơ quan quản lý nhà nước xây dựng ban
hành và kiểm tra, giám sát các chuẩn mực về GDTC và thể thao trong mỗi
cấp học, bậc học; các tổ chức xã hội về TDTT phải sớm được kiê ôn toàn, đủ
sức thực hiê ôn các hoạt đô ông tác nghiê ôp về TDTT trường học.
Như vậy, ngay từ những ngày đầu cách mạng tháng 8 thành công cho đến
nay, công tác GDTC trường học nói chung và GDTC trong nhà trường phổ
thông các cấp nói riêng luôn được Đảng, Nhà nước hết sức quan tâm và coi đây
là một nhiệm vụ cách mạng cao cả, là trách nhiệm to lớn vì sự phát triển toàn
diện nhân cách của thế hệ trẻ.
1.2.3.2. Vị trí, vai trò của GDTC trong nhà trường THCS
GDTC trong nhà trường phổ thông nói chung và ở cấp THCS nói riêng
là một mặt của giáo dục toàn diện, giữ vị trí quan trọng và then chốt trong
chiến lược phát triển sự nghiệp TDTT. Mặt khác, GDTC còn có ý nghĩa vô
cùng quan trọng trong việc nâng cao sức khỏe và giáo dục đạo đức, ý chí,
nhân cách cho học sinh. GDTC ở nhà trường THCS là một môi trường giàu
tiềm năng để phát hiện và bồi dưỡng tài năng thể thao cho đất nước [3], [81].
GDTC có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với tương lai của mỗi con
người nhất là với lứa tuổi học sinh THCS, bởi đây là giai đoạn phát triển quan

giải tỏa những căng thẳng do thiếu vận động gây nên [14].
1.2.3.3. Mục tiêu và nhiệm vụ của GDTC trong nhà trường THCS.
Mục tiêu giáo dục chỉ có thể được coi là cân đối và hài hòa khi GDTC
trở thành một thành phần, một nội dung không thể thiếu của nền giáo dục.


19

GDTC trường học có một ý nghĩa xã hội sâu sắc, bởi không chỉ đem lại cho
học sinh sự phát triển hài hòa về thể chất cùng các kỹ năng vận động mà còn
là sự chuẩn bị cho các em một nền tảng thể lực để thực hiện chức năng xã hội,
chức năng nghề nghiệp trong tương lai, tạo điều kiện cho thế hệ trẻ bước vào
cuộc sống lao động xây dựng và bảo vệ tổ quốc [1], [14].
GDTC trong trường học nói chung và ở cấp THCS nói riêng là một nội
dung bắt buộc. Tại điều 41 Hiến pháp năm 1992 và Luật Thể dục, thể thao
năm 2006 quy định GDTC là môn học chính khóa, GDTC trường học góp
phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện [65], [67].
GDTC trường học là một bộ phận quan trọng của toàn bộ nền TDTT
quốc gia, là một mặt cơ bản trong giáo dục toàn diện cho thế hệ trẻ. Do vậy,
GDTC trường học nói chung và ở cấp THCS nói riêng có những nhiệm vụ sau:
- Lứa tuổi học sinh THCS là lứa tuổi đang trong thời kỳ phát triển
mạnh mẽ về tâm - sinh lý, đa số các em đã bước vào giai đoạn “dậy thì”, do
vậy nhiệm vụ quan trọng của GDTC cho các em giai đoạn này là phải thúc
đẩy sự phát triển cơ thể các em một cách cân đối, hài hòa.
- Giữ gìn sức khỏe, nâng cao thể lực và tính đề kháng của cơ thể học
sinh trước những ảnh hưởng bất lợi của môi trường xung quanh.
- Đảm bảo sự phát triển hợp lý các tố chất thể lực, đáp ứng yêu cầu
chương trình môn học Thể dục và đạt tiêu chuẩn rèn luyện thân thể theo lứa
tuổi. Phát động phong trào tập luyện thể dục, thể thao ngoại khóa cho học
sinh dưới nhiều hình thức khác nhau kể cả việc phối hợp với lãnh đạo và các

chương trình cũ đã có nhiều tiến bộ, nội dung chương trình được lựa chọn,
đảm bảo tính lôgic và định hướng phát triển nhiều môn thể thao, phát huy
được thế mạnh các môn thể thao dân tộc trong phạm vi trường học. Tuy
nhiên, với mục tiêu lấy sức khỏe và thể lực là mục tiêu quan trọng nhất nhưng
để thực hiện thì chương trình còn bộc lộ một số hạn chế: nội dung chương
trình còn lặp lại nhiều nội dung ở cấp tiểu học về kiến thức và kỹ năng dẫn
đến nhàm chán, không phát huy được tính tích cực và sự khám phá môn học ở


21

học sinh. Mặt khác, phương pháp và hình thức đánh giá, động viên kết quả
học tập còn lạc hậu, đơn giản, chưa thật sự phát huy niềm thích thú, tích cực
hoạt động thường xuyên của học sinh [1], [32], [33], [79].
Như vậy, chương trình môn học Thể dục ở trường THCS nói riêng và ở
phổ thông nói chung sau 10 năm đổi mới đã có nhiều ý kiến đánh giá của các
nhà khoa học, cán bộ quản lý về GDTC và những giáo viên trực tiếp giảng dạy
về mục tiêu, nội dung, cấu trúc nội dung chương trình… Mặc dù chưa có những
nghiên cứu, đánh giá một cách toàn diện nhưng có thể thấy đa số đều cho rằng
chương trình đã đáp ứng được yêu cầu nhất định của mục tiêu GDPT trong bối
cảnh và điều kiện thực tiễn dạy học những năm qua [2], [32], [33], [78].
Hiện nay với xu hướng chung, các chương trình giáo dục tiên tiến trên
thế giới là hướng tới phát triển các tiềm năng và biến nó trở thành năng lực
thực sự của từng học sinh và học tập phải trở thành nhu cầu và hoạt động
thường xuyên, suốt đời của các em. Đặc biệt theo tinh thần Nghị quyết Đại hội
Đảng toàn quốc khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT theo nhu cầu
phát triển của xã hội và trong chiến lược phát triển giáo dục 2011 - 2020
(QĐ711/QĐTTg ngày 13/6/2012) đã xác định, trên cơ sở đánh giá chương trình
GDPT hiện hành và tham khảo chương trình tiên tiến của các nước, thực hiện
đổi mới chương trình và sách giáo khoa từ sau năm 2015 theo định hướng phát

Ở lứa tuổi này các em đã thấy rõ sự biến đổi về thể chất và đời sống tâm
lý của mình nhưng cũng không tránh khỏi trạng thái lo âu trước những biến đổi
đó đồng thời nhu cầu thiết lập mối quan hệ với bạn bè cùng trang lứa có ý nghĩa
quan trọng đối với việc hình thành nhân cách và phát triển tâm lý ở các em.
Trước những diễn biến phức tạp về mặt tâm lý của các em ở lứa tuổi này, trong
quá trình giáo dục nói chung và GDTC nói riêng, người giáo viên cần quan tâm
nắm vững những đặc điểm tâm lý của học sinh mới có thể tổ chức quá trình dạy
học đạt được mục tiêu như mong muốn [27], [40], [42], [70], [95].
Đặc điểm về sinh lý: từ tuổi 11 đến tuổi 15 là thời kỳ cơ thể có những
biến đổi mạnh mẽ, quan trọng. Dưới góc độ sinh học thì đây là thời kỳ trưởng
thành sinh dục hay còn gọi là “tuổi dậy thì”. Lứa tuổi này cho thấy sự phát triển
về mọi mặt tuy diễn ra mạnh mẽ nhưng không cân đối, điển hình là chiều cao


23

và cân nặng tăng lên một cách đột ngột, sau mỗi năm các em có thể cao lên từ
5cm đến 6cm và cân nặng tăng từ 2.4kg đến 6kg [31], [34], [46].
Nhu cầu về GDTC của học sinh: ở lứa tuổi này, nhu cầu được học tập,
vận động và muốn tự khẳng định mình của các em là rất lớn, đặc biệt rất dễ bị
lôi cuốn vào các hoạt động tập thể nhất là các hoạt động phong trào có bề nổi
như TDTT. Đây cũng là lứa tuổi dễ bị kích thích và trong hoạt động thể dục,
thể thao các em luôn thể hiện lòng ngưỡng mộ, thần tượng các cầu thủ, vận
động viên nổi tiếng. Do vậy, ngoài thỏa mãn nhu cầu vận động về mặt sinh lý
và nhiệm vụ học tập thì lòng ham muốn được tập luyện TDTT để bắt chước,
mong được như thần tượng của mình trong các em cũng là một nhu cầu rất
lớn [49].
Mặt khác, học sinh phổ thông còn phụ thuộc hoàn toàn vào gia đình cho
nên chịu ảnh hưởng rất lớn từ cha mẹ. Điều đầu tiên các bậc phụ huynh quan
tâm là làm sao con em mình có được sự giáo dục tốt nhất và trong đó sức khỏe

tự học tập nâng cao chuyên môn nghiệp vụ của bản thân giáo viên... [29],
[47], [78].
Cơ sở vật chất, thiết bị dụng cụ và kinh phí cho hoạt động GDTC
Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm và xác định vị trí quan trọng của
GDTC trong mục tiêu giáo dục toàn diện cho thế hệ trẻ. Sự quan tâm ấy đã
được thể hiện bằng nhiều chủ trương, chính sách chăm lo cho công tác GDTC
trường học trong đó có đầu tư về cơ sở vật chất phục vụ cho các hoạt động
GDTC và thể thao trường học. Luật Thể dục, thể thao năm 2006 đã dành 7
điều từ điều 20 đến điều 26 để quy định về GDTC và thể thao trong nhà
trường. Tại khoản 1 điều 21 quy định “Nhà nước có chính sách dành đất đai,
đầu tư xây dựng cơ sở vật chất cho giáo dục thể chất và thể thao trong nhà
trường”. Khoản 4 điều 21 quy định Ủy ban nhân nhân các Tỉnh, Thành có
trách nhiệm quy hoạch đất đai, xây dựng cơ sở vật chất, nhà tập đa năng, đảm
bảo trang thiết bị dụng cụ cho các trường công lập tại địa phương và thực hiện
chính sách ưu đãi về đất đai theo quy định của pháp luật đối với các trường tư


25

thục, trường dân lập để các trường này có điều kiện xây dựng cơ sở vật chất
phục vụ GDTC và thể thao trong nhà trường. Trước đó, quy chế về GDTC và
y tế trường học được ban hành năm 2001 với quy định 14/2001/BGDĐT cũng
đã đặt ra điều kiện đảm bảo công tác GDTC và Y tế trường học như phải có
sân tập, nhà tập, trang thiết bị dụng cụ TDTT để phục vụ cho việc dạy và học
môn Thể dục và các hoạt động thể thao của học sinh, sinh viên ở các cấp học,
bậc học.
Theo báo cáo tổng kết công tác GDTC và phong trào Hội khỏe Phù
Đổng của Bộ GD&ĐT giai đoạn 2008 - 2012, thống kê về cơ sở vật chất phục
vụ cho các hoạt động GDTC trong nhà trường phổ thông các cấp trên toàn
quốc như sau [14]:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status