MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Bác Hồ Chí Minh – Người cha già của dân tộc, vị lãnh tụ vĩ đại của
Đảng và nhân dân ta, người chiến sĩ cộng sản quốc tế lỗi lạc, danh nhân
văn hoá thế giới. Trước khi qua đời, Người đã để lại cho Đảng và nhân
dân ta di sản lý luận vô cùng quý giá, thật sự là nguồn trí tuệ to lớn soi
sáng công cuộc đổi mới sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta,
vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Tư tưởng Hồ Chí Minh là hệ thống quan điểm toàn diện sâu sắc về
những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận
dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể
nước ta, kế thừa và phát huy các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc,
tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế được hình thành rất sớm - từ đầu
những năm 20 của thế kỷ XX. Mặc dù không có một tác phẩm riêng biệt
nào tập trung nói về tư tưởng kinh tế, nhưng thông qua các bài viết, phát
biểu, nói chuyện của Người đã thể hiện nhiều luận điểm sâu sắc về kinh
tế, đặc biệt là về phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn ở nước ta.
Theo Hồ Chí Minh, nông nghiệp luôn có một vị trí hết sức đặc biệt
đối với xã hội. Phát triển nông nghiệp là nhân tố đầu tiên, là cội nguồn
của mọi vấn đề xã hội. Sau khi giành được chính quyền trong Cách mạng
tháng Tám, nhân dân ta bắt tay vào xây dựng xã hội mới trong điều kiện
đất nước nghèo nàn, lạc hậu phải tiến hành cuộc kháng chiến chống thực
dân Pháp cực kỳ gian khổ. Mặc dù phải tập trung chỉ đạo cuộc chiến đấu
ngoài tiền tuyến, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn đặc biệt chú ý đến xây dựng
và phát triển nông nghiệp, nông thôn. Người đã khẳng định: “Việt Nam là
nước sống về nông nghiệp, nền kinh tế của ta lấy canh nông làm gốc.
Trong công cuộc xây dựng nước nhà, Chính phủ trong mong vào nông
1
ngành và các nhà khoa học trong và ngoài nước. Liên quan đến nội dung
đề tài nghiên cứu hiện nay đã có một số công trình chủ yếu được công bố
như :
- “Bước đầu tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế” của TS
Phạm Ngọc Anh, Nxb CTQG, Hà Nội, 2003.
- “Tư tưởng kinh tế Hồ Chí Minh với xây dựng nền kinh tế định
hướng XHCN ở Việt Nam hiện nay” của TS Nguyễn Huy Oánh, Nxb
CTQG, Hà Nội năm 2004.
- "Phát triển nông nghiệp nông thôn trong giai đoạn công nghiệp
hoá và hiện đại hoá ở Việt Nam" Nguyễn Văn Bích - Chu Tiến Quang,
Nxb Nông nghiệp năm 1999.
- "Nông nghiệp các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ trong những
năm đổi mới" của TS Trương Minh Dục, Nxb Đà Nẵng năm 2006.
-“Tư tưởng Hồ Chí Minh về quan hệ giữa nông nghiệp với công
nghiệp” của Hà Lệ Hằng đăng trên Tạp chí Sinh hoạt Lý luận, số 2 năm
2004.
→( Nội dung chủ yếu của các đề tài trên là: nghiên cứu một số nội
dung chủ yếu của tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng và phát triển kinh
tế,về vấn đề phát triển nông nghiệp, nông thôn trong thời kỳ quá độ ở
Việt Nam,và khảo sát sự quán triệt, vận dụng, phát triển tư tưởng đó giai
đoạn từ 1986 đến nay.)
Liên quan đến nội dung đề tài khóa luận ở khoa lý luận chính trị
trường Đại học Khoa Học hiện nay chưa có một đề tài nào nghiên cứu về
“Hồ Chí Minh với vấn đề phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn
và vận dụng tư tưởng của Người vào phát triển nền kinh tế nông
nghiệp, nông thôn ở huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh trong giai đoạn
2000-2010”
Những công trình trên đây có giá trị to lớn về lý luận, đó là sự mở
- Phân tích, đánh giá quá trình vận dụng những tư tưởng chủ đạo của
Hồ Chí Minh về phát triển sản xuất nông nghiệp ở huyện Hương Sơn,
tỉnh Hà Tĩnh nói riêng, khẳng định những thành tựu đã đạt được, chỉ rõ
4
hạn chế và nguyên nhân của những tồn tại yếu kém trong việc vận dụng
những tư tưởng đó ở huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh trong thời gian
qua.
- Đề xuất những phương hướng, giải pháp chủ yếu để tiếp tục quán
triệt sâu sắc và vận dụng tốt tư tưởng Hồ Chí Minh vào thúc đẩy sản xuất
nông nghiệp của huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh phát triển, chuyển dịch
mạnh mẽ theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ của một khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành triết
học, khóa luận tập trung nghiên cứu những tư tưởng chủ đạo của Chủ tịch
Hồ Chí Minh về nông nghiệp và tình hình vận dụng những tư tưởng đó
vào thực tiễn sản xuất nông nghiệp ở huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh
trong thời gian từ 2000 – 2010
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Khóa luận được xây dựng dựa vào phương pháp duy vật biện chứng
và duy vật lịch sử, chủ yếu là sử dụng phương pháp trừu tượng hoá khoa
học, phương pháp lôgic kết hợp với lịch sử, phân tích, tổng hợp và thống
kê đối chiếu thực tế và kết hợp với các phương pháp nghiên cứu khác.
Nguồn tài liệu chủ yếu được sử dụng trong khóa luận là các tác
phẩm kinh điển Mác, Ăngghen, Lênin và Hồ Chí Minh, văn kiện của
Đảng, các tác phẩm tiêu biểu các đồng chí lãnh đạo của Đảng, Nhà nước,
các tác phẩm và tài liệu có liên quan của các cơ quan, ban ngành.
6. Đóng góp của khóa luận
Khóa luận đã góp phần luận giải làm sáng tỏ, sâu sắc những tư
dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể
nước ta, kế thừa và phát huy các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc,
tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế được hình thành rất sớm - từ đầu
những năm 20 của thế kỷ XX. Mặc dù không có một tác phẩm riêng biệt
nào tập trung nói về tư tưởng kinh tế, nhưng thông qua các bài viết, phát
6
biểu, nói chuyện của Người đã thể hiện nhiều luận điểm sâu sắc về kinh
tế, đặc biệt là về phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn ở nước ta.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển kinh tế nông nghiệp, nông
thôn là sự cụ thể hóa, Việt Nam hóa quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin về vấn đề nông dân, nông nghiệp, nông thôn.
Thấm nhuần những quan điểm trên của chủ nghĩa Mác - Lênin,
trong “Thư gửi điền chủ nông gia Việt Nam”, Hồ Chí Minh khẳng định:
“Việt Nam là nước sống về nông nghiệp, nền kinh tế của ta lấy canh
nông làm gốc. Trong công cuộc xây dựng nước nhà, Chính phủ trông
mong vào nông dân, trông cậy vào nông nghiệp một phần lớn. Nông dân
ta giàu thì nước ta giàu, nông nghiệp ta thịnh thì nước ta thịnh”.
1.1.2 Cơ sở thực tiễn
Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển kinh tế nông nghiệp, nông
thôn bắt nguồn từ thực tiễn hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước
của dân tộc ta.
1.2 Vị trí, vai trò và tầm quan trọng của việc phát triển kinh tế
nông nghiệp, nông thôn.
Nông nghiệp, nông thôn là khu vực đặc biệt của nền kinh tế. Sự
phát triển của khu vực này có vai trò quan trọng trong việc thực hiện
thành công công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo định hướng xã
hội chủ nghĩa. Vậy nông nghiệp, nông thôn là gì? Chúng ta có thể hiểu
một cách khái quát:
vấn đề lương thực, nâng cao đời sống vật chất, mà còn liên quan, tác
động sâu sắc tới đời sống tinh thần, là gốc rễ của chủ nghĩa Mác - Lênin.
Trên cơ sở nhận thức về nguồn cung cấp lương thực và nguyên liệu,
một nguồn xuất khẩu quan trọng, Hồ Chí Minh xác định nông nghiệp là một
mặt trận vừa giải quyết “thực túc binh cường” vừa là vấn đề chính trị, quân
sự, văn hóa.
Hồ Chí Minh có một tầm nhìn xa về công nghiệp hóa nông nghiệp
nông thôn khi lý giải mối quan hệ giữa nông nghiệp với công nghiệp.
Người nói: “Công nghiệp và nông nghiệp phải giúp đỡ lẫn nhau và cùng
8
nhau phát triển, như hai chân đi khỏe và đi đều thì tiến bước sẽ nhanh và
nhanh chóng đi đến mục đích.
Hồ Chí Minh chỉ rõ muốn phát triển nông nghiệp phải xây dựng
nông thôn mới.
Sau khi giành được thắng lợi trong thời kỳ khôi phục kinh tế (1955 1957), Đảng ta và Bác Hồ chủ trương cải tạo và phát triển nông nghiệp
theo hướng xã hội chủ nghĩa, coi đây là khâu chính để tạo điều kiện cho
công nghiệp hóa; đồng thời cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với các ngành
kinh tế khác. Để thực hiện chủ trương đó trong lĩnh vực nông nghiệp, Hồ
Chí Minh quan tâm tới việc xây dựng nông thôn mới với một số biện
pháp gắn bó chặt chẽ với nhau.
Thứ nhất, “Điều quan trọng bậc nhất hiện nay để phát triển mạnh
nông nghiệp là chỉnh đốn các ban quản trị hợp tác xã cho thật tốt”
[28;544].
Thứ hai, cần phải ra sức củng cố chi bộ ở nông thôn. Chi bộ, ban
quản trị, xã viên có mối quan hệ mật thiết với nhau, tác động lẫn nhau.
Thứ ba, người nông dân, xã viên phải ý thức được mình là người chủ
nước nhà, người chủ hợp tác xã. Đã là người chủ thì phải biết hưởng
những quyền lợi đáng được hưởng và phải làm tròn bổn phận, nâng cao
trào sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp năm 1959, Người yêu cầu phải phát
triển mạnh chăn nuôi để có thêm thịt ăn, thêm sức kéo, thêm phân bón.
Thứ ba, có ngành lâm nghiệp phát triển. Hồ Chí Minh không chỉ chú
ý đến việc trồng cây lấy gỗ ở đồng bằng, mà còn luôn nhắc nhở bà con các
dân tộc miền núi trồng rừng và bảo vệ rừng, bởi vì cây và rừng là nguồn lợi
lớn [29, 321].
Thứ tư, có ngành thuỷ, hải sản phát triển. Nước ta có tiềm năng thế
mạnh về biển, do đó Người động viên nhân dân cần phải ra sức đẩy mạnh
nghề đánh cá, nghề làm muối, nuôi dưỡng, bảo vệ và phát triển mạnh các
nguồn lợi hải sản.
10
Thứ năm, đặc biệt quan tâm đến việc phát triển nghề phụ gia
đình. Theo Người, miếng vườn của mỗi gia đình xã viên và các loại nghề
phụ là nguồn lợi để tăng thu nhập, do đó Người yêu cầu cần phải phát
triển thích đáng kinh tế phụ gia đình của xã viên.
Thứ sáu, phát triển nền nông nghiệp theo mô hình sản xuất hàng
hoá, mạnh mẽ và vững chắc.
1.3.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về đẩy mạnh công tác thuỷ lợi, cải
tiến nông cụ, ứng dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật, thực hiện công
nghiệp hoá để phát triển lực lượng sản xuất trong nông nghiệp
Hồ Chí Minh cho rằng muốn đưa nông nghiệp lên sản xuất lớn,
trước hết phải ra sức làm tốt công tác thuỷ lợi, phòng chống thiên tai hạn
hán, lụt bão.
Thứ hai, là khâu giống. Chọn được giống tốt là khâu quan trọng
trong sản xuất nông nghiệp. Có giống tốt mới có điều kiện để nâng cao
được sản lượng, chất lượng và năng suất lao động trong nông nghiệp.
Trên cơ sở đó mới có thể phát triển được một nền nông nghiệp bền vững.
muốn đưa nông nghiệp lên sản xuất lớn còn phải xã hội hoá nông nghiệp.
Chương 2
VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
VÀO PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN
Ở HUYỆN HƯƠNG SƠN, TỈNH HÀ TĨNH GIAI ĐOẠN 2000 - 2010
2.1 Khái quát đặc điểm huyện Hương Sơn.
Huyện Hương Sơn nằm ở phía Tây tỉnh Hà Tĩnh cách trung tâm
hành chính tỉnh Hà Tĩnh 65 Km, phía Đông giáp huyện Đức Thọ, phía
Nam giáp huyện Vũ Quang, phía Bắc giáp hai huyện Thanh Chương và
12
Nam Đàn của Nghệ An, phía Tây giáp nước CHDCND Lào với đường
biên giới 56 Km.
Diện tích tự nhiên 110.414 ha, với tổng dân số 117.578 người (tính
đến tháng 12/2009), có 32 xã thị trấn, 63 tổ chức cơ sở Đảng. Hương Sơn
là một huyện trung du miền núi, là một huyện thuần nông của tĩnh Hà
Tĩnh nên về kinh tế chủ yếu là phát triển kinh tế nông nghiệp.
2.2 Thực trạng việc phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn ở
huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh từ 2000 - 2010.
2.2.1 Những thành tựu và hạn chế (từ 2000 – 2010).
Trong 10 năm qua, tình hình kinh tế nông nghiệp tăng trưởng khá,
cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, kết cấu hạ tầng được tăng cường,
đời sống nhân dân được cải thiện.
Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) bình quân 11,5 %/năm. Trong đó
khu vực kinh tế nông nghiệp và từng lĩnh vực có bước tăng trưởng khá,
cụ thể:
Nông nghiệp tiếp tục phát triển với nhịp độ khá cao theo hướng tăng
cường. Quy hoạch, quản lý quy hoạch về sử dụng đất được chú trọng.
Các hoạt động khai thác tài nguyên trái phép, không đủ điều kiện về bảo
vệ tài nguyên môi trường và an toàn lao động được phát hiện, ngăn chặn.
Công tác thu hồi đất, các chương trình dự án nông – lâm – ngư nghiệp
được đầu tư đã và đang phát huy hiệu quả.
Các chương trình xoá đói giảm nghèo, giải quyết việc làm, xuất
khẩu lao động, xây dựng nông thôn mới... đã mang lại hiệu quả thiết thực.
Năm 2000 tỷ lệ hộ nghèo chiếm 23,5% đến nay tỷ lệ hộ nghèo còn
13,03%, giảm 10,47%.
* Bên cạnh đó vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế cần phải khắc phục:
Là địa phương có diện tích đất đai gò đồi nhiều, lao động dồi dào, có
điều kiện phát triển trồng rừng, trồng chè trồng cây ăn quả, phát triển
chăn nuôi đại gia súc nhưng chưa được khai thác tốt, chưa tạo được nhiều
sản phẩm hàng hóa mà chủ yếu là sản xuất quy mô nhỏ, tự cung, tự cấp.
14
Công tác chuyển đổi ruộng, đất nông nghiệp giai đoạn 2 chưa đạt
yêu cầu, kế hoạch đề ra. Công tác quản lý, bảo vệ và phát triển tài nguyên
rừng còn nhiều sơ hở; nạn cháy rừng (nhất là vào các năm 2007 và 2010
hàng trăm ha rừng đã nằm trong biển lửa), khai thác, chế biến, vận
chuyển lâm sản trái phép vẫn còn xảy ra.
Kinh tế nông nghiệp chưa theo kịp yêu cầu công nghiệp hoá, hiện
đại hoá nông nghiệp và nông thôn. Các chính sách về tiêu thụ sản phẩm
nông nghiệp chưa được quán triệt và triển khai sâu rộng.... Do đó, lao
động nông nghiệp có năng suất và thu nhập còn thấp, đời sống người dân
ở nông thôn còn nhiều khó khăn. Hộ nghèo chiếm tỷ lệ khá cao.
2.2.2 Nguyên nhân của những thành tựu và hạn chế đó.
- Nguyên nhân của những thành tựu:
Cùng với sự phát triển chung của cả nước trong thời kỳ công nghiệp
tăng cao; mặt trái của cơ chế thị trường, các tai nạn, tệ nạn xã hội thường
xuyên tác động vào nhiều mặt của đời sống xã hội; vị trí địa lý nằm cách
xa các đô thị và trung tâm tỉnh lỵ, đã ảnh hưởng lớn đến việc thu hút đầu
tư phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
Các cơ sở dịch vụ về giống, kỹ thuật, kết cấu hạ tầng nông thôn, hệ
thống kênh mương phục vụ cho thủy lợi chưa đáp ứng nhu cầu của người
dân. Công tác đầu tư, chỉ đạo chưa được quan tâm đúng mức.Cấp ủy,
chính quyền các cấp chưa có định hướng, chính sách và những giải pháp,
khuyến khích phát triển nông nghiệp.
Nhận thức lĩnh hội tư tưởng Chủ tịch Hồ Chí Minh và đường lối của
Đảng ta về phát triển nông nghiệp toàn diện trong các cấp uỷ đảng, chính
quyền, mặt trận, cơ quan, ban ngành, đoàn thể và nhân dân trên địa bàn
huyện còn nhiều hạn chế, thiếu sót. Một số cơ quan, ban ngành và cán bộ,
đảng viên chưa hiểu rõ hết tầm quan trọng của việc phát triển nông
nghiệp toàn diện đối với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất
nước.Công tác lãnh đạo, chỉ đạo điều hành của các cấp ủy, chính quyền
chưa đồng bộ; có lúc, có nơi còn thụ động, né tránh hoặc thiếu nhất quán.
Việc cụ thể hóa một số chủ trương, nghị quyết và tổ chức triển khai thực
16
hiện kém hiệu quả. Tính chủ động và sáng tạo trong việc vận dụng các
chủ trương, nghị quyết của cấp ủy còn nhiều hạn chế
2.3 Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào phát triển kinh tế nông
nghiệp, nông thôn ở Hương Sơn, Hà Tĩnh.
2.3.1 Phát triển nền nông nghiệp toàn diện, tạo
bước chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu kinh tế nông
nghiệp, nông thôn theo hướng sản xuất hàng hóa
bền vững.
Trong quá trình phát triển đất nước, Đảng và Nhà nước ta hết sức
từng bước đưa chăn nuôi tách khỏi khu dân cư, bảo đảm an toàn dịch
bệnh và vệ sinh môi trường.
Về lâm nghiệp: Tập trung chăm sóc, bảo vệ rừng hiện có và đẩy
mạnh trồng rừng để làm giàu vốn rừng.
Về thủy sản: Phát triển nuôi trồng thủy sản theo hướng công nghiệp,
bán công nghiệp, mở rộng mô hình kết hợp lúa – cá; xây dựng đồng bộ
kết cấu hạ tầng vùng nuôi; tăng cường ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, đưa
giống mới có năng suất, chất lượng vào sản xuất, áp dụng kỹ thuật thâm
canh tiên tiến để nâng cao hiệu quả nuôi trồng thủy sản.
Về phát triển nông thôn: Tập trung khôi phục và phát triển hạ tầng
nông thôn sau trận lũ quét năm 2002. Quan tâm công tác quy hoạch xây
dựng nông thôn mới và công tác chuyển đổi đất nông nghiệp giai đoạn
hai gắn với chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp. Thực hiện tốt liên
kết công – nông nghiệp – dịch vụ.
2.3.2 Phát triển nền nông nghiệp đi đôi với xóa đói giảm nghèo,
cải thiện đời sống, nâng cao dân trí, xây dựng nông thôn mới.
Phát triển nền nông nghiệp đi đôi với xóa đói giảm nghèo, cải thiện
đời sống, nâng cao dân trí, xây dựng nông thôn mới là nội dung được
nhân dân Hương Sơn thực hiện trong những năm qua. Vận dụng sáng tạo
tư tưởng Hồ Chí Minh và quán triệt sâu sắc các chủ trương, chính sách
nghị quyết của Đảng và Nhà nước ta, Đảng bộ và nhân dân Hương Sơn
18
đã thu được những thành quả đáng ghi nhận trong công tác xóa đói giảm
nghèo góp phần nâng cao đời sống cho nhân dân.
Thực hiện xoá đói giảm nghèo trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp
hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn là vấn đề có ý nghĩa quyết định,
do đó Hương Sơn đã thực hiện rà soát, bổ sung, điều chỉnh quy hoạch xây
hóa đẩy mạnh việc ứng dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật, chuyển giao
công nghệ.
Hương Sơn xác định: “Hướng phát triển của khoa học và công nghệ
là gắn nghiên cứu với sản xuất, chú trọng ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ
thuật, công nghệ mới vào sản xuất và đời sống” [11;18]. Đặc biệt trong
giai đoạn 2005 - 2010, đã triển khai 10 đề tài nghiên cứu, ứng dụng thành
tựu khoa học - công nghệ với số vốn đầu tư gần 3 tỷ đồng; trong đó, lĩnh
vực nông, lâm nghiệp có 7 đề tài với vốn đầu tư gần 2,5 tỷ đồng và lĩnh
vực thuỷ sản có 3 đề tài với vốn đầu tư hơn 500 triệu đồng. Hoạt động
khoa học, công nghệ đã tập trung phục vụ nhiệm vụ trọng tâm của ngành
và mang lại hiệu quả thực tiễn cao như: các đề tài về lai tạo, tuyển chọn
giống cây trồng, giống gia súc; xây dựng các mô hình phát triển kinh tế
nông trại, gia trại, nuôi hươu, bò lai sind, các loại rau sạch, ứng dụng các
chế phẩm sinh học trong nuôi trồng thuỷ sản; phòng trừ sâu hại, bảo vệ
thực vật;... Khoa học, công nghệ đã góp phần đáng kể vào sự tăng trưởng,
phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn nói riêng và thúc đẩy quá trình
công nghiệp hoá, hiện đại hoá của huyện.
2.4 Giải pháp định hướng chiến lược phát triển kinh tế nông
nghiệp, nông thôn ở Hương Sơn, Hà Tĩnh trong thời gian tới.
2.4.1 Vấn đề phát triển nguồn lực con người .
Đánh giá tầm quan trọng của giai cấp nông dân, đ/c Phạm Thế
Duyệt ; “Nói đến lịch sử hàng ngàn năm của giai cấp nông dân Việt Nam
trong bất cứ giai đoạn nào của lịch sử cũng phải nói đến và khẳng định vị
trí quyết định, vai trò to lớn của nông dân Việt Nam. Đó là lực lượng đã
khai sơn phá thạch để lập nên nhà nước Văn Lang đầu tiên của người
Việt Cổ. Đó là những người đã vật lộn với thiên nhiên từng bước cải tạo
20
nó và sáng lập nền văn minh nông nghiệp lúa nước rực rỡ hàng ngàn năm
sản xuất giỏi đưa đi đào tạo có bài bản, cần thu hút những sinh viên tốt
nghiệp ở các trường Đại học về công tác tại địa phương, có chính sách đãi
ngộ xứng đáng và tạo môi trường công tác thuận lợi để khuyến khích
những người đã được đào tạo, có trình độ cao về làm việc lâu dài trong
lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn. Chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng
viên ở nông thôn. Quy hoạch đào tạo đồng bộ các loại cán bộ cho sự
nghiệp phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn. Chú trọng đào tạo đội
ngũ cán bộ khuyến nông, cán bộ kế toán các doanh nghiệp, mà đặc biệt là
chủ nhiệm và kế toán trong các hợp tác xã.
Trên cơ sở quy hoạch phát triển sản xuất nông nghiệp, kinh tế nông
thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, cần phải đẩy mạnh việc
phân công lại lao động nông thôn theo hướng tăng tỉ lệ lao động công
nghiệp, dịch vụ nông thôn và giảm tỉ lệ lao động nông nghiệp xuống dưới
50% vào năm 2015.
Tăng nguồn vốn ngân sách đầu tư nâng cấp, hiện đại hoá các cơ sở
dạy nghề trong hệ thống giáo dục công lập; đồng thời đẩy mạnh công tác
xã hội hoá giáo dục, khuyến khích các thành phần kinh tế, các doanh
nghiệp, công ty có điều kiện tổ chức các hình thức đào tạo, dạy nghề tại
chỗ cho người lao động để giảm bớt chi phí đào tạo, tăng nhanh tỷ lệ lao
động qua đào tạo lên trên 30% vào năm 2015, đáp ứng yêu cầu của sự
nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn.
Nhà nước cần có cơ chế, chính sách hỗ trợ, khuyến khích mạnh các
thành phần kinh tế đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn, tận dụng khai thác
tiềm năng thế mạnh về đất đai, tài nguyên và lao động tại chỗ để khai
thêm đất mới, trồng rừng, trồng cây công nghiệp, cây ăn quả, phát triển
chăn nuôi, nuôi trồng và đánh bắt thủy sản, phát triển ngành nghề tiểu thủ
công nghiệp và dịch vụ,... tạo thêm nhiều việc làm mới, nâng cao thu
nhập, ổn định và cải thiện đời sống cho người lao động ở nông thôn.
2.4.2 Giải pháp và định hướng.
giữ vững chuẩn quốc gia về y tế. Phấn đấu đưa Thị trấn Phố Châu từng
23
bước trở thành đô thị loại 4 vào năm 2020 và xây dựng 20% xã đạt tiêu
chí nông thôn mới.
Tăng cường công tác quy hoạch, tạo cơ sở cho phát triển kinh tế
nông nghiệp nông thôn, tập trung xây dựng quy hoạch tổng thể về phát
triển kinh tế - xã hội của huyện bảo đảm tính bền vững và đi trước một
bước. Chỉ đạo 100% xã, thị trấn có quy hoạch nông thôn mới. Phối hợp
hoàn thành quy hoạch chi tiết các khu chức năng trong Khu kinh tế cửa
khẩu quốc tế Cầu Treo.
Phát triển sản xuất nông nghiệp toàn diện theo hướng hiện đại, đồng
thời phát triển mạnh công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ ở nông
thôn.
Tiếp tục tăng cường đầu tư kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội. Chăm lo
phát triển y tế, làm tốt công tác chăm sóc sức khỏe cho nhân dân. Phát
triển mạnh mẽ hệ thống dịch vụ y tế.
Nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân nông thôn; tập
trung giải quyết các vấn đề phát sinh, vướng mắc, góp phần giữ vững ổn
định chính trị - xã hội và xây dựng nông thôn mới. Nâng cao kiến thức và
đào tạo nghề gắn với giải quyết việc làm cho lao động nông thôn, coi đây
là mũi đột phá trong giai đoạn tới.
Đẩy mạnh nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng và tăng cường hợp tác
quốc tế về khoa học – công nghệ. Mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hóa
nông, lâm, thủy sản cho nông dân. Khuyến khích các thành phần kinh tế
đầu tư phát triển nông nghiệp nông thôn.
Giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội. Tăng cường sự
lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, phát huy vai trò của Mặt trận
bản đã chuyển sang sản xuất hàng hoá, tốc độ tăng trưởng khá cao và liên
tục trong nhiều năm, đời sống nhân dân ổn định và được cải thiện rõ rệt.
Bên cạnh đó, trong quá trình đổi mới chúng ta vẫn còn phạm
một số khuyết điểm và sai lầm nghiêm trọng vì chưa nhận thức đầy đủ,
sâu sắc và vận dụng tốt những tư tưởng chủ đạo nói trên của Chủ tịch Hồ
Chí Minh vào thực tiễn để thúc đẩy sản xuất nông nghiệp như lời dạy của
25