luận văn nghiên cứu nhu cầu sinh viên sử dụng dịch vụ mạng 3g của công ty thông tin di động (vms) mobifone chi nhánh thừa thiên huế” - Pdf 14

Khoá luận tốt nghiệp
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Lí do chọn đề tài
- Chất lượng cuộc sống ngày càng nâng cao, những dịch vụ giá trị gia tăng
(VAS) trên mạng 2G hiện tại không thể đáp ứng đầy đủ nhu cầu của người dùng di
động. Vì thế cần có dịch vụ tiện ích hơn trên nền công nghệ mới nhằm thỏa mãn tốt
hơn nhu cầu của người tiêu dùng.
- “3G là nhu cầu tất yếu ở Việt Nam” - đó là ý kiến của các chuyên gia nước
ngoài đưa ra trong buổi hội thảo về công nghệ truyền thông - cải tổ, ứng dụng và hội
tụ, được tổ chức trong khuôn khổ triển lãm Vietnam Telecomp và Vietnam Electronics
2008.
- Cách mạng 3G chính thức bùng nổ ở Việt nam với việc ngày 2/4/2009, Bộ
TT&TT chính thức cấp 4 giấy phép cung cấp mạng di động thế hệ thứ 3G (Vinaphone,
Viettel, Mobifone, liên doanh EVN Telecom và HT Mobile). 3G trở thành tâm điểm
chú ý và mong đợi của nhiều người dùng di động.
- Công nghệ 3G trở thành một trong năm khuynh hướng xã hội trong năm 2010,
vì thế công tác kích cầu bằng chất lượng dịch vụ, giá thành, mức độ đa dạng của các
tiện ích đang được các nhà mạng quan tâm kỹ càng.
- Mục tiêu của Mobifone khi triển khai 3G là “3G cho mọi người”- phù hợp với
mọi nhu cầu của khách hàng từ bình dân đến cao cấp. Chính thức cung cấp 4 dịch vụ
của 3G từ 0h00’ ngày 15/12/2009, với hơn một tháng triển khai thì theo ông Lê Ngọc
Minh - Giám đốc Mobifone, kết quả rất khả quan và ông cũng tỏ ra rất lạc quan cho
việc đầu tư vào 3G.
- Trong khi 3G trở nên rất sôi động ở các thành phố lớn thì đối với người dân
Huế, 3G còn khá mới mẻ với người dùng di động. Điều kiện cho việc sử dụng 3G
ngày càng được nới lỏng vì thế khả năng tiếp cận với những tiện ích của mạng 3G
không còn quá khó khăn. Đây là điều kiện thuận lợi cho những người dùng di động nói
chung và bộ phận sinh viên, những người sẽ định hướng cho 3G trong tương lai theo
lời nhà mạng; là một trong ba nhóm khách hàng mục tiêu của Mobifone 3G - gần
100% sử dụng di động, nhạy thông tin, thích khám phá tìm tòi cái mới, mức độ quan
tâm cao đối với VAS, mức chi tiêu cho việc sử dụng điện thoại hàng tháng tương đối

Lớp K40 Marketing 2
Khoá luận tốt nghiệp
- Phạm vi về không gian: tập trung nghiên cứu hiện trạng sử dụng và nhu cầu về
các dịch vụ 3G mới trong tương lai của khách hàng là sinh viên tại các trường trên địa
bàn TP Huế đang sử dụng mạng Mobifone.
- Phạm vi thời gian:
+ Số liệu thứ cấp: Thu thập số liệu, tài liệu giai đoạn 2007-2009 tại các phòng
ban, đặc biệt là phòng Kế hoạch bán hàng và Marketing tại chi nhánh Mobifone TTH;
các cơ quan liên quan và các website của các ban ngành trong cùng lĩnh vực giai đoạn
2007 - 2009.
+ Số liệu sơ cấp: phỏng vấn trực tiếp khách hàng từ tháng 02- 04/2010.
1.5 Phương pháp nghiên cứu
1.5.1 Phương pháp thu thập số liệu
Đề tài được thực hiện dựa trên sự phân tích, tổng hợp các nguồn tài liệu trong
thực tế, bao gồm tài liệu sơ cấp và tài liệu thứ cấp bằng những cách thức khác nhau.
- Đối với tài liệu thứ cấp:
• Tổng hợp thông tin chủ yếu từ các báo cáo thống kê của chi nhánh Mobifone
TTH như số liệu về quy mô, cơ cấu lao động, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
gửi trung tâm III các năm 2007, 2008, 2009, đặc biệt là phòng Kế hoạch bán hàng và
Marketing; Báo cáo tổng kết công tác năm 2009 và triển khai nhiệm vụ năm 2010 của
sở TT&TT TTH; Báo cáo tổng kết công tác năm 2009 và triển khai nhiệm vụ năm
2010 của công ty VMS Mobifone.
• Số liệu thống kê của các ban ngành liên quan, các diễn đàn, thông tin báo chí
trên các website của một số trang như dantri.com, vietbao.com
- Đối với tài liệu sơ cấp:
• Đối tượng điều tra: trọng tâm đề tài là điều tra khách hàng là sinh viên trên
địa bàn TP Huế sử dụng mạng di động Mobifone.
• Phương pháp chọn mẫu: Chọn mẫu ngẫu nhiên kết hợp với chọn mẫu thuận tiện.
• Cỡ mẫu: Chọn 140 đơn vị mẫu nghiên cứu được phân bố như sau: 20 đơn vị
mẫu/1 trường. Chọn ngẫu nhiên 2 lớp/1 trường. Chọn mẫu theo phương pháp ngẫu

sàng lọc những sinh viên dùng các mạng di động khác, chúng tôi chọn ngẫu nhiên 10
sinh viên trên mỗi lớp có khả năng hợp tác điều tra, tránh những trường hợp bỏ lỡ
cuộc phỏng vấn giữa chừng nhằm giảm thiểu số phiếu không hợp lệ cho đề tài nghiên
cứu.
Lớp K40 Marketing 4
Khoá luận tốt nghiệp
1.5.3 Phương pháp xử lý số liệu
Phương pháp phân tích thống kê bằng SPSS
- Phương pháp thống kê tần suất để biết được phần trăm, số lượng khách sử dụng
3G, các mức độ nhu cầu khác nhau của người tiêu dùng đối với các dịch vụ mạng
3G
- Phương pháp kiểm định One sample T-Test để khẳng định giá trị kiểm định có
ý nghĩa về mặt thống kê hay không
• Giả thuyết kiểm định: H
0
: µ = Giá trị KĐ (Test value)
H
1
: µ ≠ Giá trị KĐ (Test value)
• Với độ tin cậy 95%, tức chấp nhận mức sai sót 5%.
Nếu: Sig. >= 0.05 : chấp nhận giả thuyết H
0
Sig. < 0.05 : bác bỏ giả thuyết H
0
• Phương pháp tính giá trị kiểm định:
0 < Giá trị trung bình =< 1.49 thì Giá trị kiểm định = 1
1.5 =< Giá trị trung bình =< 2.49 thì Giá trị kiểm định = 2
2.5 =< Giá trị trung bình =< 3.49 thì Giá trị kiểm định = 3
3.5 =< Giá trị trung bình =< 4.49 thì Giá trị kiểm định = 4
4.5 =< Giá trị trung bình =< 5 thì Giá trị kiểm định = 5

Lớp K40 Marketing 6
Khoá luận tốt nghiệp
Là mạng di động theo chuẩn thế hệ thứ 3 (Third Generation Network - 3G) của
Mobifone cho phép thuê bao di động thực hiện các dịch vụ cơ bản như thoại, nhắn tin
ngắn với chất lượng cao, đặc biệt là truy cập Internet với tốc độ tối đa đạt tới 7,2Mbps.
Mobifone 3G sẽ có khả năng hỗ trợ truyền dữ liệu với tốc độ cao hơn trong thời gian
tới.
Mạng Mobifone 3G được kết nối và tích hợp toàn diện với mạng Mobifone hiện
tại (công nghệ GSM 900/1800 Mhz), cho phép cung cấp dịch vụ theo chuẩn 3G cho
các thuê bao trả trước và trả sau của Mobifone.
Công nghệ chuyển giao (hand-over) cho phép thuê bao Mobifone duy trì liên lạc
thông suốt khi di chuyển giữa vùng phủ sóng mạng 2G và 3G.
+ Đối tượng sử dụng: Tất cả các thuê bao của Mobifone (trả trước, trả sau) đã
được khai báo cho phép truy nhập mạng Mobifone 3G để thực hiện gọi, gửi/nhận
SMS và sử dụng dịch vụ dữ liệu với tốc độ tối đa lên tới 384 kbps.
+ Điều kiện sử dụng
Khách hàng của Mobifone (trả trước, trả sau) cần có:
• Có thiết bị đầu cuối 3G (máy ĐTDĐ, USB Datacard, PC, Laptop v.v.) hỗ trợ
chuẩn UMTS và hoạt động ở băng tần 2.100 Mhz.
• Máy điện thoại lựa chọn mạng ở chế độ băng tần “UMTS” hoặc ở chế độ “Dual
Mode”.
• Thuê bao đang ở trong vùng phủ sóng 3G và đã đăng nhập mạng Mobifone 3G.
• Tại thời điểm cung cấp dịch vụ, tất cả các thuê bao của Mobifone được khai báo
cho phép truy nhập mạng Mobifone 3G mà không cần đăng ký, giữ nguyên SIM Card
và số thuê bao hiện có. Trong thời gian tới Mobifone sẽ phát hành SIM Card 3G được
tích hợp nhiều dịch vụ và tiện ích tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng trong quá
trình sử dụng.
+ Mạng Mobifone 3G được chính thức hoạt động từ 0h00 ngày 15/12/2009. Bốn
dịch vụ và gói cước đi kèm cũng được chính thức được cung cấp từ thời điểm này.
• Dịch vụ Video Call

A. Maslow mở rộng khái niệm nhu cầu hơn và định nghĩa nhu cầu là điều mà con
người đòi hỏi đuợc thỏa mãn và là cái mà con người muốn có để đảm bảo những điều
kiện sống hạnh phúc, loại bỏ đau khổ, thiếu thốn. Theo A. Maslow, nhu cầu được cấu
trúc làm 5 bậc
Lớp K40 Marketing 8
Khoá luận tốt nghiệp
Tự khẳng
định mình
Được kính trọng
Văn hóa xã hội
An toàn
Nhu cầu cơ bản

Sơ đồ 1: Cấu trúc bậc nhu cầu theo A. Maslow
Thứ bậc nhu cầu trong mối liên hệ với nguồn lực (tài chính) có thể chỉ ra thứ tự
ưu tiên và mức độ thoả mãn nhu cầu ở người tiêu thụ cuối cùng.
- Về thứ tự ưu tiên: Các nhu cầu ở thứ bậc thấp hơn thường được ưu tiên thoả
mãn trước và người ta sẽ chỉ quan tâm đến nhu cầu ở bậc cao hơn khi nhu cầu ở bậc
thấp hơn được thoả mãn.
- Về mức độ thoả mãn: Việc thoả mãn nhu cầu theo thứ bậc (thứ tự ưu tiên)
không có nghĩa là các nhu cầu ở các thứ bậc khác nhau hoàn toàn tách rời nhau khi
giải quyết nhu cầu của con người. Giữa các nhu cầu ở các thứ bậc có mối liên quan với
nhau khi lựa chọn mức độ thoả mãn. Thông thường, con người luôn thoả mãn toàn
diện (đồng bộ) các nhu cầu có liên quan nằm ở các thứ bậc khác nhau. Nhưng, do
những điều kiện cụ thể (hoặc do nguồn lực hoặc do khả năng đáp ứng) người ta có thể
chấp nhận mức độ thoả mãn nhu cầu khác nhau. Điều này dẫn đến việc hình thành nên
nhu cầu cơ bản và nhu cầu bổ sung khi giải quyết nhu cầu ở khách hàng. Tức là, khi
không có điều kiện, người ta có thể chấp nhận chỉ cần thoả mãn nhu cầu chính ở một
thứ bậc và tạm bỏ qua nhu cầu bổ sung. Nhưng khi có đủ điều kiện, người ta không chỉ
yêu cầu thoả mãn nhu cầu chính mà yêu cầu kèm theo sự thỏa mãn nhu cầu bổ sung.

ứng, thoả mãn nhu cầu của họ. Điều này yêu cầu tính chân thực từ quảng cáo, nhưng
chưa đủ. Nó liên quan đến toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp.
Lớp K40 Marketing 10
Khoá luận tốt nghiệp
•Thuyết phân tích tâm lý
Thuyết phân tích tâm lý của nhà tâm lý học người Do thái của nước Áo Sigmund
Freud giải thích hành vi của khách hàng phụ thuộc vào quan điểm, nhân cách của từng
cá nhân được hình thành khi giải quyết mối quan hệ giữa bản năng - lương tâm - lý trí
bên trong họ. Bản năng là phần tâm trí vốn có ở mỗi con người liên quan đến hành
động thoả mãn nhu cầu sống còn, vui sướng, đau khổ Lương tâm là phần tâm trí
kiểm soát bản năng. Lý trí phản ánh sự hợp lý của suy nghĩ và khả năng giữ cân bằng
(điều hoà) bản năng và lương tâm. Ở một người, các yếu tố này mạnh, yếu, vận động
khác nhau và biểu hiện ra thành quan điểm sống, quan điểm giải quyết vấn đề của họ.
Điều này có ảnh hưởng lớn đến sự đánh giá về sản phẩm, về cách thức thoả mãn nhu
cầu và cuối cùng là đến quyết định mua hàng của khách hàng.
Chú ý rằng: có các quan điểm cá nhân, nhóm, xã hội. Các quan điểm này đều có
ảnh hưởng đến hành vi mua hàng của mỗi một cá nhân cụ thể. Nên chú ý đến mối
liên hệ và tác động lẫn nhau giữa các loại quan điểm trên khi phân tích khả năng mua
hàng của khách hàng và lựa chọn cách thức thoả mãn họ. Người bán có thể có quan
điểm riêng và không phải lúc nào cũng tương thích với quan điểm của khách hàng.
Nhưng về nguyên tắc, nên thoả mãn khách hàng theo quan điểm của họ. Có thể lựa
chọn những kích thích tác động đến bản năng, lương tâm của khách hàng để khuyến
khích họ mua hàng trong mỗi lần mua hàng. Nhưng về cơ bản điều này rất khó khăn
và tốn kém.[7]
•Thuyết động cơ của Herzberg
Ông đã xây dựng một lý thuyết “ hai yếu tố ” để phân biệt những nhân tố không
hài lòng và nhân tố hài lòng.
Động cơ thúc đẩy tiêu dùng chung nhất là do người tiêu dùng có nhu cầu cần thỏa
mãn. Động cơ tích cực sẽ thúc đẩy tiêu dùng, còn động cơ tiêu cực sẽ là một phanh hãm.
- Động cơ tích cực: H. Joannis phân chia 3 loại động cơ tích cực thúc đẩy tiêu dùng

có ĐTDĐ. Hai, ba năm trước thì việc dùng ĐTDĐ chỉ nhằm mục đích liên lạc, tuy
nhiên hiện nay, ngoài những dịch vụ chính như thoại, nhắn tin thì sinh viên còn dùng
di động với nhiều mục đích phi thoại khác như chơi game, nghe nhạc, lướt net, xem
TV, đọc sách báo Đặc biệt đây là tầng lớp có học thức, nhạy bén với những thay đổi
của công nghệ, nhanh tiếp thu cái mới và vì thế nhu cầu của đối tượng này bị ảnh
hưởng mạnh mẽ bởi trào lưu. Nhu cầu của sinh viên ngày càng trở nên phong phú và
Lớp K40 Marketing 12
Khoá luận tốt nghiệp
cao hơn, nhanh thay đổi vì thế muốn gặt hái lợi nhuận của đối tượng này thì người bán
phải luôn luôn tìm ra cái mới nhất, tân tiến nhất, hợp thời nhất và phù hợp với khả
năng chi trả nhất. Tuy nhiên, đây cũng là đối tượng định hướng cho những nhu cầu
trong tương lai của một số sản phẩm và đây cũng đang là thị trường tiềm năng mà mọi
doanh nghiệp đang cố gắng chiếm lĩnh.
2.1.1.3 Đặc điểm, cấu trúc thị trường viễn thông
- Thị trường viễn thông có đặc điểm là ít người bán nhưng nhiều
người mua. Cầu vượt cung. Sản phẩm dịch vụ viễn thông được xem là sản phẩm phổ
dụng. Từ thế độc quyền hoàn toàn, thị trường BCVT nói chung và nhất là thị trường
viễn thông đang dần mở cửa, bước vào cạnh tranh và hội nhập quốc tế.
- DN sản xuất dịch vụ viễn thông phải đầu tư công nghệ, thiết bị rất
lớn. Do đó, với những đơn vị này, tài sản cố định chiếm chủ yếu (chiếm khoảng 90%).
- Sản phẩm dịch vụ viễn thông được thương mại hóa nên chịu sự
chi phối bởi quy luật cung cầu, quy luật giá trị, quy luật cạnh tranh và có sự điều tiết
của Nhà nước.
- Tính phức tạp của thị trường thể hiện ở sự đa dạng và phong phú
về các hình thức dịch vụ. Công nghệ thay đổi nhanh chóng chính là nguyên nhân. Các
DN khi tham gia thị trường viễn thông phải có lượng vốn rất lớn và không thể phủ
khắp thị trường. Do đó các doanh nghiệp kinh doanh sản phẩm thông tin cần xác định
rõ thị trường trọng điểm và thị phần của mình.
2.1.2 Cơ sở thực tiễn
2.1.2.1 Khái quát thị trường viễn thông Việt Nam năm 2009 và xu hướng phát

có lẽ Vietnamobile còn cần nhiều sự khác biệt hơn nữa, nếu đặt mục tiêu làm mưa làm
gió trên thị trường viễn thông như những gì Viettel đã làm trong những ngày đầu ra
mắt.
Mạng di động thứ 7 tại thị trường Việt Nam Beeline chính thức ra mắt vào tháng
7/2009. Điểm gây ấn tượng nhất của mạng di động này chính là gói cước Big Zero –
gọi nội mạng 0 đồng sau phút đầu tiên. Sau một thời gian ngắn ra mắt, hiện tại Beeline
đã chính thức khai trương hoạt động thương mại tại 19 thành phố và chính thức phát
sóng ở 22 thành phố.
Theo ông Alexey Blyumin - Tổng Giám đốc Beeline: “Như cam kết ban đầu,
chúng tôi đặt mục tiêu sẽ chiếm được 2% thị phần trong năm 2009 và thật tuyệt vời là
Lớp K40 Marketing 14
Khoá luận tốt nghiệp
chúng tôi đã đạt được mục tiêu đó. Tuy nhiên, so với kế hoạch tổng thể thì chúng tôi
chỉ mới bắt đầu, còn một chặng đường rất dài phía trước. Chúng tôi sẽ phải nỗ lực rất
nhiều và sẽ đối mặt với mọi thử thách. Nhiệm vụ hàng đầu là phải phát triển mạng
lưới, phát triển thuê bao và mở rộng cộng đồng Beeline. Quan trọng hơn nữa là phải
làm sao để khách hàng tin tưởng vào Beeline, bởi một đặc trưng của ngành viễn thông
là khách hàng có thể dễ dàng bỏ mạng nếu dịch vụ của nhà mạng đó không làm khách
hàng hài lòng”.
Với sự kiện ra mắt của Đông Dương Telecom vào tháng 8/2009, Việt Nam đã
chính thức có nhà khai thác mạng di động mặt đất không có hệ thống truy nhập vô
tuyến đầu tiên. Khác với 7 mạng di động trước đây, mặc dù được cung cấp dịch vụ di
động nhưng Đông Dương Telecom không được cấp tần số mà được chia sẻ hạ tầng vô
tuyến 3G với Viettel và được roaming với các mạng GSM (2G và 2,5G) khác.
Không đặt mục tiêu giành giật thị phần với những mạng di động hiện có trên thị
trường, Đông Dương Telecom hướng đến những phân khúc thị trường còn bỏ ngỏ. Dự
kiến, sau khi đàm phán xong với đối tác Viettel, mạng di động này sẽ chính thức công
bố về thời điểm cung cấp dịch vụ. Mô hình mạng thông tin di động dùng chung tài
nguyên tần số đã được triển khai tại nhiều nước trên thế giới và được Tổ chức Liên
minh Viễn thông Quốc tế khuyến nghị coi đây xu hướng tất yếu để đảm bảo cho các

Telecom sẽ chứng tỏ hiệu quả của sự hợp tác như thế nào… tất cả sẽ hé lộ trong năm
2010 – một năm được dự báo là sẽ có nhiều bước ngoặt quan trọng, không chỉ với
riêng thị trường viễn thông.
Năm 2009 - năm của những tân binh, năm của những khuyến mãi gây sốc và năm
của những bước ngoặt mới trên thị trường viễn thông đã khép lại. Như bất cứ lĩnh vực
nào, trong năm qua, viễn thông cũng có những gam màu sáng tối đan xen. Tuy nhiên,
cuộc khủng hoảng kinh tế không ngăn được tốc độ phát triển, khó khăn không làm cho
các doanh nghiệp chùn bước trước những quyết định táo bạo là những gì viễn thông
Việt Nam đã làm được. Năm 2009 được coi là năm bản lề, còn 2010 được coi là năm
của sự tăng tốc. Còn tăng tốc với tốc độ nào và hiệu quả ra sao không phụ thuộc vào ý
muốn chủ quan của bất cứ doanh nghiệp nào.[9.2]
Lớp K40 Marketing 16
Khoá luận tốt nghiệp
2.1.2.2 Thị trường VTDĐ Huế năm 2009 và kế hoạch cho những năm tới
Hiện nay trên điạ bàn tỉnh đã có bảy doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ viễn thông
là Mobifone, Vinaphone, Viettel, EVN, Sfone, Vietnamobile và Beeline với tổng 736
trạm phủ sóng thông tin di động (BTS), tăng 64% so với năm 2008. Trong đó VNPT,
Viettel vẫn chiếm vai trò chủ đạo. Mạng lưới viễn thông vẫn trên đà phát triển với tốc
độ nhanh, thiết bị được đầu tư với công nghệ hiện đại, tỉnh TT Huế đã triển khai thí
điểm công nghệ 3G. Chất lượng dịch vụ được nâng cao, giá thành ngày càng giảm.
Tổng số thuê bao di động năm 2009 là 746.000 thuê bao tăng 19,5% so với năm
2008 với thị phần Mobifone chiếm cao nhất. Đây là kết quả của những nỗ lực từ công
tác bán hàng, marketing, linh động trong việc áp dụng các chính sách một cách hiệu
quả. Mật độ 90,95 máy/100 dân. Doanh thu ngành BCVT năm 2009 là 863,3 tỷ đồng,
tăng 24,20% so với năm 2008, trong đó doanh thu viễn thông chiếm đến 784,8 tỷ
đồng. Thị phần thuê bao di động và số lượng trạm phát sóng của các doanh nghiệp
năm 2009 như sau:
Bảng 1: Tổng hợp số thuê bao và trạm BTS của các doanh nghiệp viễn thông trên
thị trường TT Huế năm 2009
Mobifone Vinaphone Viettel EVN SFone Vietnamobile

tham gia thị trường. Giống như giới chuyên gia nhận xét, 3G là công nghệ không dễ ăn
và rất có thể sẽ trở thành cái bẫy đối với doanh nghiệp chưa có kinh nghiệm, thiếu vốn
và yếu năng lực triển khai
Tiếp bước Vinaphone, Mobifone cũng chính thức ra mắt công nghệ 3G vào trung
tuần tháng 12. Trong khi đó, là doanh nghiệp trúng tuyển với số điểm cao nhất, và
được dự báo là sẽ mang đến những bất ngờ, nhưng Viettel vẫn chưa chính thức công
bố về thời điểm cung cấp dịch vụ. Ông Nguyễn Mạnh Hùng, Phó TGĐ Viettel cho
rằng: “Viettel có chiến lược tương đối rõ ràng về 3G. Những người sử dụng quen với
việc đi đâu cũng sử dụng được được 2G thì sang 3G họ cũng có nhu cầu như thế.
Viettel cũng nghĩ như vậy và để làm được như vậy cũng tốn nhiều công sức đầu tư. 3G
không phải là câu chuyện của một ngày, một tuần, một tháng…”.
Hai doanh nghiệp thuộc VNPT đã có công bố chính thức. Viettel cũng đã có
những thử nghiệm và giới thiệu dịch vụ đến khách hàng ở các thành phố lớn, trong khi
đó chủ nhân của giấy phép thứ tư là Hanoi Telecom và EVN Telecom vẫn khá im hơi
Lớp K40 Marketing 18
Khoá luận tốt nghiệp
lặng tiếng trong cuộc đua cung cấp dịch vụ. Những câu hỏi liên quan đến việc hai
doanh nghiệp sẽ tận dụng lợi thế của nhau như thế nào? Và dịch vụ được cung cấp ra
thị trường thế nào, có lẽ sẽ chỉ có đáp án khi có tuyên bố chính thức từ những người
trong cuộc.
Trong khi 3G trở nên khá sôi động ở các thị trường lớn với các bữa tiệc 3G hoành
tráng được các nhà cung cấp tổ chức ở Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Đà Nẵng thì dường
như, đối với người dùng di động ở TP Huế, thuật ngữ 3G còn khá xa lạ và mới mẻ. Sở
TT-TT TT Huế cho biết, sở chỉ mới cho triển khai thí điểm công nghệ 3G. Các nhà
cung cấp trên địa bàn cũng như Mobifone đang trong tiến trình hoàn thiện hạ tầng viễn
thông cho công nghệ 3G và hứa hẹn đem những tiện ích tiên tiến nhất, hiện đại nhất
với chất lượng tốt nhất đến với người dùng trong thời gian tới. [9.2]
2.1.2.4 Ý nghĩa của nghiên cứu hiện trạng và nhu cầu sử dụng 3G trong thực
tiễn
Thực tế cho thấy trạng thái thuê bao và dịch vụ 2G đã bão hòa tại thị trường Việt

dùng di động bản địa. Ngoài ra, việc lựa chọn phạm vi triển khai dịch vụ 3G cũng rất
quan trọng vì không cần thiết phải phủ 3G ngay lập tức ở mọi nơi, mà nên tập trung ở
những khu vực có tiềm năng phát triển nhất, chẳng hạn như các đô thị lớn.
+ Định hướng nhu cầu khách hàng: Chẳng hạn như giới thiệu những tiện ích và
để khách hàng có những kinh nghiệm sử dụng thú vị mà không cần biết đó là dịch vụ
3G hay không.
+ Thiết bị đầu cuối phù hợp: Ngoài những khả năng tận dụng tối đa lợi ích 3G
mang lại như khả năng lướt web, soạn email, văn bản với bàn phím QWERTY, tìm
đường thiết bị đầu cuối cũng cần cài đặt sẵn các phần mềm để thân thiện với người
dùng, vì không phải ai cũng đủ khả năng tự cài đặt những ứng dụng internet họ thường
dùng trên máy tính lên ĐTDĐ.
Những rào cản lớn nhất khiến người tiêu dùng không muốn tiếp cận dịch vụ 3G,
theo bà Karine Dussert chính là giá thành dịch vụ và giá của thiết bị đầu cuối 3G. Nếu
giá của dịch vụ 3G rẻ thì nhu cầu sử dụng sẽ rất lớn. Thiết bị đầu cuối có giá phổ
thông sẽ giúp nhiều người chưa có máy tính riêng kết nối internet có thêm lựa chọn:
truy cập internet qua ĐTDĐ.
Lớp K40 Marketing 20
Khoá luận tốt nghiệp
Về cơ chế giá dịch vụ, bà Karine dẫn chứng về mô hình giá 3G rất linh động mà
Orange áp dụng, với các gói dịch vụ kết nối không giới hạn trong một tháng, hoặc chỉ
kết nối trong một ngày, thậm chí kết nối trong nửa giờ cũng có thể đáp ứng. Kết hợp
giá thành dịch vụ thấp so với thu nhập, (trung bình một thuê bao 3G tại Pháp chỉ phải
trả 0,5-1% thu nhập bình quân hàng tháng cho dịch vụ 3G), các mức cước linh hoạt
cũng giúp người dùng bớt e ngại và thích dùng thử để trải nghiệm các tiện ích hơn.
Trả lời câu hỏi của VietNamNet về những dịch vụ nội dung 3G thành công nhất
mà OFT đã triển khai tại Pháp, bà Karine cho biết: "Dịch vụ thành công nhất của
chúng tôi tại Pháp phải kể đến đầu tiên là e-mail. Mọi người đều muốn kiểm tra e-mail
ở bất cứ đâu. Thứ nhì là các cổng thông tin chuyên cho di động, các dịch vụ thông tin
về thời tiết, tình hình giao thông, tìm đường đi khi bị tắc đường Thứ ba phải kể đến
là các dịch vụ mạng xã hội trực tuyến. Và cuối cùng, đó là các kênh truyền hình dành

thoại, dữ liệu, video và giải trí multimedia cùng với nhiều ứng dụng khác như GPS.
Trên thị trường di động phương Tây có một khái niệm rất phổ biến, đó là “Khu
vườn cấm”. Thường thì các mạng di động cho mình quyền uy tối thượng. Họ chỉ cho
phép người dùng tiếp cận với những nhà cung cấp nội dung có thỏa thuận độc quyền
với mình mà mục đích không gì khác, chính là bảo vệ doanh thu. Tuy nhiên để công
nghệ 3G có thể thật sự cất cánh, người ta cần phải xây dựng được cơ chế truy cập mở,
nơi người dùng có thể tiếp cận bất cứ nhà cung cấp dịch vụ hay ISP nào, dù cho họ có
liên kết với mạng di động hay không. Tại Hồng Kông, các mạng 3G bắt buộc phải mở
cửa tới 30% dung lượng mạng cho các nhà cung cấp dịch vụ phi đối tác mà không
được phép phân biệt đối xử gì hết. Chính quyền Hồng Kông một mặt khuyến khích các
mạng 3G cạnh tranh về hạ tầng, song một mặt vẫn cho phép chia sẻ hạ tầng trong
những tình huống bắt buộc. Chính quyền cũng hỗ trợ tạo điều kiện cho doanh nghiệp
3G bằng cách cung cấp nội thất đường phố để lắp đặt trạm phát sóng.
Rõ ràng xuất phát điểm của dịch vụ 3G châu Á là rất hứa hẹn. Theo thời gian, số
lượng thuê bao 3G tại Hồng Kông đã tăng nhanh. Thị trường này sẽ đón nhận thêm
một mạng 3G thứ năm là China Unicom. Theo số liệu thống kê mới nhất từ cơ quan
quản lí viễn thông OFTA của Hồng Kông, số lượng thuê bao 3G ở khu vực này đã
vượt quá cột mốc 2,8 triệu vào cuối năm ngoái, tăng 40% so với hồi đầu năm. Hiện tại,
Hutchison 3G vẫn là mạng 3G số một tại Hồng Kông – đây là một công ty con của tập
Lớp K40 Marketing 22
Khoá luận tốt nghiệp
đoàn Hutchison Whampoa, với 25% cổ phần thuộc sở hữu của gã khổng lồ NTT
DoCoMo Nhật Bản. Nhận được sự hậu thuẫn từ DoCoMo hiển nhiên là một lợi thế
quan trọng của Hutchison, bởi DoCoMo đã cực kì thành công tại Nhật nhờ dịch vụ dữ
liệu không dây iMode. Thành công của 3G tại Nhật đã giúp NTT DoCoMo có đủ sự tự
tin cũng như vị thế vững chắc để triển khai dịch vụ tương tự tại nhiều nước khác. Mà
Hồng Kông lại là một thị trường có nhiều điểm tương đồng với Nhật, từ văn hóa đại
chúng, niềm yêu thích dành cho đồ chơi hi-tech, nhất là trong bộ phận giới trẻ sành
điệu.
Sau thất bại của châu Âu, nhiều ý kiến bi quan cho rằng, việc hạ thấp chi phí của

Nam (2005-2008) được khách hàng yêu mến, bình chọn cho giải thưởng mạng thông
tin di động tốt nhất trong năm tại Lễ trao giải Vietnam Mobile Awards do tạp chí
Echip Mobile tổ chức. Đặc biệt trong năm 2009, MobiFone vinh dự nhận giải thưởng
Mạng di động xuất sắc nhất năm 2008 do Bộ thông tin và Truyền thông Việt nam trao
tặng. Hiện nay, Công ty Thông tin di động có 5 Trung tâm Thông tin di động trực
thuộc, 1 Trung tâm Dịch vụ Giá trị gia tăng (VAS) và một Xí nghiệp thiết kế. Trụ sở
chính của Văn phòng Công ty đặt tại Hà Nội.[9.5]
2.2.1.2 Cơ cấu tổ chức và chức năng nhiệm vụ
• Mô hình tổ chức của tổng công ty (Sơ đồ 3)
• Chức năng nhiệm vụ của các phòng ban trong tổng công ty
- Trung tâm Thông tin di động khu vực I chịu trách nhiệm kinh doanh và khai
thác mạng thông tin di động khu vực miền Bắc (các tỉnh phía Bắc đến Hà Tĩnh):
- Trung tâm Thông tin di động khu vực II chịu trách nhiệm kinh doanh và khai
thác mạng thông tin di động khu vực miền Nam (từ tỉnh Ninh Thuận đến các tỉnh miền
Ðông Nam Bộ và TP Hồ Chí Minh)
- Trung tâm Thông tin di động khu vực III chịu trách nhiệm kinh doanh và
khai thác mạng thông tin di động khu vực miền Trung và Cao Nguyên (từ tỉnh Quảng
Bình đến tỉnh Khánh Hoà và tỉnh Ðắc Lắc)
- Trung tâm Thông tin di động khu vực IV chịu trách nhiệm kinh doanh và
khai thác mạng thông tin di động khu vực 10 tỉnh miền Tây Nam Bộ.
- Trung tâm Thông tin di động khu vực V chịu trách nhiệm kinh doanh và khai
thác mạng thông tin di động khu vực tại 14 tỉnh, thành phố phía Bắc.
- Trung tâm Dịch vụ Giá trị gia tăng được thành lập ngày 06/10/2008 có trụ sở
chính tại Thành phố Hà nội, có chức năng phát triển, quản lý, khai thác và kinh doanh
các dịch vụ giá trị gia tăng trên mạng thông tin di động (bao gồm dịch vụ SMS, dịch
vụ trên nền SMS, trên nền GPRS, 3G và dịch vụ chuyển vùng quốc gia, quốc tế)
- Xí nghiệp thiết kế thành lập ngày 21 tháng 1 năm 1997 có trụ sở tại Hà Nội với
nhiệm vụ tư vấn, khảo sát, thiết kế xây dựng các công trình thông tin di động.[9.5]
Lớp K40 Marketing 25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status