BÀI TIỂU LUẬN TÁI CƠ CẤU NGUỒN NHÂN LỰC
TRÊN CƠ SỞ TÁI CƠ CẤU CÔNG TY THÔNG TIN
DI ĐỘNG VMS – MOBIFONE
LỚP: ĐHQT4A3
Nhóm 1 – Ca 2
Các thành viên trong nhóm:
1. Hồ Thị Thao
2. Nguyễn Thị Soa
3. Nguyễn Thị Tuyết
4. Nguyễn Thành Luân
5. Vũ Thị Ngoan
6. Lê Tiến Thọ
7. Lại Thị Phương Thảo LỜI MỞ ĐẦU
Thực hiện chủ trương đổi mới, Nhà nước hướng dẫn, chỉ đạo hoạt động kinh doanh
áp dụng cơ chế hạch toán kinh doanh với doanh nghiệp.
Nhà nước đã tạo điều kiện cho hoạt động kinh doanh phát triển nhanh chóng và tạ
o khả năng thu hút vốn đầu tư nước ngoài, công nghệ tiên tiến vào thị trường Việt
Nam. Đối với ngành Bưu điện, với chủ trương của Nhà nước coi ngành Bưu điện
là ngành mũi nhọn, trực thuộc sự quản lý hoàn toàn từ Trung ương. Do vậy, đối mắ
t với yêu cầu tự mình đảm nhiệm trách nhiệm thực hiện trong hoàn cảnh thiếu vốn
đầu tư và công nghệ hiện đại, ngành Bưu điện Việt Nam đã chọn hình thức đầu tư
BCC (Business Cooperate, Contract) phù hợp với tình hình khách quan đó. Tuy nhi
ên, so với các nước trong khu vực và thế giới, mạng Bưu chính Viễn thông ở nước
ta còn thấp bé về quy mô. Đặc biệt là trong lĩnh vực Bưu điên còn ở mức phát triển
thấp, nhiều chỉ tiêu còn thua kém mức trung bình của thế giới và khu vực.
Bưu chính Viễn thông đang và sẽ luôn là ngành đi đầu để tạo sức mạnh cho các
ngành kinh tế khác. Sự ra đời của Công ty Thông tin di động Việt Nam vào
ngày 16/4/1993 là một sự kiện quan trọng trong việc đa dạng hóa và hiện đại
khai cung cấp dịch vụ mới về thông tin di động.
1993: Thành lập Công ty Thông tin di động. Giám đốc công ty Ông Đinh
Văn Phước
1994: Thành lập Trung tâm Thông tin di động Khu vực I & II
1995: Công ty Thông tin di động ký Hợp đồng hợp tác kinh doanh
(BCC) với Tập đoàn Kinnevik/Comvik (Thụy Điển)
Thành lập Trung tâm Thông tin di động Khu vực III
2005: Công ty Thông tin di động ký thanh lý Hợp đồng hợp tác
kinh doanh (BCC) với Tập đoàn Kinnevik/Comvik.
Nhà nước và Bộ Bưu chính Viễn thông (nay là Bộ Thông tin và Truyền
thông) cú quyết định chính thức về việc cổ phần hoá Công ty Thông tin di
động.
Ông Lê Ngọc Minh lên làm Giám đốc Công ty Thông tin di động thay Ông
Đinh Văn Phước (về nghỉ hưu)
2006: Thành lập Trung tâm thông tin di động Khu vực IV
2008: Thành lập Trung tâm thông tin di động Khu vực V. Kỷ niệm 1
5 năm thành lập Công ty thông tin di động. Thành lập Trung tâm Dịch vụ
Giátrị Gia tăng. Tính đến tháng 04/2008, MobiFone đang chiếm lĩnh vị
trí số 1 về thịphần thuê bao di động tại Việt Nam.
2009: Nhận giải Mạng di động xuất sắc nhất năm 2008 do Bộ Thông tin
và Truyền thông trao tặng; VMS - MobiFone chính thức cung cấp dịch vụ 3G;
Thành lập Trung tâm Tính cước và Thanh khoản.
u sự lựa chọn. Sự gần gũi cùng với bản lĩnh tạo nên sự khác biệt giúp
MobiFone có một vị trí đặc biệt trog lòng khách hàng.
4. Sáng tạo
Không hài lòng với những gì đang có mà luôn mơ ước vươn lên, học tập,
sáng tạo, và đổi mới để thỏa mãn ngày càng tốt hơn những nhu cầu ngày càng
cao và liên tục thay đổi của thị trường.
5. Trách nhiệm
Sự phát triển gắn với trách nhiệm xã hội là truyền thống của MobiFone.
Chúng tôi cam kết cung cấp cho xã hội những sản phẩm và dịch vụ thông tin
di động ưu việt, chia sẻ và gánh vác những trách nhiệm với xã hội vì một
tương lai bền vững.
Điều 4. Các chuẩn mực văn hóa Công ty
1. Dịch vụ chất lượng cao
2. Lịch sự và vui vẻ
3. Minh bạch và hợp tác
4. Nhanh chóng và chính xác
5. Tận tụy và sáng tạo
4 Đinh hướng phát triển
MobiFone sẽ dồn lực phát triển dịch vụ giá trị gia tăng. MobiFone dự báo
các dịch vụ giá trị gia tăng trên nền điện thoại di động sẽ phát triển mạnh trong
thời gian tới, đặc biệt sau khi các công nghệ 3G được triển khai rộng rãi.
5. Mục tiêu của mobifone
- MobiFone hướng tới mục tiêu 21 triệu thuê bao
- Tăng cường phát triển thuê bao
- Khẳng định chất lượng dịch vụ.
II. TÁI CƠ CẤU LẠI NGUỒN NHÂN LỰC TRÊN CƠ SỞ TÁI CƠ
CẤU DOANH NGHIỆP
Trong giai đoạn hiện nay, bên cạnh tái cơ cấu vốn và tài sản, nhiều doanh
nghiệp Việt Nam thực hiện tái cấu trúc nguồn nhân lực để thoát ra khủng
hoảng và chuẩn bị cho giai đoạn tăng trưởng tiếp theo.
đề bổ sung thêm những năng lực còn thiếu và yếu.
Trong một số trường hợp khác, tái cấu trúc nguồn nhân lực được thực hiện mạnh
mẽ và đồng bộ hơn (từ tái cơ cấu chiến lược => tái cơ cấu cơ cấu tổ chức => đổi
mới các chính sách nhân lực). Tại trung tâm chỉ huy của doanh nghiệp, doanh
nghiệp áp dụng đồng bộ cả sáp nhập lẫn thành lập mới các chức năng. Theo đó một
số phòng ban thuộc khối phục vụ có thể được sát nhập và thành lập mới các phòng
ban để phát triển các năng lực mới theo yêu cầu của chiến lược kinh doanh.
Như vậy, có thể thấy tái cấu trúc nguồn nhân lực của doanh nghiệp có thể được
phân thành hai cấp độ cơ bản:
(i) Cấp độ 1: Sắp xếp và cơ cấu lại nhân lực. Theo đó doanh nghiệp đánh giá lại
các năng lực còn thiếu và còn yếu của nguồn nhân lực, đưa ra các điều chỉnh từ
chức năng nhiệm vụ, các quy trình nghiệp vụ, mô tả công việc, tiêu chuẩn công
việc. Trên cơ sở đó sẽ đánh giá mức độ đáp ứng của nhân viên để bố trí và sắp xếp
lại. Cấp độ này tổ chức của doanh nghiệp ít bị xáo trộn, nhưng chất lượng nguồn
nhân lực được tăng cường đáp ứng theo các yêu cầu mới.
(ii) Cấp độ 2: Đổi mới cơ cấu tổ chức. Theo yêu cầu của chiến lược kinh doanh,
nhất là trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế, doanh nghiệp sẽ điều chỉnh cơ cấu tổ
chức cho phù hợp. Các xu hướng cơ bản là tăng cường tính linh hoạt của tổ chức,
phát huy các hình thức quản trị mới như quản trị dự án và các cấu trúc tổ chức theo
nhóm,…
Khi điều chỉnh cơ cấu tổ chức, doanh nghiệp sẽ điều chỉnh lại chức năng nhiệm vụ,
hệ thống phân cấp phân quyền, từ đó thay đổi các quy trình nghiệp vụ, cải tiến hệ
thống quản lý. Trên cơ sở đó nhân lực sẽ được bố trí và sắp xếp lại cho phù hợp.
1.2 Các yếu tố đảm bảo tái cấu trúc nguồn nhân lực thành công
Tái cấu trúc nguồn nhân lực bao giờ cũng rất phức tạp vì thay đổi về con người là
rất khó khăn. Nghiên cứu một số tình huống của các doanh nghiệp thực tế cho thấy
để thành công, doanh nghiệp cần chú trọng các yếu tố cơ bản sau:
(i) Quyết tâm của đội ngũ lãnh đạo công ty;
(ii) Năng lực của đội ngũ lãnh đạo và năng lực của đội ngũ tư vấn;
(iii) Phương pháp triển khai chú trọng huy động được sự tham gia của cán bộ quản
tăng cường cơ sở hạ tầng, tăng quy mô vị thế để trở thành thương hiệu mạnh trên
thị trường viễn thông.
Ông Lê Ngọc Minh cũng đề nghị, trong đề án tái cấu trúc không giải thể
MobiFone và để doanh nghiệp này hạch toán độc lập, tiến tới cổ phần hoá công
ty theo đúng chỉ đạo của Chính phủ. Việc tái cấu trúc của VNPT và
MobiFone phải đảm bảo các yếu tố thị trường, hiệu quả giữa các đơn vị trong
Tập đoàn. Các lý luận kinh tế đã chỉ ra rằng khi doanh nghiệp phát triển đến quy
mô lớn thì cần tách ra hoạt động độc lập, duy trì mô hình hạch toán phụ thuộc sẽ
không phù hợp. Vì vậy, với quy mô hiện nay thì MobiFone muốn được độc lập
để hạch toán riêng, minh bạch; đồng thời nâng cao tính chủ động, sáng tạo cho
doanh nghiệp.
Ông Minh khẳng định, trong chiến lược sắp tới MobiFone đặt mục tiêu trở thành
đối tác mạnh và phải tập trung mở rộng đầu tư ra quốc tế nhằm mở rộng thị
trường và tạo động lực phát triển cho chính mình.
Trong quá trình tái cơ cấu phải giữ các thương hiệu mạnh như Viettel, Trong quá
trình tái cơ cấu phải giữ các thương hiệu mạnh như Viettel, MobiFone, VinaPhone
vì đây là những thương hiệu quốc gia có giá trị hàng tỉ USD. Như vậy, tái cơ cấu sẽ
tạo ra thế chân kiềng mạnh của thị trường viễn thông Việt Nam gồm Trong quá
trình tái cơ cấu phải giữ các thương hiệu mạnh như Viettel, MobiFone, VinaPhone
vì đây là những thương hiệu quốc gia có giá trị hàng tỉ USD. Như vậy, tái cơ cấu sẽ
tạo ra thế chân kiềng mạnh của thị trường viễn thông Việt Nam gồm MobiFone,
VinaPhone, Viettel. Mục tiêu tái cơ cấu là thúc đẩy Mobifone tập trung vào kinh
doanh ngành nghề chính và tạo động lực cho tập đoàn này phát triển mạnh hơn”
VNPT, VinaPhone, Viettel. Mục tiêu tái cơ cấu là thúc đẩy VNPT tập trung vào
kinh doanh ngành nghề chính và tạo động lực cho tập đoàn này phát triển mạnh
hơn”, VinaPhone vì đây là những thương hiệu quốc gia có giá trị hàng tỉ USD. Như
vậy, tái cơ cấu sẽ tạo ra thế chân kiềng mạnh của thị trường viễn thông Việt Nam
gồm MobiFone, VinaPhone, Viettel. Mục tiêu tái cơ cấu là thúc đẩy Mobifone tập
trung vào kinh doanh ngành nghề chính và tạo động lực cho tập đoàn này phát triển
mạnh hơn”