QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN CỦA PHẬT GIÁO
Ở NHẬT BẢN
LỜI NÓI ĐẦU
Tôn giáo là một hiện tượng xã hội đặc biệt ra đời và tồn tại hàng
ngàn năm nay với nhân loại, là nhu cầu tinh thần của một bộ phận đông đảo
nhân dân ở hầu khắp các quốc gia trên hành tinh này. Với con số hàng tỷ
người trên thế giới và gần như 100% dân cư ở nhiều nước cụ thể theo các
tôn giáo khác nhau đã nói rõ nhu cầu đó. Tôn giáo đã có ảnh hưởng mạnh
mẽ đến đời sống xã hội nhiều mặt của con người.
Tuy nhiên, xung quanh hiện tượng tôn giáo đang còn nhiều ý kiến
khác nhau trong giới nghiên cứu (và có thể nói là một trong những hiện
tượng xã hội có nhiều tranh cãi nhất). Chẳng hạn, tôn giáo là một hiện
tượng tích cực hay tiêu cực, có ảnh hưởng tốt hay xấu đến đời sống con
người, xã hội và đánh giá nó trên cơ sở khoa học nào. Về mặt hình thái ý
thức xã hội, tôn giáo lâu nay được xem như đối lập với khoa học và nếu
vậy thì cắt nghĩa như thế nào về hiện tượng tôn giáo có chiều hướng gia
tăng hiện nay trong khi có sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công
nghệ trên phạm vi thế giới cũng như mỗi quốc gia; vấn đề quan hệ hay tác
động, ảnh hưởng qua lại giữa tôn giáo với chính trị, văn hóa, đạo đức, khoa
học... như thế nào và bản thân tôn giáo trong nội dung các quan niệm của
mình có chứa đựng các yếu tố chính trị, văn hóa, đạo đức, khoa học
không...?
Có thể nói những vấn đề trên đây là những vấn đề lớn rất cần được
quan tâm nghiên cứu của nhiều ngành, nhiều giới, nhất là vấn đề ảnh hưởng
của tôn giáo đối với xã hội, con người là có tính thời sự cấp thiết.
Nhật Bản là quốc gia có trình độ phát triển cao trên nhiều lĩnh vực.
Trong những nguyên nhân tạo nên thành công chung của quốc gia này phải
kể đến sự tác động của một nền văn hóa rất độc đáo mang bản sắc Nhật
1
I. MỘT SỐ NÉT VỀ LỊCH SỬ PHẬT GIÁO
1.1. Về sự ra đời của Phật giáo
Trong tác phẩm nổi tiếng: "Phê phán triết học pháp quyền của
Hêghen (lời nói đầu)", C.Mác vĩ đại đã cho rằng: "Sự nghèo nàn của tôn
giáo, một mặt phản ánh sự nghèo nàn hiện thực và mặt khác là sự phản
kháng chống lại sự nghèo nàn hiện thực ấy"(1). Vì lẽ ấy, ta thấy, Các ánh xạ
của xã hội trần tục "nghèo nàn" mà tôn giáo là hiện thân có khả năng đại
diện cho tiếng nói và lương tri của những con người lao động bần cùng,
giúp họ đạt tới một sự giải tỏa về tinh thần. Vì vậy C.Mác viết tiếp: "Tôn
giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới không
có trái tim, cũng giống như nó là tinh thần của những điều kiện xã hội
không có tinh thần..."(2).
Những nhận định của C.Mác trên đây là những chỉ dẫn để chúng ta
quay trở lại lần tìm những cơ sở hiện thực tiềm ẩn trong xã hội trần tục - cơ
sở làm nảy sinh tôn giáo nói chung và hiện tượng Phật giáo nói riêng.
Trở lại lịch sử Ấn Độ cổ đại vào khoảng thế kỷ thứ VI (TCN), ta
thấy, đó là một giai đoạn đặc biệt diễn ra sự tan rã của chế độ thị tộc, bộ lạc
và sự phát triển mạnh mẽ của chế độ chiếm hữu nô lệ. Chính cơ sở lịch sử
đó minh chứng cho nguyên nhân thúc đẩy một bộ phận dân cư Ấn Độ bị
gạt ra ngoài sự can dự vào các vấn đề trọng đại của đất nước. Muốn vậy, xã
hội quan phương phải tìm cách không chỉ tước đoạt họ về kinh tế mà còn
tước đoạt họ cả tinh thần và cuối cùng tuyên bố họ là những thân phận
phục tùng, tôi tớ.
Sự phân hóa xã hội mạnh mẽ, sâu sắc đã làm cho Ấn Độ cổ đại tồn
tại như là một xã hội có đẳng cấp và sự phân biệt đẳng cấp là hết sức nghiệt
ngã. Tuy nhiên, điều đặc biệt là, khác xã hội phương Tây như Hy Lạp, La
Mã - nơi tồn tại chế độ chiếm hữu nô lệ rất điển hình bao gồm hai giai cấp
chính là chủ nô và nô lệ thì ở Ấn Độ có những 4 đẳng cấp cùng tồn tại. Sự
Kytô ta thấy, ở đây dường như có một sự đối lập. Nếu như Giêsu Kytô là
một nhân vật xuất thân trong một gia đình nghèo hèn thì thái tử Tất Đạt Đa
lại hiện thân của tầng lớp thượng lưu của xã hội. Tuy nhiên, điểm tương
đòng là ở chỗ, họ cũng nói lên được tiếng nói của những thân phận bì đè
nén, bị làm nhục, nhu cầu về một thế giới tốt đẹp hơn. Điều căn bản hơn,
họ cũng đại diện cho tiếng nói phản ánh sự bất bình xã hội mà nguyên nhân
của những bất bình ấy nằm ngay trong thiết chế trần tục của xã hội quan
(1)
Đạo Phật và Chính trị. Giác ngộ số 8 tháng 11/1996, tr.46.
4
phương và mặc dù hai thân phận khác nhau nhưng Giêsu và Tất Đạt Đa đều
chung một cảnh ngộ: là những thân phận không tự do.
Các nguồn sử liệu phật giáo đã không cắt nghĩa vấn đề trên thấu
đáo. Họ đã lái sự chú ý vào những quan sát, chiêm nghiệm của Tất Đạt Đa
khi quán chiếu vào đời sống thực của nhân sinh. Theo đó dù là đẳng cấp
nào, khi chưa được giải thoát cũng đều vướng vào "Bát khổ" mà sinh, lão,
diệt, tử như là những chướng ngại của mỗi con người. Như vậy Phật giáo
đã quá đề cao chủ nghĩa nhân đạo của Tất Đạt Đa, biến ông thành mẫu mực
của chủ nghĩa nhân đạo Phật giáo mà không thấy hết sự không tự do của
Tất Đạt Đa với tư cách là Thái tử. Theo chúng tôi. Tất Đạt Đa từ nhận thức
thân phận mình để đi đến nhận thức thân phận người nô lệ chứ không phải
chỉ quan tâm đến thân phận của người nô lệ.
Ngoài những cơ sở như đã trình bày ở trên, có hàng loạt các vấn đề
khác cũng tham gia vào quá trình hình thành các tư tưởng phật giáo. Chúng
ta có trách nhiệm phải làm sáng tỏ các cơ sở ấy để trả lời cho vấn đề: tại
sao phật giáo chỉ khởi phát từ Ấn Độ mà không thể từ một địa danh nào
thúc của cuộc sống. Nhìn chung các vấn đề xã hội ở phương Đông càng
ngày càng phức tạp. Chiến tranh và thôn tính diễn ra quyết liệt và tàn khốc.
Trong không gian xã hội đó, thân phận con người quá mỏng manh bất luận
họ đứng ở vị trí nào của xã hội. Vì vậy, ở Trung Hoa, vấn đề con người,
"tính người"... là vấn đề trung tâm của triết học. Ở Ấn Độ vấn đề "giải
thoát" là mục tiêu của các trào lưu tư tưởng. Phật giáo là một tư trào tư
tưởng cũng lấy "Giải thoát" cho con người là mục đích vươn tới cũng vì lẽ
ấy.
Thứ hai: Tiếp tục hành trình đưa con người đạt đến sự "giải thoát",
một mặt Phật giáo kế thừa tư tưởng "giải thoát" đã có từ trước và mặt khác
tạo nên một sự vượt bỏ quan niệm cũ một cách độc đáo.
Theo chiết tự, "giải" là cởi ra, mở ra, "thoát" là vượt bỏ. Tựu trung
lại, "giải thoát" là hành trình con người tự nhận thức mình và vượt qua
chính bản thân mình. Vấn đề đặt ra ở đây là: Tại sao người Ấn Độ lại hiểu
"giải thoát" theo nghĩa trên?
6
Quay trở lại lịch sử tiến hóa của nhận thức ta thấy, ở giai đoạn tiền
khởi, trình độ nhận thức và năng lực thực tiễn của con người còn rất thấp.
Giới hạn lịch sử đó đã chưa cho phép con người vượt quá giới hạn của bản
năng. Con người sống hòa lẫn với tự nhiên như một bộ phận thuần túy. Nói
cách khác, năng lực bản chất người chưa đạt đến trình độ đưa con người
đến chỗ xác lập bản chất đích thực của giống loài. Tuy nhiên, càng ngày
năng lực thực tiễn và nhận thức càng phát triển và sự phát triển đó làm nảy
sinh nhu cầu tự nhận thức mình. Chỉ đến lúc đó, con người mới tự nhận
thấy rằng, năng lực của mình so với tự nhiên bên ngoài là cực kỳ bé nhỏ.
Họ khát vọng đạt đến sự hoàn thiện và hùng mạnh của tự nhiên. Trong điều
kiện năng lực có hạn, ở đó đã xuất hiện hai cách lựa chọn khác nhau. Ở
được luận giải rằng, bản chất của kẻ phàm tục là mê lầm. Vì mê lầm nên
không nhận thức được chân lý. Không nhận thức được chân lý nên càng
trôi nổi trong chốn lầm lạc. Cứ như vậy, mê lầm làm nảy sinh dục vọng và
càng đẩy con người chìm sâu vào bến mê, xa vời bến giác.
Là một trào lưu tư tưởng nảy sinh trong truyền thống đó nên Phật
giáo đã tiếp nhận được khả năng tư duy trừu tượng ở trình độ cao và tìm
cách dung hòa vấn đề này với quảng đại dân chúng bình dân bằng tuyên
ngôn: mọi chúng sinh đều có thể thành phật và đạt đến sự giác ngộ không
phải duy nhất chỉ một con đường, ngược lại phải "Tùy duyên phương tiện".
Thứ tư: Một trong những cơ sở để hình thành tư trào Phật giáo
chính là sự tồn tại đo dạng các quan niệm về vũ trụ, nhân sinh... trong rất
nhiều tư trào tư tưởng xuất hiện lúc đó. Chính sự đa dạng của các quan
điểm làm cho chúng có cơ sở để đối chứng, va đập lẫn nhau hình thành nên
một thực tế là, sự vay mượn, ảnh hưởng lẫn nhau giữa các tư tưởng. Trong
bối cảnh đó Phật giáo có thêm dữ liệu tư tưởng để kết tinh thành một tư
trào độc lập. Điều đã nêu trên có thể tìm thấy ở Trung Hoa thời kỳ Xuân
thu chiến quốc mà sử gọi là: "Bách pha chưa tử" hay "Trăm nhà tranh minh,
trăm người đua tiếng" hoặc như thời kỳ đầu của triết học tự nhiên Hy Lạp
và La Mã cổ đại.
1.2. Một số đặc điểm nổi bật của tư tưởng Phật giáo
8
Không gian văn hóa, lịch sử được phác họa ở trên đã làm xuất hiện
một trào lưu tư tưởng mới: tư trào phật giáo. Chính vì vậy, ngoài những đặc
điểm chung của các trào lưu tư tưởng Ấn Độ cổ mà nhiều công trình nghiên
cứu Ấn Độ đã đề cập, Phật giáo còn có thêm những đặc điểm khác.
Một là: Không giống bất cứ tư tưởng nào đương thời, Phật giáo
công khai bày tỏ quan điểm của mình về một xã hội bình đẳng. Nói cách
nó cũng nhấn mạnh rằng, rút cục, đã tạo nhân ắt phải gặt quả. Vì vậy khi cá
nhân suy nghĩ, hành động phải chịu hậu quả của suy nghĩ, hành động của
chính mình. Trên thực tế giáo lý đó là sự khuyến khích cho hành động thiện
và ở mức độ nhất định, có khả năng làm giảm thiểu các hành động ác. Mặc
dù ở điểm này, giai cấp thống trị xã hội lợi dụng để biện minh cho thực tế
của người lao động là do họ tạo nên mà kẻ cầm quyền không hề phải chịu
trách nhiệm song nó cũng có thể thỏa mãn khát vọng hướng đến cái thiện,
rằng kẻ làm ác không thể trốn tránh hậu quả xấu.
Sáu là: Phật giáo cho rằng, vị trí xã hội của cá nhân không giúp tạo
ra giá trị cá nhân cao hay thấp. Ngược lại, dù ở vị trí nào, nếu "Chỉ ác mạc
tác, chúng thiện phụng hành" (Ngăn việc ác, làm việc thiện) thì cũng có giá
trị như nhau, tức là đều có khả năng đạt đến sự giải thoát. Tư tưởng này đã
dẫn đến một kết luận, rằng Phật không ở đâu xa mà Phật ở ngay trong con
người. Khi tâm lương thiện thì đó là tâm phật.
Bảy là: Phật giáo khẳng định: "Chư hành vô thường, chư pháp vô
ngã". Nói cách khác, vạn vật luôn biến đổi, vạn pháp không tồn tại độc lập
mà phụ thuộc vào tương quan, tương duyên cụ thể theo kiểu.
"Cái này có thì cái kia có
Cái này không thì cái kia không
Cái này sinh thì cái kia sinh
Cái này diệt thì cái kia diệt".
Một quan niệm như vậy là có tính biện chứng, đã chỉ ra được một
phương diện của sự thật. Tuy nhiên, sự cực đoan trong khi nhấn mạnh mặt
10
biến đổi mà không thấy hết vai trò của mặt ổn định của tạo vật đã đưa Phật
giáo rơi vào lập trường duy tâm, phủ nhận mọi sự tồn tại của sự vật và cho
đó là giả, ảo, huyền... Tuy nhiên, ở phương diện này, Phật giáo củng cố sự
phương Tây tìm đến đạo phật, xem nó như là một phương tiện giúp cân
bằng tâm lý là những minh chứng.
Có thể nói gọn lại, trên cơ sở giáo hóa cá nhân bằng cách chỉ ra bản
chất của sự tồn tại của họ, phật giáo vạch ra những con đường để cá nhân
tự lựa chọn nhằm đạt đến một sự an ủi nội tâm góp phần điều chỉnh hành vi
phù hợp với quan niệm của họ về cái thiện.
1.3. Sơ lược về sự truyền bá của Phật giáo ở châu Á
Sau khi Thích Ca tịch diệt, trải qua các lần kết tập kinh điển, Phật giáo
đã hoàn chỉnh với tư cách là một tôn giáo có đầy đủ giáo lý, giáo luật quy định
lễ nghi và tổ chức. Tại Ấn Độ, Phật giáo đạt đến cực thịnh vào triều đại vua
ADục (lên ngôi năm 268 TCN). Nói về vua ADục, ông là đời thứ 3 của vương
triều Khổng Tước (Mauryu Dynasty) khoảng thế kỷ thứ IV đến thế kỷ thứ II
TCN. Trải qua một thời kỳ chinh chiến, tàn sát giết hại nhiều sinh linh, ông đã
hối hận và quy y Phật. Dưới vương triều ADục, không chỉ phật giáo trong
nước hưng khởi mà ông còn cử nhiều đoàn truyền giáo ra nước ngoài. Phật
giáo đã vượt qua biên giới quốc gia, có mặt ở nhiều nước châu Á. Sách "Lịch
sử Phật giáo thế giới" viết: "Qua đây có thể thấy, dưới thời ADục vương,
Phật giáo đã trở thành một tôn giáo có tính thế giới. Còn việc giáo hóa của
Phật giáo đã nối liền châu Á, châu Phi, cả đến vùng giáp giới châu Âu..."(1).
Để trở thành một tôn giáo thế giới, trong quá trình phát triển của
mình. Phật giáo đã phải trải qua nhiều bước thăng trầm. Đầu tiên là cuộc
đấu tranh chống lại các tư tưởng truyền thống, của đạo Ba La môn. Khi
cuộc đấu tranh đó thắng lợi cũng là lúc trong nội bộ Phật giáo xuất hiện
nhiều tư tưởng không thống nhất. Những mâu thuẫn nảy sinh và kịch phát
nhất là khi Thích Ca tịch diệt. Nội bộ tăng đoàn Phật giáo chia thành hai
thế lực, thế lực bảo thủ và thế lực có xu hướng cách tân, là cơ sở để hình
thành một thời kỳ đặc biệt mà lịch sử phật giáo gọi là Phật giáo bộ phái
(Phái Thượng tọa và phái Đại chúng). Cũng qua cuộc đấu tranh nội bộ đã
dẫn đến quyết định phân chia khu vực truyền bá và ảnh hưởng của vua
(1)
Trung Quốc hay gần bằng diện tích lãnh thổ Việt Nam (329.000km 2). Phần
lớn các đảo có diện tích không lớn và chỉ có 4 đảo lớn là: Hokkaido,
Honshu, Shikoku, Kynshu.
Quần đảo Nhật Bản nằm ở Tây - Bắc lòng chảo Thái Bình Dương
với chiều dài tổng cộng 4.000 km. Phần lớn lãnh thổ Nhật Bản là núi
(chiếm 70% diện tích đất đai với nhiều ngọn núi cao. Trong số đó riêng dãy
13
Alpơ có nhiều núi cao trên 3.000km. Ngọn Fuji (Phú sĩ) cao 3.756m. Điểm
đặc biệt là, Nhật Bản có rất nhiều núi lửa hoạt động, hàng năm gây ra nhiều
tai họa cho con người và xã hội. Với điều kiện núi cao, bờ biển gập ghềnh
với những vách đá thẳng đứng đã tạo cho Nhật Bản một khung cảnh thiên
nhiên tuyệt đẹp.
Về mặt hình dạng của lãnh thổ, trông xa có người bảo có hình trăng
lưỡi liềm. Lại có người bảo có hình con tằm. Nhiều người tin rằng, Nhật
Bản muốn tồn tại phải dựa vào Trung Quốc vì hình dạng Trung Quốc giống
lá dâu. Tuy nhiên, đó chỉ là phỏng đoán nặng tính tư biện bởi thực tế lịch
sử đã chứng minh rằng, sức tự cường của người Nhật không xô đẩy họ vào
con đường lệ thuộc, ngược lại, Nhật là nước duy nhất ở Đông Bắc Á không
rơi vào họa thực dân thời kỳ thực dân hóa. Về phương diện văn hóa, mặc
dù Nhật tiếp nhận nhiều giá trị văn hóa ngoại lai song họ vẫn là quốc gia có
bản sắc văn hóa độc đáo.
Về phương diện nhân chủng học, người Nhật Bản hiện nay là kết
quả của sự cộng hợp nhiều dòng máu của nhiều tộc người khác nhau. Theo
kết quả của các nhà nhân chủng học, khảo cổ học, đất nước Nhật Bản có
vết chân người là vào cuối thời đại đồ đá mới (cách đây khoảng 3000 năm).
Xét về mặt địa hình, nhiều người đã phát hiện thấy sự liên kết chặt chẽ giữa
lục địa Trung Hoa và quần đảo Nhật Bản. Từ đó có suy luận rằng, gốc gác
thành các vị thần. Trong số các vị thần, Vũ Thiên Hoàng được tôn kính
nhất, Thiên Hoàng vì vậy là đại diện cho dòng dõi tôn quý, trở thành lãnh
tụ cả về tôn giáo và chính trị.
Những thần linh được người Nhật tôn kính thường được gọi là
Kami. Tín ngưỡng thờ Kami hay thần đạo trở thành tín ngưỡng bản địa có
lịch sử tồn tại xuyên suốt lịch sử Nhật Bản, chi phối mạnh mẽ các hình thức
tín ngưỡng khác. Vì lẽ ấy, về sau, khi Phật giáo được du nhập, ta thấy, lúc
đầu là sự phản ứng, sau nữa là sự kết hợp và tùy tương quan lực lượng cụ
thể; có thể có lúc Phật giáo có ưu thế song nhìn tổng quát thần đạo vẫn
(1)
Nhật Bản quá khứ và hiện tại, Nxb KHXH 1994, tr.16.
15
đóng vai trò trụ cột. Nguyên nhân của tình hình này chúng tôi sẽ trình bày
ở phần sau.
Trong bối cảnh lịch sử như vậy, Phật giáo được du nhập. Lúc đầu
nó được đưa vào Nhật Bản thông qua vai trò của những người Triều Tiên,
Trung Hoa vốn là những người buôn bán hoặc như các tù binh. Sau đó, nhờ
sự nâng đỡ của chính quyền, Phật giáo chính thức được thừa nhận và phát
triển khá nhanh.
2.1.2. Một số quan điểm khác nhau về sự du nhập của Phật giáo
vào Nhật Bản
Cho đến hiện nay cuộc tranh luận về những động cơ dẫn đến sự du
nhập, bám rễ của Phật giáo vào Nhật Bản vẫn chưa đi đến những thống
nhất cần thiết. Có thể thấy có hai loại quan điểm chính. Loại thứ nhất cho
rằng, sự du nhập Phật giáo vào Nhật Bản là do những động cơ từ phía
Một là: Có thể dân tộc Nhật lúc ấy mới đạt được một trình độ văn
hóa cho phép họ nhận thức ra và có đủ khả năng để tiếp nhận các nhân tố
ngoại lai một cách nhanh chóng và có ý thức.
Hai là: Mọi giá trị văn hóa, tự nó, đều có nhu cầu và khả năng lan
tỏa hay bành trướng, nhất là khi chúng đạt trình độ cao. Trong thời kỳ đó, ở
Trung Hoa, nhà Đường đã tạo ra một chế độ phong kiến đạt đến cực thịnh,
vì vậy khả năng lan tỏa của nó ra xung quanh dễ dàng hơn.
Những tiếp xúc, giao lưu văn hóa giữa Nhật Bản và Trung Hoa lúc
đầu thông qua vai trò của những thương gia, thợ thủ công hay tù binh dưới
dạng hành vi và nhân cách của các cá nhân đó hay qua những vật phẩm hưũ
hình có được trong các cuộc trao đổi. Dần dần những kiểu tiếp xúc đó trở
nên thứ yếu và thay bằng cuộc tiếp xúc tôn giáo. Điều cần thấy ở đây là, lúc
này Phật giáo cực thịnh ở Trung Hoa và Phật giáo trở thành công cụ
chuyển tải văn hóa quan thiết nhất từ đại lục sang Nhật Bản.
Sự xâm nhập của Phật giáo vào Nhật Bản cũng vậy, lúc đầu bằng
con đường dân gian. Những ảnh hưởng của Phật giáo lớn dần, gây chấn
động đến cả tầng lớp thống trị. Những chấn động đó đã tạo nên hai xu
hướng tư tưởng chủ yếu trong thị tộc Yamato đến mức gây nên những xung
đột giữa nhóm ủng hộ Phật giáo và phản đối Phật giáo. Sự thắng lợi của
(1)
Nhật Bản quá khứ và hiện tại, Nxb KHXH 1994, tr.23.
17
nhóm ủng hộ phật giáo diễn ra khoảng năm 587 đã mở đường cho sự tiếp
nhận nhanh hơn các tư tưởng của Trung Hoa nói chung và tín ngưỡng Phật
giáo nói riêng.. Nhờ sự nâng đỡ của chính quyền, nhiều phái đoàn người
Nhật được cử sang đại lục học hỏi tri thức và ở trong nước Phật giáo được
như những yêu cầu của cư dân Nhật Bản, của văn hóa Nhật Bản nhưng đến
lượt nó, nhiều khi lại trở thành những định hướng cho sự phát triển của văn
hóa Nhật Bản về sau. Vì lẽ ấy, mặc dù tồn tại trong những điều kiện của
một xã hội hiện đại nhưng văn hóa Nhật Bản vẫn giữ được những yếu tố
như nhân ái, mềm mại của đạo Phật, cứng nhắc đến tàn nhẫn của võ sĩ đạo,
thực dụng như khổng giáo và mộng mơ siêu thoát của thiền, tư tưởng trọng
lợi ích vật chất và yêu cái đẹp da diết, một tư duy khoan hòa nhưng lại chứa
đầy những duy lý v.v...
Nghiên cứu quá trình du nhập của Phật giáo vào Nhật Bản có thể
rút ra một số đặc điểm chủ yếu như sau:
1. So với các nước trong khu vực, thời điểm du nhập Phật giáo vào
Nhật Bản có muộn hơn. Theo các nguồn sử liệu còn lưu lại, khoảng thế kỷ
VI Phật giáo đã từng có mặt ở Nhật Bản. Việc du nhập Phật giáo vào Nhật
Bản chủ yếu từ hai con đường: Trung Quốc và Triều Tiên (Phật giáo có
mặt ở Triều Tiên sớm hơn ở Nhật Bản chừng 150 năm). Cuốn "Lịch sử
Phật giáo thế giới" (tập I)(1) có dẫn lại sách "Phù Tang lược ký" cho biết:
"Tháng 2 năm thứ 16 sau khi Kế Thể Thiên Hoàng tức vị (năm thứ 3 liên
hiệu Phổ Tông Vũ Đế nhà Lương, năm 522) một người Hán là Tư Mã Đạt
đến Nhật Bản làm nhà cỏ ở bản Điền Nguyên, quận Cao Thị nước Đại Hòa,
bầy tượng phật lễ bái"(1). Cũng theo nguồn sử liệu trên thì vào tháng 10 năm
522 (năm thứ 13 đời Khâm Minh, Thiên Hoàng) có Thánh Minh Vương ở
nước Bách Tế trên bán đảo Triều Tiên đã sai Cơ Thị Đạt dẫn đầu một đoàn
người đến tặng một pho tượng Phật Thích Ca bằng đồng và có cờ phướn,
kinh luân"(2). Giới nghiên cứu ở Nhật Bản quen gọi hai con đường du nhập
Phật giáo: Tư truyền và Công truyền để phân biệt Phật giáo được dân gian
truyền vào và chính phủ truyền vào.
Lịch sử Phật giáo thế giới, Tập I, Nxb Hà Nội 1996.
Lịch sử Phật giáo thế giới, Tập I, Nxb Hà Nội 1996, tr.493.
(2)
Lịch sử Phật giáo thế giới, Tập I, SĐD, 1996.
muốn bắt rễ phải tự biến đổi mà nhiều biến đổi đã trở nên khác lạ so với
Phật giáo chính gốc. Trước hết, muốn bắt rễ, Phật giáo không thể du nhập
bằng hệ thống lý luận trừu tượng mà phải là dưới hình thức nào đó của ma
thuật, về những lời hứa sẽ bảo vệ toàn bộ xứ sở về sự sẵn sàng cứu giúp
của các Bồ tát. Do đó một điều tự nhiên là trong hai thế kỷ tôn giáo mới
này được hiểu một cách đơn thuần như luôn luôn tìm kiếm, mong đợi từ
những vị thần trong shin tô"(2). Cũng vì tính chất đó mà triều đình nhanh
chóng chấp nhận Phật giáo vì nó mang lại mùa màng tốt tươi, vạn vật sinh
sôi và khuyến khích cho sự giàu có của đất nước. Để đi vào lòng người
thuộc mọi đối tượng, Phật giáo ở Nhật Bản luôn chủ trương hai khuynh
hướng. Đối với dân chúng chiếm số đông, nó thường xuyên cung cấp
những dịch vụ thiết thân như chữa bệnh hay là tìm ra đối lứa hợp nhau...
hoặc chăm sóc người chết, vỗ về người sống bằng các nghi lễ cầu hồn
nhằm tạo sự an tâm về sự quấy rối của linh hồn khi có người chết. Khuynh
(2)
Bách khoa toàn thư Nhật Bản, H. 1995, tr.191.
22
hưóng thứ hai là: phục vụ những người coi thế giới này là ảo và chất đầy sự
đau khổ. Với loại người này Phật giáo cung cấp cho họ phương tiện để làm
thay đổi nhận thức - tập Thiền. Có thể nói: "Vì tập tục thờ thần cũ, cho nên
Phật giáo Nhật Bản thời kỳ đầu đặc biệt coi trọng việc cầu mong công đức.
Các sử gia gọi đây là Phật giáo cầu mong" (1). "Họ không tha thiết tìm hiểu
kinh nghĩa mà chỉ mong mượn chú nguyện để kéo dài tuổi thọ, trừ tai, chữa
bệnh, cầu mưa, giữ nước. Họ vẫn lễ Phật với tâm lý cầu thần, cầu xin đời
sống hiện thực được bình yên như ý"(2).
Qua đây có thể thấy rằng Phật giáo ở Nhật Bản rất đậm tính thực
còn là lãnh tụ về tôn giáo. Nơi ở của thiên hoàng cũng là nơi ở của thần
linh và chỉ sau năm 1945 khi nước Nhật bại trận thì thiên hoàng mới trở lại
tư cách như con người.
Đề cập đến một vài đặc điểm của Phật giáo ở Nhật Bản buổi đầu du
nhập như trên, chúng tôi muốn so sánh với quá trình du nhập của Phật giáo
vào Việt Nam. Điều dễ nhận thấy là, cũng xuất phát từ Phật giáo, song khi
vào Nhật Bản, vào Việt Nam... thì đã có những khác biệt. Nếu như ở Nhật
Bản, Phật giáo được tiếp nhận để phục vụ cho lợi ích thực dụng của người
dân, phục vụ cho sự thống nhất quốc gia và được chấp nhận từ phía thế lực
cầm quyền thì ở Việt Nam Phật giáo chủ yếu được tiếp nhận bằng con
đường dân gian. Vì lẽ ấy, tính nhập thế của Phật giáo ở Nhật Bản lớn hơn
tính nhập thế của Phật giáo ở Việt Nam. Người Nhật Bản tiếp nhận Phật
giáo không chỉ nhằm thỏa mãn nhu cầu tinh thần mà còn tìm được sự thỏa
mãn những nhu cầu thực tế như chữa bệnh, học hành hay chí ít cũng là tìm
được sự phù hợp cho hạnh phúc đôi lứa...
Phật giáo ở Nhật Bản tiếp nhận trên nền tàng Thần đạo - một tín
ngưỡng không chỉ có tính thực dụng cho người dân mà còn có tính thực dụng
cho kẻ cầm quyền nên có sự hỗn dung Thần - Phật mang yếu tố trội là Thần.
Người Việt Nam chấp nhận Phật giáo trên nền tảng tín ngưỡng thờ
cúng tổ tiên (tất nhiên có cả thờ thần tự nhiên) vì vậy tính quyền lực ở
phương diện chính trị có phần ít đậm đặc. Vì vậy người Nhật rất trọng chữ
"Trung", còn Việt Nam lại thờ chữ "Hiếu". Từ suy nghĩ như vậy, chúng tôi
thấy rất đồng tình với tác giả bài "Nghĩ về cấu trúc văn hóa Nhật Bản";
"Quá trình nhập ngoại của người Nhật bao giờ cũng trải qua hai giai đoạn:
sau một thời kỳ làm thợ (bắt chước) là thời kỳ làm thầy (cải tiến). Sự phát
triển rực rỡ của Thần học Nhật Bản là một minh chứng. Bởi vậy, càng tiếp
24
thu những yếu tố ngoại sinh, thì bản sắc văn hóa Nhật càng óng chuốt và