Đề tài tiểu luận tại sao hồ chí minh chủ trương cơ cấu kinh tế hàng hóa nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội - Pdf 23

TIỂU LUẬN:

Tại sao Hồ Chí Minh chủ trương cơ cấu kinh
tế hàng hóa nhiều thành phần trong thời kỳ
quá độ lên chủ nghĩa xã hội

Lí luận của luận điểm
Để nghiên cứu vấn đề “Tại sao Hồ Chí Minh chủ trương cơ cấu kinh tế hàng
hóa nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội”
1: Chúng ta cần xuất phát từ quan điểm của chủ nghĩa Mac- Lênin về mối quan
hệ biện chứng giữa quan hệ sản xuất và lưc lượng sản xuất:
1.1: Khái niệm về lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất
Lực lượng sản xuất là khái niệm dùng để chỉ việc con người chinh phục giới tự
nhiên bằng tất cả sức mạnh hiện thực của mình trong quá trình thực hiện sự sản xuất xã
hội, là cái nói lên năng lực của con người trong quá trình sản xuất tạo ra của cải xã hội .
Lực lượng sản xuất được tạo thành do sư kết hợp giữa lao động với tư liệu sản xuất
mà trước hết là với công cụ lao động, cũng như khoa học .
Quan hệ sản xuất là quan hệ giữa người với người trong sản xuất và tái sản xuất,
bao gồm : các quan hệ sở hửu đối với tư liệu sản xuất, các quan hệ trong tổ chức quản lý

Tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất phản ánh khả năng chinh phục giới tự
nhiên của con người : khả năng này chỉ đạt tới đỉnh cao khi quan hệ sản xuất phù hợp với
trình độ phát triển của lượng sản xuất .
Sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lượng sản xuất là một
trạng thái trong đó các yếu tố cấu thành quan hệ sản xuất tạo địa bàn đầy đủ cho lực lượng
sản xuất phát triển . Chỉ khi nào cả ba mặt của quan hệ sản xuất thích ứng với trình độ của
lực lượng sản xuất, tạo điều kiện tốt nhất cho việc sử dụng và kết hợp giữa lao động và tư
liệu sản xuất thì sẽ tạo ra cơ sở phát triển hết khả năng của ực lượng sản xuất .
Khi lực lượng sản xuất phát triển đến một trình độ mới với tính chất xã hội hoá ở
mức cao hơn sẽ xuất hiện mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất sẽ
chuyển thành không phù hợp . Mâu thuẫn càng trở nên gay gắt tất yếu sẽ dẫn tới việc xã
hội phải xoá bỏ bằng cách này hay cách khác quan hệ sản xuất cũ và thay bằng quan hệ
sản xuất mới, phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất đã thay đổi, mở đường cho lực
lượng sản xuất phát triển . Điều này sẽ dẫn tới sự diệt vong của phương thức sản xuất cũ
và sự ra đời của phương thức sản xuất mới .
Như vậy, lượng sản xuất quyết định sự hình thành và phát triển của quan hệ sản
xuất, một khi lượng sản xuất đã biến đổi thì sớm hay muộn thì quan hệ sản xuất cũng phải
biến đổi cho phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất mới.
Tuy vậy, quan hệ sản xuất cũng thể hiện tính độc lập tương đối với lượng sản xuất .
Quan hệ sản xuất tác động trở lại lực lượng sản xuất, quy định mục đích xã hội của sản
xuất, tác động đến khuynh hướng phát triển của công nghệ . Tren cơ sở đó hình thành một
hệ thống những yếu tố thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của một lực lượng sản xuất .
Khi quan hệ sản xuất phù hợp, phát triển hợp lý và đồng bộ với lực lượng sản xuất thì sẽ
thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất, trong trường hợp ngược lại, quan hệ sản xuất
sẽ kìm hãm lực lượng sản xuất phát triển . Nếu quan hệ sản xuất lạc hậu hơn hoặc “tiên
tiến” hơn một cách giả tạo cũng sẽ làm cho lực lượng sản xuất không phát triển . Khi mâu
thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất đã trở nên gay gắt, đòi hỏi phải giải

Thứ hai, quan hệ sản xuất biểu hiện trên ba mặt: sở hữu tư liệu sản xuất, tổ
chức quản lí và phân phối sản phẩm, do đó, quan hệ sản xuất mới phải được xây dựng một
cách đồng bộ cả ba mặt đó.
Thứ ba, tiêu chuẩn căn bản để đánh giá tính đúng đắn của quan hệ sản xuất
mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa là ở hiệu quả của nó: thúc đẩy phát triển lực lượng
sản xuất, cải thiện đời sống nhân dân, thực hiện công bằng xã hội.
Trong thời kì quá độ ở nước ta, tất yếu còn tồn tại nhiều hình thức sở hữu,
hình thành nhiều thành phần kinh tế với những hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh đa
dạng, đan xen, hỗn hợp. Do đó, xây dựng quan hệ sản xuất định hướng xã hội chủ nghĩa
đồng thời phải tôn trọng và sử dụng lâu dài và hợp lí cơ cấu kinh tế nhiều thành phần.
II.Kinh nghiệm, thực tiễn của các nước
Thực tiễn nhất, chúng ta hãy nhìn vào Cộng hòa nhân dân Trung Hoa khi
định hướng theo nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần trong thời kì quá độ nên chủ nghĩa
xã hội mang màu sắc Trung Quốc và đã đạt được thành công đáng kể.
1: Cải cách kinh tế của Trung Quốc
Kể từ năm 1978, tại hội nghị Trung ương 3 khóa XI của Đảng cộng sản Trung Quốc
(12/1978) chính quyền Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã quyết định cải cách nền kinh tế
từ một nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung theo mô hình Liên Xô sang một nền kinh tế theo
định hướng thị trường trong khi vẫn duy trì thể chế chính trị do Đảng Cộng sản Trung
Quốc lãnh đạo. Chế độ này được gọi bằng tên "Chủ nghĩa Xã hội mang màu sắc Trung
Quốc", là một loại kinh tế hỗn hợp. Đây là cuộc cải cách lớn, toàn diện về kinh tế, từ tư
duy lý luận đến hoạt động thực tiễn, từ quan hệ sở hữu tài sản tới cơ chế quản lý kinh tế, từ
điều hành nền sản xuất tới phân phối thu nhập
Để thực hiện công cuộc cải cách này, Trung Quốc đã thực hiện cải cách một cách
toàn diện nông nghiệp, công nghiệp,…
1.1: Cải cách trong nông nghiệp
Trong nông nghiệp, bằng việc chuyển đổi từ chế độ hợp tác xã sang chế độ khoán

ứng nhu cầu thị trường và đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất. Động lực lợi ích được khơi
thông thì tự nền kinh tế phát triển mà không cần những lời hô hào, khẩu hiệu như giai đoạn
trước đó. Năm 1986, Trung Quốc khởi động cải cách doanh nghiệp nhà nước. Thực hiện
việc cổ phần hóa và hợp tác cổ phần hóa các doanh nghiệp. Quá trình cải cách nền kinh tế
đã hình thành nên các thành phần kinh tế trong nền kinh tế Trung Quốc: Thành phần kinh
tế nhà nước, kinh tế tư nhân, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài,… Nói đến cải cách của
Trung Quốc chúng ta không thể không nói tới sáu đột phá lớn về lý luận trong việc xây
dựng CNXH:

Lý luận về kinh tế thị trường XHCN
- Đã đột phá vào những quan điểm có tính chất chế độ và thuộc tính giai cấp của
kinh tế thị trường, xây dựng nên lý luận kinh tế thị trường vừa có thể phục vụ cho CNTB
lại vừa có thể phục vụ cho CNXH.
- Đã đột phá vào lý luận truyền thống cho rằng chế độ công hữu của CNXH không
thể kết hợp với kinh tế thị trường; xây dựng nên lý luận chế độ công hữu có thể kết hợp
được với kinh tế thị trường.
- Đã đột phá vào quan niệm cho rằng chế độ công hữu của CNXH phải thuần nhất,
xây dựng nên lý luận coi công hữu là chủ thể, nhiều loại sở hữu cùng phát triển.
- Đã đột phá vào lý luận coi phân phối theo lao động là phương thức duy nhất; xây
dựng nên lý luận coi phân phối theo lao động là chủ thể, nhiều loại phương thức phân phối
đồng thời cùng tồn tại.
Lý luận về giai đoạn đầu của CNXH và lý luận mang đặc sắc Trung Quốc
- Đã đột phá vào quan niệm cho rằng CNXH chỉ có tính chung, tính phổ biến, xây
dựng nên lý luận các nước XHCN đều có tính đặc thù, có thể đi con đường đặc sắc của
mình.
- Đã đột phá vào quan niệm cho rằng CNXH chỉ có học tập Liên Xô, chỉ có thể sao
chép, chuyển dịch theo, xây dựng nên lý luận CNXH phải học tập, tiếp thu mọi thành quả

- Cuộc tranh luận về chế độ cổ phần là tư hữu hay công hữu, đã làm rõ chế độ cổ
phần vừa không mang họ "công" (công hữu) cũng không mang họ "tư" (tư hữu), mà là
kinh tế sở hữu hỗn hợp có thể dung hợp "công" và "tư" thành một thể. Nếu là quốc hữu và
tập thể khống chế cổ phần thì sẽ mang tính chất công hữu; nếu là tư doanh và thương nhân
nước ngoài khống chế cổ phần thì mang tính chất tư hữu.
- Cuộc tranh luận về chế độ cổ phần là kinh tế TBCN hay kinh tế XHCN, đã làm rõ
nó vừa không phải họ "tư" (TBCN) cũng không phải họ "Xã" (XHCN), mà là một hình
thức tổ chức vốn của chế độ xí nghiệp hiện đại, là hình thức thực hiện có hiệu quả phù hợp
với yêu cầu kinh tế thị trường của kinh tế quốc hữu.
- Cuộc tranh luận về chế độ hợp tác cổ phần là kinh tế gì, đã làm rõ kinh tế hợp tác
cổ phần vừa không phải là chế độ cổ phần, cũng không phải là chế độ hợp tác, mà là một
hình thức thực hiện của kinh tế công hữu loại hình mới mang một số đặc điểm của cả chế
độ cổ phần lẫn chế độ hợp tác, là sản phẩm mới mang đặc sắc Trung Quốc, là kinh tế tập
thể của sự liên hợp lao động và liên hợp vốn, là một hình thức có hiệu quả của việc cải
cách chế độ đối với các xí nghiệp nhỏ quốc hữu.

Lý luận về phân phối theo lao động và phân phối theo các yếu tố sản xuất
- Đã đột phá vào quan điểm truyền thống cho rằng phân phối theo lao động là đặc
điểm của CNXH, phân phối theo vốn là đặc điểm của CNTB. Đã xác định lý luận kết hợp
với nhau giữa phân phối theo lao động và phân phối theo yếu tố sản xuất, kiên trì ưu tiên
hiệu quả, chú ý công bằng, có lợi cho việc sắp xếp tối ưu các nguồn lực, thúc đẩy kinh tế
phát triển, giữ vững xã hội ổn định.
- Đã đột phá vào quan niệm bình quân chủ nghĩa, xây dựng nên lý luận cho phép và
khuyến khích một số người, một số vùng thông qua lao động thành thực, kinh doanh hợp
pháp được giàu lên trước.
tắc "3 điều có lợi" của lý luận Đặng Tiểu Bình, đã cung cấp cơ sở lý luận để giải quyết
những vấn đề khó khăn trong giai đoạn công kiên của cải cách ở Trung Quốc.
2: Những thành quả đạt được của Trung Quốc sau khi tiến hành cải cách kinh tế
Năm 1979: Trung Quốc quyết định xây dựng các đặc khu kinh tế, gồm ba đặc khu
kinh tế là Thâm Quyến, Chu Hải, Sán Đầu tại tỉnh Quảng Đông và đặc khu kinh tế Hạ
Môn tại tỉnh Phúc Kiến. Việc quyết định xây dựng đặc khu nhằm mở rộng hợp tác kỹ thuật
và giao lưu kinh tế với nước ngoài, tận dụng FDI (vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài), đưa
khoa học kỹ thuật tiên tiến vào Trung Quốc. Từ năm 1978-2007, FDI tích lũy vượt 760 tỉ
USD, đứng đầu thu hút FDI tại các nước đang phát triển và đứng thứ hai thế giới.
Năm 1982, Trung Quốc thực hiện khoán sản lượng hoặc khoán toàn bộ đến hộ nông
dân. Việc giải phóng năng lực sản xuất cho hàng trăm triệu hộ nông dân đã mang lại bước
nhảy vọt trong kinh tế nông thôn. Giá trị tổng sản lượng nông nghiệp tăng bình quân
11,5%/năm trong giai đoạn 1980 - 1985, gấp 3,5 lần giai đoạn 1953 - 1980.
Năm 1986, Trung Quốc khởi động cải cách doanh nghiệp nhà nước. Năm 1993,
Trung Quốc hiện đại hóa khu vực kinh tế nhà nước gồm tổ chức các tập đoàn lớn, đổi mới
kỹ thuật, áp dụng phương pháp quản lý khoa học. Các doanh nghiệp nhà nước vừa và nhỏ
có quyền lựa chọn hình thức tổ chức và hoạt động như cổ phần hóa, cho thuê, chuyển
thành sở hữu tập thể hoặc bán cho tư nhân. Đến cuối năm 2007, 1.550 doanh nghiệp lên
sàn chứng khoán.
Năm 1992, Trung Quốc xác lập mục tiêu “kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa”. Mở
đầu thị trường hóa trong lĩnh vực y tế và nhà ở thị trường hóa từ năm 1992 – 1994. Kết quả
điển hình của thị trường hóa là doanh thu trong lĩnh vực kinh doanh ăn uống tăng gấp 225
lần; bình quân năm tăng 20,53%.
Năm 1994: Trung Quốc thông qua Luật ngoại thương, bãi bỏ việc lập kế hoạch theo
chỉ thị hoạt động xuất nhập khẩu; trao cho doanh nghiệp quyền hoạt động kinh tế đối
ngoại, bãi bỏ việc cấp quota đối với một loạt hàng hóa. Nhà đầu tư nước ngoài được hưởng
ưu tiên và ưu đãi về thuế. Các khu vực kinh tế tự do như khu Phố Đông ở thành phố

3: Kinh nghiệm của Trung Quốc đối với Việt Nam
Đầu tiên, là vai trò quan trọng của Đảng cộng sản
Cần phải tự tin hơn trong vai trò lãnh đạo đất nước của mình nhằm giúp đất nước
hướng ra trường quốc tế.
Cần cố gắng thu hút những thành phần ưu tú nhất ở mọi lĩnh vực xã hội gia nhập
vào đội ngũ của mình.
Cần nỗ lực để học hỏi, đúc rút kinh nghiệm từ những thành công cũng như thất bại
của nhiều đảng phái chính trị trong lịch sử của đất nước.
Cần xây dựng, đổi mới đảng theo mong muốn của nhân dân và phù hợp với sự thay
đổi của tình hình trong khi cùng lúc duy trì kỷ luật và sự quản lý “thép” đối với đất nước.
Cần có những điều chỉnh cần thiết trong những thời kì nhất định.
Thứ hai, là việc lựa chọn hướng đi phù hợp cho việc phát triển kinh tế. Chúng ta
không thể sử dụng một cách hoàn toàn mô hình của Trung Quốc mà phải tùy vào tình hình
đất nước để có nhũng điều chỉnh thích hợp. Nhưng chúng ta có thể tham khảo các bước cải
cách của Trung Quốc. Đầu tiên là cải cách nông nghiệp, tiếp đó cải cách công nghiệp. Từ
những tiền đề cải cách này là hướng tới phát triển các ngành dịch vụ, công nghiệp nhẹ và
cuối cùng là phát triển công nghiệp nặng.
Thứ ba, cần có những biện pháp nhằm gắn kết các thành phần kinh tế với một mục
tiêu chung là phát triển kinh tế nước nhà.
Thứ tư, nâng cao vai trò của thành phần kinh tế Nhà nước trong nền kinh tế. Cần
khẳng định vai trò dẫn dắt nền kinh tế của thành phần kinh tế này.
III: Thực tiễn của Việt Nam
Trong suốt hơn 80 năm thực dân Pháp xâm lược và thống trị Việt nam, cùng
với quá trình đầu tư khai thác kinh tế và thực thi hàng loạt các chính sách về chính trị, xã

giữ vai trò chủ đạo. Đây là thời điểm đánh dấu nền kinh tế nước ta có sự chuyển biến rõ
rệt, chuyển hoàn toàn nền kinh tế từ một nền kinh tế tập trung quan liêu sang nền kinh tế
thị trường.
Đối với nước ta, quá trình chuyển đổi từ cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp
sang phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường, có
sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng XHCN thực chất là xây dựng CNXH. Thời
điểm này đánh dấu sự đổi mới tư duy lý luận, nhất là tư duy kinh tế, vừa bám sát các quy
luật khách quan và kịp thời tổng kết thực tiễn đầy sống động của Việt Nam.
Đến đại hội X, Đảng ta đã tiếp tục làm sáng rõ hơn những vấn đề lý luận liên quan
đến xây dựng thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với 4 nội dung cơ bản
là:
- Nắm vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong nền kinh tế thị trường ở nước ta
hiện nay. Kiên định với con đường đi lên CNXH, xây dựng nền kinh tế thị trường trong
thời kì có độ lên CNXH
-Phát triển đồng bộ và quản lí có hiệu quả sự vận hành của các loại thị
trường cơ bản theo cơ chế cạnh tranh lành mạnh.
-Nâng cao vai trò và hiệu lực quản lý của Nhà nước.
-Phát triển mạnh các thành phần kinh tế, các loại hình tổ chức kinh doanh.
Qua 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới, chúng ta đã đạt được những thành tựu to
lớn và có ý nghĩa lịch sử. Đất nước đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, có sự thay đổi
cơ bản và toàn diện. Vị thế nước ta trên trường quốc tế không ngừng nâng cao. Sức mạnh
tổng hợp của quốc gia đã tăng lên rất nhiều, tạo ra thế và lực mới cho đất nước tiếp tục đi
lên với những triển vọng tốt đẹp.
Phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta là sự lựa chọn hoàn toàn
phù hợp với quy luật phát triển khách quan và xu thế tất yếu của thời đại. Kinh tế thị
trường là một phạm trù kinh tế riêng, có tính độc lập tương đối, phát triển theo những quy
luật riêng vốn có của nó dù nó tồn tại ở đâu và bất kể thời điểm nào của lịch sử. Song,

nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế nhà nước
cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân.
Thứ ba, về định hướng xã hội và phân phối: Phải thực hiện tiến bộ và công bằng xã
hội ngay trong từng bước đi và từng chính sách phát triển; tăng trưởng kinh tế phải gắn kết
chặt chẽ và đồng bộ với phát triển xã hội, văn hóa, giáo dục và đào tạo giải quyết tốt các
vấn đề xã hội vì mục tiêu phát triển con người

Thứ tư, định hướng XHCN trong lĩnh vực quản lý: Phát huy quyền làm chủ xã hội
của nhân dân, bảo đảm vai trò quản lý, điều tiết kinh tế của Nhà nước pháp quyền XHCN
dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Định hướng XHCN là một tất yếu, là sự lựa chọn phù hợp với nội dung của thời đại
- thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên CNXH trên phạm vi toàn thế giới. Định hướng
XHCN ở nước ta là nhằm mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với XHCN thể hiện trong toàn
bộ các lĩnh vực của đời sống xã hội. Đây không chỉ là một tất yếu về chính trị và nguyện
vọng mong muốn của nhân dân ta, mà còn là một tất yếu kinh tế, văn hóa, xã hội
=>Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là tất yếu khách quan đối với mọi quốc gia
xây dựng CNXH, dù điểm xuất phát ở trình độ phát triển cao hay thấp.
Thời kỳ quá độ lên CNXH ở các nước xây dựng CNXH Việt Nam là một tất yếu
lịch sử và Việt Nam không nằm ngoài quy luật này. Thời kì này là giai đoạn tính tất yếu
bởi vì:
Thứ nhất, phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa là phù hợp với quy luật khách
quan của lịch sử.
Thứ hai, phát triển theo con đường chủ nghĩa xã hội không chỉ phù hợp với xu thế
của thời đại, mà còn phù hợp với đặc điểm của cách mạng Việt Nam: cách mạng dân tộc,
dân chủ gắn liền với cách mạng xã hội chủ nghĩa.
Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là tất yếu đối với mọi quốc gia đi lên

loài người. Đi trong dòng chảy đó của lịch sử, chúng ta đã, đang và sẽ nhận được sự đồng
tình, ủng hộ ngày càng mạnh mẽ của loài người, của các quốc gia độc lập đang đấu tranh
để lựa chọn con đường phát triển tiến bộ của mình.
1.2: Về mặt chủ quan
Nước ta có nguồn lao động dồi dào với truyền thống lao động cần cù và
thông minh, trong đó đội ngũ làm khoa học, công nghệ, công nhân lành nghề có hàng chục
ngàn người là tiền đề rất quan trọng để tiếp thu, sử dụng các thành tựu khoa học và công
nghệ tiên tiến của thế giới. Nước ta có nguồn tài nguyên đa dạng, vị trí địa lí thuận lợi và
những cơ sở vật chất - kĩ thuật đã được xây dựng là những yếu tố hết sức quan trọng để
tăng trưởng kinh tế
Qúa độ lên chủ nghĩa xã hội không những phù hợp với quy luật phát triển
lịch sử mà còn phù hợp với nguyện vọng của tuyệt đại đa số nhân dân Việt Nam đã chiến
đấu, hi sinh không chỉ vì độc lập dân tộc mà còn vì cuộc sống ấm no, hạnh phúc, xây dựng
xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Xây dựng chủ nghĩa xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam,
một Đảng giàu tinh thần cách mạng và sáng tạo, có đường lối đúng đắn và gắn bó với nhân
dân, có Nhà nước xã hội Chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân ngày càng được củng cố vững
mạnh và khối đại đoàn kết toàn dân, đó là những nhân tố chủ quan vô cùng quan trọng bảo
đảm thắng lợi côngcuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
1.3: Yêu cầu quan hệ sản xuất mới của Việt Nam
Thứ nhất, quan hệ sản xuất mới được xây dựng phải dựa trên kết quả của sự
phát triển lực lượng sản xuất, “ bất cứ một sự cải biến nào về mặt quan hệ sở hữu cũng đều
là kết quả tất yếu của việc tạo nên những lực lượng sản xuất mới”.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status