TÀI LIỆU THAM KHẢO GIÁO TRÌNH tôn GIÁO học đại học sư PHẠM hà nội - Pdf 40

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

GIÁO TRÌNH

TÔN GIÁO HỌC

TS. Trần Đăng Sinh (Chủ biên)
ThS. Đào Đức Doãn

HÀ NỘI - 2004

1


MỤC LỤC

Trang
Chương 1: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA
2

TÔN GIÁO

Chương 2: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÔN GIÁO

10

Chương 3: CÁC KIỂU VÀ HÌNH THỨC TÔN GIÁO TRONG LỊCH
31

SỬ

cứu nội dung giáo lý, giáo luật, cấu trúc và tổ chức tôn giáo. Các tôn giáo
được biểu hiện rất phong phú, đa dạng và phức tạp, song lại được che phủ
bởi thời gian và cái vỏ mờ ảo, huyền bí bề ngoài. Vì thế từ trước đến nay,
có rất nhiều cách hiểu khác nhau về tôn giáo. Do đó, đối tượng nghiên cứu
của tôn giáo học con bao hàm việc trở lại xem xét khái niệm tôn giáo, làm
rõ nguồn gốc, bản chất, chức năng, vai trò của tôn giáo.
Vấn đề hiểu thế nào cho đúng về tôn giáo là cơ sở để cho chúng ta
giải quyết tốt những vấn đề bức xúc hiện nay như: Thái độ và cách ứng xử
đối với tôn giáo, mối quan hệ giữa tôn giáo và khoa học, giữa tôn giáo và
đạo đức, chủ nghĩa xã hội và tôn giáo, vai trò của tôn giáo trong xã hội hiện
đại, xu hướng vận động của tôn giáo trong tương lai...
Để có thể chỉ ra được bản chất và những quy luật hình thành, vận
động và biến đổi của tôn giáo cần phải có quan điểm khoa học về tôn giáo.
Khắc phục những hạn chế của những học thuyết triết học duy vật cũ, đấu

3


tranh chống quan điểm duy tâm siêu hình về tôn giáo, Tôn giáo học dựa
trên cơ sở của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử
để nhận thức tôn giáo đúng như nó vốn có.
Tôn giáo được xem như là sản phẩm của mối quan hệ lệ thuộc giữa
con người với môi trường tự nhiên và xã hội. Là sự phản ánh thế giới hiện
thực một cách hư ảo, là mối liên hệ giữa những cái đã biết (cái ý thức
được) và cái chưa biết (cái tâm linh) của thế giới hữu hình và vô hình; giữa
cái trần tục, đời thường với cái thiêng liêng, huyền ảo trong nội tâm con
người.
Một luận đề rất quan trọng của Tôn giáo học mác-xít là không phải
tôn giáo sáng tạo ra con người mà chính "con người sáng tạo ra tôn giáo" (1),
rằng tôn giáo "chẳng qua chỉ là sự phản ánh hư ảo vào trong đầu óc của con

phán triết học pháp quyền của Hê-ghen", C.Mác cho rằng: "Xóa bỏ tôn
giáo, với tính cách là xóa bỏ hạnh phúc ảo tưởng của nhân dân là yêu cầu
thực hiện hạnh phúc thật sự của nhân dân (...). Phê phán thượng giới biến
thành phê phán cõi trần, phê phán tôn giáo biến thành phê phán pháp
quyền, phê phán thần học biến thành phê phán chính trị"(1).
Trên cơ sở nhận thức khoa học về tôn giáo, Tôn giáo học mác-xít
chỉ ra con đường khắc phục mặt tiêu cực của tôn giáo. Tôn giáo không thể
bị tiêu diệt, bị ngăn cấm, bị xóa bỏ bằng sự phê phán tinh thần hoặc bằng
các biện pháp hành chính, mà chỉ có thể "chết cái chết tự nhiên" của nó khi
những quan hệ hiện thực làm nảy sinh ra nó bị lật đổ một cách thực tiễn và
thay vào đó là một xã hội mới được xây dựng lại một cách triệt để. Đó là
khi "thông qua việc nắm toàn bộ các tư liệu sản xuất và sử dụng được
những tư liệu ấy một cách có kế hoạch - xã hội tự giải phóng mình và giải
phóng tất cả mọi thành viên trong xã hội khỏi tình trạng bị nô dịch" (1).
Như vậy, từ góc độ triết học mác-xít, tôn giáo học nghiên cứu tôn
giáo với tính cách là một loại hình ý thức xã hội đặc thù, là một cách hiểu
duy tâm, thần bí về thế giới hiện thực. Triết học duy tâm thường xuất phát
từ thực thể tinh thần để giải thích thế giới, cho thế giới, trong đó có con
người là sản phẩm sáng tạo của Chúa. Còn triết học duy vật lại cho rằng,
tôn giáo là sự phản ánh sai lệch của con người về thế giới, về xã hội của
chính con người.
Từ góc độ lịch sử - văn hóa, Tôn giáo học xem tôn giáo như là sản
phẩm của một nền văn hóa tương ứng với một giai đoạn lịch sử của con
người, mang bản sắc của các cộng đồng, dân tộc. Bản thân con người, trong
lịch sử, trong hiện tại và cả trong tương lai không những chỉ sống với cái gì
(1)

C.Mác - Ph.Ăngghen, Tuyển tập, T.5, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1980, tr. 449.

5

gian tôn giáo như chùa Một Cột, chùa Tây Phương, tháp Báo Thiên, đền

6


Trấn Vũ... Các lễ hội dân gian truyền thống như ngày giỗ Tổ Hùng Vương
ở Phú Thọ; nghi lễ cầu mưa, rước nước, thờ Thành hoàng ở nhiều nơi là sự
thể hiện nhu cầu tâm linh tôn giáo của nhân dân.
Vì vậy, khoa học nghiên cứu về tôn giáo đòi hỏi phải có nhận định
đánh giá khách quan về bản chất và vai trò xã hội của tôn giáo. Không nên
có những thiên kiến sai lệch về tôn giáo. Bên cạnh mặt hạn chế, tiêu cực,
"độc hại" tôn giáo còn có tính tích cực của nó. Tính tích cực của tôn giáo
thể hiện rõ nét trong lĩnh vực đạo đức, văn hóa - nghệ thuật.
Tôn giáo học nghiên cứu tôn giáo không chỉ với tư cách là một loại
hình ý thức xã hội mà còn là một hiện tượng lịch sử - văn hóa. Do vậy, Tôn
giáo học có mối quan hệ mật thiết với các bộ môn khoa học xã hội và nhân
văn khác như triết học, sử học, chính trị học, xã hội học, tâm lý học, văn
hóa học...
Triết học giúp cho quá trình hình thành thế giới quan và phương
pháp luận của người nghiên cứu tôn giáo. Cuộc đấu tranh giữa tư tưởng
duy vật với tư tưởng duy tâm trong triết học gắn liền với cuộc đấu tranh
giữa tư tưởng vô thần và hữu thần (tư tưởng tôn giáo). Chủ nghĩa duy vật
trong triết học là cơ sở để hình thành và phát triển ý thức vô thần. Ý thức
vô thần và hữu thần là sản phẩm của quan hệ không phụ thuộc (tự do) hoặc
phụ thuộc (không tự do) của con người với thế giới hiện thực (xem mô hình
dưới đây).
Ý thức tôn giáo
Tôn giáo

Con người

Đến lượt mình, Tôn giáo học thường dựa trên các thành tựu nghiên
cứu của các ngành khoa học khác để nghiên cứu tôn giáo. Thí dụ, để có
nhận định về xu hướng vận động của tôn giáo trong xã hội hiện đại, các
nhà nghiên cứu tôn giáo sử dụng các kết quả điều tra xã hội học...
Hiện nay trên thế giới số lượng tín đồ theo các tôn giáo khác nhau
có tới trên dưới ba tỷ. Ở nước ta, theo số liệu thống kê mới nhất, thì Phật
giáo có 7.620.480, Công giáo có 5.028.480, Tin Lành có 412.344, Cao Đài
có 1.147.527, Hòa Hảo có 1.306.969, Hồi giáo có 93.294 tín đồ (1). Các tổ
chức tôn giáo với số lượng tín đồ ấy là một thực thể xã hội to lớn, rất đáng
quan tâm. Nhiều vấn đề về chính trị, xã hội, dân tộc, văn hóa, giáo dục có
liên quan đến các tổ chức và tín đồ tôn giáo.
Vì vậy, kết quả nghiên cứu khoa học về tôn giáo là rất cần thiết. Đó
là cơ sở khoa học để đề ra và thực hiện tốt các chính sách của Nhà nước ta
về công tác tôn giáo. Nghiên cứu tôn giáo không phải chỉ đơn thuần nhằm
thỏa mãn nhu cầu về lý luận mà còn nhằm đáp ứng nhu cầu bức thiết của
Vấn đề về tôn giáo và chính sách tôn giáo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Ban tư tưởng văn hóa
Trung ương, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr. 134-135.
(1)

8


cuộc sống. Do vậy, đối tượng nghiên cứu của tôn giáo học còn bao gồm
việc tìm hiểu quan điểm, chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và
Nhà nước ta về tôn giáo. Trên cơ sở đó để hiểu rõ việc làm tốt công tác tôn
giáo cũng là làm tốt công tác vận động quần chúng, củng cố và xây dựng
khối đại đoàn kết toàn dân.
2. Phương pháp nghiên cứu của Tôn giáo học
Mỗi bộ môn khoa học trước hết khác nhau ở đối tượng nghiên cứu
và sau đó ở phương pháp nghiên cứu.

Sự tồn tại của tôn giáo là tồn tại trong sự vận động, biến đổi, liên hệ
và tác động qua lại với các hình thái ý thức xã hội khác, với các yếu tố khác
của kiến trúc thượng tầng.
Nghiên cứu tôn giáo vì thế phải thấy được sự vận động lịch sử trong
toàn bộ tính phong phú, đa dạng qua các kiểu và hình thức biểu hiện của
nó. Là sản phẩm của lịch sử, song cũng là sự phản ánh các giai đoạn khác
nhau của lịch sử, do đó không nên chỉ dừng lại ở cái bản chất, tất yếu, trừu
tượng mà còn phải thấy được cái cụ thể trong những giới hạn thời gian và
không gian, phải thấy được cái đặc thù của tôn giáo.
Để xem xét, đánh giá các hiện tượng tôn giáo theo phương pháp
luận biện chứng, cần phải đặt mỗi hiện tượng tôn giáo vào đúng hoàn cảnh
cụ thể của nó, xem xét tất cả các mối liên hệ, từ đó xác định nguyên nhân,
điều kiện làm nảy sinh ra hiện tượng đó và đề ra biện pháp ứng xử thích hợp.
Bản chất của tôn giáo là sự phản ánh một cách "hư ảo" trong đầu óc
con người những lực lượng tự nhiên và xã hội đang thống trị con người,
song nó vẫn là sự phản ánh đặc biệt hiện thực cuộc sống. Do đó xem xét
hiện tượng tôn giáo cần phải thấy được mối liên hệ giữa tôn giáo với điều
kiện sinh hoạt xã hội làm nảy sinh và nuôi dưỡng tôn giáo.
Tôn giáo là một hiện tượng mang tính hai mặt: tiêu cực và tích cực.
Do vậy cần phải thấy sự "đối lập" nhưng lại thống nhất với nhau ấy trong
một hiện tượng tôn giáo. Luận điểm của C.Mác: "Tôn giáo là thuốc phiện
của nhân dân" không chỉ có ý nghĩa: tôn giáo làm tha hóa con người mà
còn có ý nghĩa: tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân.
Ngoài phương pháp luận chung là phương pháp duy vật biện chứng
và phương pháp duy vật lịch sử, Tôn giáo học còn sử dụng các phương
pháp khác như phân tích, tổng hợp, so sánh, mô tả, phương pháp điều tra,
thống kê xã hội học...

10


1.1. Các quan điểm ngoài mác-xít về bản chất của tôn giáo
Tôn giáo là một hiện tượng lịch sử thuộc lĩnh vực tinh thần của đời
sống xã hội. Trên thế giới có tới hàng ngàn các loại hình tôn giáo khác
nhau. Do cách tiếp cận, mục đích nghiên cứu khác nhau, các cách hiểu về
tôn giáo, vì vậy rất khác nhau. Để đưa ra một cách hiểu khoa học có thể
khái quát được những nét đặc trưng nhất của tôn giáo, cần điểm qua một số
quan điểm khác nhau về tôn giáo trong giới nghiên cứu.
1.1.1. Quan điểm của triết học trước C.Mác về bản chất của tôn giáo
Chủ nghĩa duy tâm khách quan với các đại biểu như Platôn, (427 347 TCN), Ph.Hê-ghen (1770 - 1831) đều xuất phát từ thực thể tinh thần
như "ý niệm", "ý niệm tuyệt đối" để giải thích các hiện tượng trong tự
nhiên cũng như trong xã hội.
Theo họ, lịch sử của xã hội là lịch sử biến đổi của tinh thần, ý thức.
Tôn giáo là một sức mạnh kỳ bí thuộc "tinh thần" tồn tại vĩnh hằng, là cái
chủ yếu đem lại sinh khí cho con người.
Một số nhà triết học duy tâm chủ quan như: R.Otto, Đ.Hium
(1711 - 1776) lại cho tôn giáo là thuộc tính vốn có trong ý thức của con
người, tồn tại không lệ thuộc vào hiện thực khách quan.
Một số nhà thần học như Tômát - Đacanh, (1225 - 1274), Phôn-ti-lích
(1886 - 1965), Klê-ma-chơ, J.Oát v.v... xem tôn giáo là niềm tin vào cái
thiêng liêng, huyền bí, ở đó ẩn chứa sức mạnh siêu nhiên có thể giúp con
người thoát khỏi khổ đau và có được hạnh phúc. Niềm tin vào cái thiêng
liêng, cái siêu nhiên ở đây chính là niềm tin vào Thượng đế. Như vậy niềm
tin vào cái "tối thượng" (Thượng đế) chính là tôn giáo.
12


Các nhà duy vật trước Mác đều có lập trường không triệt để về vấn
đề tôn giáo, mặc dù cơ sở thế giới quan của họ là thừa nhận tính thứ nhất
của thế giới vật chất.
Trong các nhà triết học duy vật trước Mác, thì L.Phoi-ơ-bắc đã có

Thông tin khoa học xã hội chuyên đề (1977), Tôn giáo và đời sống hiện đại, tập 1, Hà Nội, tr. 24 25.
(3)
Thông tin khoa học xã hội chuyên đề (1977), Tôn giáo và đời sống hiện đại, tập 1, Hà Nội, tr. 30
(4)
Thông tin khoa học xã hội chuyên đề (1977), Tôn giáo và đời sống hiện đại, tập 1, Hà Nội, tr. 67,
165, 170, 174.
(1)

(2)

14


mang ý nghĩa và nội dung tôn giáo được truyền lại cho các thế hệ sau, được
họ gìn giữ, tiếp thu.
Troi-bi cho tôn giáo là cơ sở và tiêu chí của hoạt động tinh thần, nó
được biểu đạt bằng hình thức văn minh.
C.Dao-sơn cho tôn giáo không phải là hình thái ý thức trừu tượng,
mà là một truyền thống văn hóa, tập tục văn hóa.
V.Ma-li-nốp-xki cho tôn giáo và văn hóa là hai cái cùng tồn tại, song
văn hóa chỉ là cái phái sinh, cái gián tiếp đối với nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo.
Như vậy, các cách tiếp cận trên về tôn giáo, do hạn chế lịch sử và
lợi ích giai cấp không cho chúng ta thấy bản chất đích thực của tôn giáo.
Quan điểm của các nhà triết học duy tâm, thần học do xuất phát từ
"tinh thần", "ý thức" để lý giải một hiện tượng khác cùng thuộc lĩnh vực
đời sống tinh thần là tôn giáo. Họ đã thần bí hóa hiện tượng tôn giáo, cho
rằng tôn giáo chỉ có thể cảm nhận chứ không thể lý giải được. Chỉ có thể
tin để hiểu chứ không phải hiểu để rồi tin.
Quan điểm triết học nhân bản của L.Phoi-ơ-bắc đã chỉ ra nguồn gốc
nhận thức của tôn giáo, đấu tranh chống quan điểm duy tâm về con người,

sống hiện thực mà ngược lại. Ý thức, trong đó có ý thức tôn giáo, chỉ là ý
thức của cá nhân, cộng đồng người trong xã hội, phản ánh tồn tại xã hội.
Chủ nghĩa duy tâm xuất phát từ các phạm trù mang tính tư biện như
"tự ý thức", "ý niệm tuyệt đối", "ý chí thánh linh" để giải thích lịch sử, coi
đó là tiền đề để hư cấu lịch sử. Ngược lại các nhà kinh điển của chủ nghĩa
Mác - Lênin lại xuất phát từ hoạt động sản xuất vật chất để giải thích lịch sử.
Theo C.Mác, lịch sử xét cho cùng là lịch sử của sản xuất vật chất. Lịch sử
nhân loại bắt đầu từ đâu thì tư duy lô-gíc cũng bắt đầu từ đấy, lịch sử nhân
loại phát triển như thế nào thì tư duy lô-gíc cùng diễn biến như thế ấy.
Trong các tác phẩm của mình C.Mác, Ph.Ăngghen đều xem sản
xuất vật chất là cơ sở của sự hình thành và phát triển của các hiện tượng
mang tính lịch sử xã hội, trong đó có tôn giáo. Tôn giáo là một hiện tượng
lịch sử, một sản phẩm của thời đại lịch sử nhất định.

C.Mác (1995), Luận cương về Phoi-ơ-bắc, C.Mác - Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 3, Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội, tr. 12.
(1)

16


Trong "Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hê-ghen"
C.Mác cho rằng không phải tôn giáo sáng tạo ra con người mà chính con
người sáng tạo ra tôn giáo. "Tôn giáo là sự tự ý thức và sự tự cảm giác của
con người chưa tìm được bản thân mình hoặc đã lại để mất bản thân mình
một lần nữa. Nhưng con người không phải là một sinh vật trừu tượng, ẩn
náu đâu đó ở ngoài thế giới. Con người chính là thế giới con người, là nhà
nước, là xã hội. Nhà nước ấy, xã hội ấy sản sinh ra tôn giáo, tức thế giới
quan lộn ngược, vì chính bản thân chúng là thế giới lộn ngược... Tôn giáo
biến bản chất con người thành tính hiện thực ảo tưởng, vì bản chất con


ánh của nhận thức, là một cách lý giải của con người về các hiện tượng
xung quanh cuộc sống của chính con người. Tôn giáo có nguồn gốc xã hội,
nguồn gốc nhận thức và nguồn gốc tâm lý trong quá trình hình thành và tồn
tại, có chức năng "đền bù hư ảo", xoa dịu nỗi đau hiện thực và hướng tới sự
giải thoát về tinh thần.
2. Tôn giáo là một hiện tượng lịch sử, đồng thời cũng là một hình
thái ý thức xã hội có quy luật hình thành và tồn tại riêng. Tôn giáo vừa là
một "chỉnh thể" hoàn chỉnh, song lại là một "yếu tố" trong chỉnh thể lớn, đó
là toàn bộ đời sống tinh thần của xã hội. Vì vậy, tôn giáo có mối liên hệ
mật thiết với các hình thái ý thức xã hội khác như triết học, đạo đức, pháp
quyền, thẩm mỹ, chính trị...
1.2.2. Kết cấu của tôn giáo
Tôn giáo có hình thức biểu hiện đa dạng, phong phú song bao giờ
nó cũng được tạo thành bởi các yếu tố cơ bản là ý thức tôn giáo, hệ thống
nghi lễ tôn giáo và tổ chức tôn giáo.
Ý thức tôn giáo bao gồm tâm lý tôn giáo, và hệ tư tưởng tôn giáo.
Tâm lý tôn giáo là cấp độ thấp của ý thức tôn giáo thuộc lĩnh vực ý
thức thông thường. Nó phản ánh trực tiếp cuộc sống, mang tính tự phát. Tâm
lý tôn giáo bao gồm tình cảm, tâm trạng, nguyện vọng của tín đồ.
Tình cảm tôn giáo bao gồm những trạng thái xúc cảm, rung động
trước những biểu tượng tôn giáo. Nó thể hiện sự tôn thờ, thành kính và bao
giờ cũng mang tính thiêng liêng, cao cả. Tình cảm tôn giáo được hình
thành, củng cố, được khẳng định dẫn tới niềm tin tôn giáo.
Niềm tin tôn giáo là trạng thái tâm lý đặc biệt của chủ thể nhận
thức. Chủ thể của niềm tin tôn giáo là các tín đồ tôn giáo. Niềm tin tôn giáo
được hình thành trên cơ sở những thông tin nhất định về khách thể, được
thể hiện thông qua các ý niệm, biểu tượng tôn giáo. Nội dung của nó là sự
tin tưởng, ngưỡng mộ, sùng bái vào một thực thể siêu việt nào đó như
Thượng đế, Thần, Phật... Sự xuất hiện và tồn tại của niềm tin tôn giáo được

tưởng tôn giáo. Nhờ nó, hệ tư tưởng tôn giáo mang một sắc thái tình cảm

20


đặc biệt, đó là sự thiêng liêng, cao cả. Hệ tư tưởng tôn giáo là yếu tố góp
phần tái tạo tâm lý tôn giáo, thúc đẩy sự phát triển ý thức tôn giáo trong tín đồ.
Ý thức tôn giáo là sự phản ánh hư ảo, sai lầm hiện thực vì vậy nó
có tác động tiêu cực tới tư tưởng và hành vi con người. Hướng con người
vào khách thể tưởng tượng, làm tiêu tan tính chủ động, tích cực và sáng
tạo, ngăn cản sự phát triển của thế giới khoa học và sự tiến bộ xã hội
nói chung.
Hệ thống nghi lễ tôn giáo.
Trong các yếu tố của tôn giáo bên cạnh ý thức tôn giáo còn có hệ
thống nghi lễ. Nghi lễ tôn giáo là cái đặc biệt được coi trọng, nó mang tính
hệ thống, được quy định chặt chẽ bởi giáo lý, giáo luật, được duy trì thường
xuyên, có tổ chức và mang tính bắt buộc với tín đồ.
Nghi lễ là hình thức, phương tiện để chuyển tải niềm tin tôn giáo.
Nghi lễ bao gồm hệ thống những biểu tượng mang tính thần thánh và
những điều răn dạy, kiêng kỵ. Trong hệ thống nghi lễ thì hoạt động thờ
cúng là yếu tố cơ bản, là sự hiện thực hóa ý thức tôn giáo.
Thờ cúng là hoạt động có ý thức của con người, là tổng thể phức
hợp của các yếu tố: ý thức tôn giáo, biểu tượng tôn giáo và nghi lễ thờ cúng
trong không gian tôn giáo. Thờ là yếu tố thuộc ý thức tôn giáo, là cõi tâm
linh, tình cảm thiêng liêng, lòng thành kính, niềm tin vào sự che chở, cứu giúp
của đấng siêu nhiên.
Biểu tượng tôn giáo bao gồm hệ thống những vật thể có ý nghĩa
thiêng liêng, cao cả được dùng trong các hoạt động thờ cúng và sinh hoạt
tôn giáo. Cây thánh giá của Cơ Đốc giáo, ảnh Phật ngồi trên tòa sen của
Phật giáo, bình rượu tiên của Đạo giáo... là những biểu tượng tôn giáo điển

2. NGUỒN GỐC CỦA TÔN GIÁO

Tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội nảy sinh trên cơ sở kinh tế xã hội và chịu sự quy định của tồn tại xã hội. Do đó, tìm nguồn gốc hình
thành của nó không phải trong "ý thức" mà phải trong lịch sử xã hội, lịch
sử hoạt động thực tiễn của con người.

22


2.1. Nguồn gốc xã hội của tôn giáo
2.1.1. Sự bất lực của con người trước các thế lực tự nhiên
Lịch sử xã hội loài người là lịch sử phát triển kế tiếp nhau của các
hình thái kinh tế - xã hội. Hình thái kinh tế - xã hội cộng sản nguyên thủy
ra đời trên cơ sở nền sản xuất hết sức thấp kém. Nền kinh tế tự nhiên lấy
săn bắt, hái lượm là chính. Cuộc sống của con người lệ thuộc nhiều vào
thiên nhiên. Quan hệ giữa các thành viên trong thị tộc, bộ lạc là quan hệ
bình đẳng, hợp tác trên cơ sở công hữu về tư liệu sản xuất. Do lực lượng
sản xuất thấp kém, giới tự nhiên kỳ bí, bao quanh con người đe dọa cuộc
sống của họ. Những thiên tai bất thần như mưa, bão, nắng hạn, động đất,
cháy rừng, thú dữ, bệnh tật luôn rình rập. Con người cảm thấy bất lực
trước tự nhiên, và do đó họ thần thánh hóa sức mạnh của tự nhiên và sau
đó lại cầu xin sự che chở, cứu giúp của thần thánh. Ph.Ăngghen cho rằng:
"Trong những thời đầu của lịch sử, những lực lượng thiên nhiên là cái được
phản ánh đầu tiên vào đầu óc của con người. Chúng được nhân cách hóa
một cách nhiều vẻ và hết sức hỗn tạp"(1).
2.1.2. Sự bất lực của con người trước các thế lực xã hội
Về sau, trong xã hội có giai cấp thì cùng với lực lượng bí ẩn của
giới tự nhiên là lực lượng mang tính xã hội luôn thống trị cuộc sống hàng
ngày của quần chúng nhân dân. Ph.Ăng-ghen cho rằng: "Những lực lượng
này đối lập với con người, một cách cũng xa lạ lúc đầu cũng không thể hiểu

tin vào sự tồn tại của linh hồn. Ý thức về linh hồn chứng tỏ khả năng trừu
tượng hóa của họ đã đạt tới trình độ nhất định. Ý thức đó, về thực chất là sự
phản ánh hư ảo những sức mạnh trần thế, biến thành sức mạnh siêu trần
thế. Đúng như Ph.Ăng-ghen đã chỉ rõ nguồn gốc nhận thức của tôn giáo là:
"tôn giáo sinh ra trong một thời đại hết sức nguyên thủy, từ những khái
niệm hết sức sai lầm, nguyên thủy của con người về bản chất của chính họ
và về giới tự nhiên bên ngoài, xung quanh họ" (1). Theo C.Mác, Ph.Ăngghen
thì... "sự nhân cách hóa các lực lượng tự nhiên đã làm nảy sinh ra những vị
thần đầu tiên, những vị thần này, trong quá trình phát triển về sau của tôn
giáo, ngày càng mang một hình dáng những sức mạnh siêu phàm, cho đến
lúc, rút cuộc lại, do một quá trình trừu tượng hóa... (quá trình trưng cất hoàn toàn tự nhiên) trong tiến trình phát triển của trí tuệ, trong đầu óc của
con người, từ đông đảo những vị thần có quyền lực ít nhiều bị hạn chế và
hạn chế lẫn nhau, nảy sinh ra quan niệm về một vị thần độc tôn của các tôn
giáo độc thần.
Do đó, vấn đề quan hệ giữa tư duy và tồn tại, giữa tinh thần và tự
nhiên, một vấn đề tối cao của toàn bộ triết học, cũng hoàn toàn giống như
bất cứ một tôn giáo nào, đều có gốc rễ trong các quan niệm thiển cận và
ngu dốt của thời kỳ mông muội"(2).

C. Mác - Ph.Ăng-ghen (1995), "Lút-vích Phoi-ơ-băc và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức",
Toàn tập, tập 21, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 445.
(2)
C. Mác - Ph.Ăng-ghen (1995), "Lút-vích Phoi-ơ-băc và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức",
Toàn tập, tập 21, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 404.
(1)

25




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status