ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
KHOA MÔI TRƢỜNG
Cao Trƣờng Sơn
ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH XỬ LÝ CHẤT THẢI
TẠI CÁC TRANG TRẠI CHĂN NUÔI LỢN
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN VĂN GIANG,
TỈNH HƢNG YÊN
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC
Hà Nội, năm 2012
MỤC LỤC
Lời cảm ơn ................................................................................................................... i
Lời cam đoan ............................................................. Error! Bookmark not defined.
Mục lục ........................................................................................................................ 1
Danh mục bảng ......................................................... Error! Bookmark not defined.
Danh mục hình .......................................................... Error! Bookmark not defined.
Danh mục hình .......................................................... Error! Bookmark not defined.
LỜI MỞ ĐẦU .............................................................................................................. i
Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU ................................................. 5
1.1
Tổng quan về tình hình phát triển chăn nuôi nƣớc ta .................................... 5
1.1.1
1.3.1
Cơ sở pháp lý về quản lý chất thải chăn nuôi ở nƣớc ta ........................ 15
1.3.2
Tỷ lệ thu gom, xử lý chất thải chăn nuôi ............................................... 16
1.3.4
Các biện pháp quản lý và xử lý chất thải chăn nuôi ............................. 17
Chƣơng 2 ĐỐI TƢỢNG – PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ................................ 25
2.1
Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu ................................................................... 25
2.1.1
Đối tƣợng nghiên cứu ........................................................................... 25
2.1.2
Phạm vi nghiên cứu .............................................................................. 25
2.2
Phƣơng pháp nghiên cứu ............................................................................. 25
2.2.1
Giang ............................................................................................................ 29
3.1.1
Phân tích các điều kiện tự nhiên ........................................................... 29
3.1.2
Điều kiện Kinh tế - Xã hội ................................................................... 33
3.1.3
Thực trạng phát triển các ngành kinh tế ................................................ 38
3.1.4
Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội .......................... 41
3.2
Tình hình phát triển trang trại chăn nuôi lợn trên địa bàn huyện Văn
Giang ............................................................................................................ 43
3.2.1
Tình hình chung ................................................................................... 43
3.2.2
Đặc điểm của các trang trại chăn nuôi Lợn trên địa bàn huyện Văn
Giải pháp về mặt quản lý, tổ chức ......................................................... vi
3.4.2
Giải pháp về mặt kinh tế ........................................................................ vi
3.4.3
Giải pháp về mặt kỹ thuật ..................................................................... vii
3.4.4
Giải pháp tuyên truyền – Giáo dục ....................................................... vii
KẾT LUẬN & KIẾN NGHỊ ...................................................................................... ix
Kết luận: ..................................................................................................................... ix
Kiến nghị ............................................................................................................ x
2
LỜI MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết của đề tài:
Trong những năm gần đây ngành chăn nuôi nƣớc ta phát triển rất mạnh, tốc độ
tăng trƣởng bình quân đạt 8,7%/năm(Cục Chăn nuôi, 2006). Đặc điểm nổi bật nhất trong
thời gian qua của ngành chăn nuôi nƣớc ta là chuyển từ hình thức chăn nuôi nhỏ lẻ tại hộ
gia đình sang chăn nuôi tập trung theo quy mô trang trại. Hình thức chăn nuôi tập trung
theo quy mô trang trại dần đƣợc hình thành và có xu hƣớng phát triển mạnh, nhất là khi
Chính phủ ban hành Nghị quyết 03/2000/NQ-CP ngày 02/02/2000 về Phát triển kinh tế
Kết quả nghiên cứu của đề tài giúp các cán bộ môi trƣờng, cán bộ nông
nghiệp đƣa ra những cảnh báo, khuyến cáo, định hƣớng cho việc phát triển
sản xuất cũng nhƣ là quản lý tốt các vấn đề môi trƣờng phát sinh nhằm phát
triển bền vững các trang trại chăn nuôi lợn.
Mục đích nghiên cứu:
Chỉ ra tình hình phát triển và đặc điểm của các trang trại chăn nuôi lợn trên
địa bàn huyện Văn Giang.
Đánh giá hiện trạng xử lý chất thải của các trang trại chăn nuôi lợn trên địa
bàn huyện Văn Giang.
Đề xuất các giải pháp cải thiện môi trƣờng tại các trang trại chăn nuôi lợn.
Nội dung nghiên cứu:
Phân tích tổng hợp các điều kiện Tự nhiên – Kinh tế - Xã hội trên địa bàn
huyện Văn Giang, Hƣng Yên.
Hiện trạng phát triển và đặc điểm của các trang trại chăn nuôi lợn trên địa
bàn huyện Văn Giang, Hƣng Yên.
Phân tích, đánh giá hiện trạng xử lý chất thải tại các trang trại chăn nuôi lợn
trên địa bàn huyện Văn Giang, Hƣng Yên.
4
Chƣơng 1.
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Tổng quan về tình hình phát triển chăn nuôi nước ta
1.1.1 Xu hướng phát triển
Chăn nuôi là một trong hai ngành sản xuất quan trọng của nền nông nghiệp
nƣớc ta. Trong những năm gần đây ngành chăn nuôi có xu hƣớng phát triển mạnh
cả về quy mô và số lƣợng. Điều này góp phần quan trọng đảm bảo phát triển kinh tế
nông nghiệp – nông thôn ở nƣớc ta.
1990
2.854,1
3.116,9
12.260,5
141,3
372,3
107,4
1995
2.962,8
3.638,9
16.306,4
126,8
550,5
142,1
2000
93,1
1.288,7
300,5
2,39
6,16
-1.71
12,31
8,99
Năm
2010
TTBQ
(%/năm)
Nguồn: Tổng cục Thống kê, 2011
Ghi chú: TTBQ = Tăng trưởng bình quân
5
1.1.2 Hình thức chăn nuôi
6
tăng lên tới 23.558 trang trại (Tổng cục Thống kê, 2011). Số lƣợng vật nuôi trung
bình trong các trang trại là: Lợn nái từ 20-50 con/trang trại, Lợn thịt 100-200
con/trang trại;Gà từ 2.000-5.000 con/trang trại, Bò sữa từ 20-50 con/trang trại, Bò
đẻ từ 10-20 con/trang trại (Đào Lệ Hằng, 2008; Phùng Đức Tiến và cộng sự, 2009).
Hình thức chăn nuôi theo trang trại có số lƣợng vật nuôi lớn, đem lại hiệu quả kinh
tế cao nhƣng lại gây ra những vấn đề về môi trƣờng do các loại chất thải phát sinh
quá lớn.
1.1.3 Tỷ lệ phân bố
Mặc dù chăn nuôi của nƣớc ta đang phát triển mạnh mẽ tuy nhiên mật độ vật
nuôi và số lƣợng các trang trại chăn nuôi ở nƣớc ta phân bố không đồng đều giữa
các vùng miền trong cả nƣớc. Tỷ lệ phân bố các hộ chăn nuôi ở nƣớc ta tập trung
chủ yếu tại khu vực miền Bắc đặc biệt là các tỉnh trung du và miền núi phía Bắc
(hình 1.1). Tuy nhiên hoạt động chăn nuôi trang trại tập trung lại phát triển mạnh
nhất tại khu vực đồng bằng châu thổ sông Hồng với 10.277 trang trại chiếm 43,
62% tổng số trạng trại chăn nuôi của cả nƣớc (Tổng cục Thống kê, 2011). Tỷ lệ
phân bố các trang trại chăn nuôi theo các vùng miền ở nƣớc ta đƣợc chỉ rõ trong
bảng 1.2.
Bảng 1.2: Số lƣợng các trang trại chăn nuôi phân theo vùng ở nƣớc ta
Số trang trại
Tỷ lệ (%)
Đồng bằng sông Hồng
10.277
Cả nƣớc
23.558
100
Vùng
Tây Nguyên
Nguồn: Tổng cục Thống kê, 2011
Kết luận: Trong những năm qua ngành chăn nuôi nƣớc ta đã không ngừng
phát triển, số lƣợng các loài vật nuôi tăng lên nhanh chóng. Hai hình thức chăn nuôi
phổ biến là chăn nuôi tại hộ gia đình và chăn nuôi theo trạng trại tập trung. Mặc dù
7
chăn nuôi nông hộ vẫn còn phổ biến song xu hƣớng phát triển hình thức chăn nuôi
tập trung tại các trang trại đang diễn ra mạnh mẽ. Đây là xu hƣớng phát triển nổi bật
của ngành chăn nuôi trong những năm qua và sẽ tiếp tục là hƣớng phát triển chính
của ngành chăn nuôi trong thời gian tới.
Hình 1.1: Bản đồ phân bố các hộ chăn nuôi ở nƣớc ta
8
1.1.4 Đặc điểm chuồng trại
Trong chăn nuôi việc bố trí chuồng trại không chỉ có ý nghĩa bảo đảm sự
Bán kiên cố
%
Đơn giản
Tổng
Hộ gia đình
Gia cầm
Lợn
Bò
Gia cầm
10,71
48,21
17,42
1,67
58,62
53,57
100
Nguồn: Phùng Đức Tiến và cộng sự, 2009
Dựa vào bảng 1.3 ta thấy, tỷ lệ chuồng trại kiên cố tại hình thức chăn nuôi
trang trại là cao hơn hẳn so với hình thức chăn nuôi hộ gia đình. Tỷ lệ chuồng trại
kiên cố cao nhất đối với chăn nuôi Lợn, tiếp đó là chăn nuôi Bò và thấp nhất là chăn
nuôi Gia cầm. Tỷ lệ chuồng trại đơn giản vẫn còn khá cao đối với cả hai hình thức
chăn nuôi và đối với tất cả các vật nuôi.
Tỷ lệ chuồng trại kiên cố tại hình thức chăn nuôi trang trại cao là do các chủ
đầu tƣ tập trung nguồn vốn cao, quy mô chăn nuôi lớn hơn so với ở các nông hộ.
Nghiên cứu của Vũ Đình Tôn và các cộng sự năm 2008 tại ba tỉnh Hƣng Yên, Hải
Dƣơng và Bắc Ninh đã chỉ ra rằng tại các trang trại chăn nuôi Lợn có mức độ đầu tƣ
cho hệ thống chuồng trại khá cao. Các điều kiện chuồng trại cụ thể đƣợc trình bày
trong bảng 1.4.
9
Bảng 1.4: Điều kiện chuồng trại của các trang trại chăn nuôi lợn
Đơn vị tính: %
Điều kiện kỹ thuật
Hƣng Yên
Chung
Hải Dƣơng
Bắc Ninh
Có máng uống tự động
81,11
86,67
80,00
76,67
Có hố sát trùng
52,22
70,00
33,33
53,33
Nguồn: Vũ Đình Tôn và cộng sự, 2008
Nhƣ vậy, điều kiện chuồng trại chăn nuôi tại các trang trại đƣợc đầu tƣ hoàn
chỉnh và tốt hơn so với chuồng trại tại các nông hộ. Do đó việc quản lý chất thải và
các vấn đề môi trƣờng trong chăn nuôi ở các trang trại thƣờng dễ thực hiện hơn so
với ở trong các nông hộ.
1.2 Tổng quan các vấn đề môi trường trong chăn nuôi
1.2.1 Nguồn thải từ chăn nuôi
Nguồn ô nhiễm từ hoạt động chăn nuôi chủ yếu là từ phân thải, nƣớc tiểu và
nƣớc rửa chuồng từ các chuồng nuôi. Đặc trƣng cơ bản của nƣớc thải chăn nuôi là
(kg/con
(kg/con
/năm)
/năm)
/năm)
/năm)
/năm)
Bò thịt
8,0
164,0
1.204
43,8
11,3
Bò sữa
15,6
1,24
Loại Vật
Nuôi
Nguồn: Alexander P. Economopoulos
Cũng giống nhƣ nƣớc thải, phân thải của các loại vật nuôi có chứa nhiều các
hợp chất của nitơ, phốtpho nên có khả năng gây ô nhiễm môi trƣờng nhanh chóng
khi thải bỏ ra ngoài môi trƣờng. Thành phần chính trong phân thải của một số vật
nuôi đƣợc trình bày trong bảng 1.6.
Bảng 1.6: Thành phần chính trong phân tƣơi của một số loài vật nuôi
(giá trị trung bình)
Độ ẩm (%)
N (%)
P2O5 (%)
K2O (%)
Bò thịt
85
0,5
0,2
0,5
Dê, cừu
77
1,4
0,5
0,2
Loài nuôi
Nguồn: Lê Văn Cát, 2007
Nhƣ vậy, với số lƣợng vật nuôi ngày càng lớn ở nƣớc ta thì khối lƣợng phân
thải và nƣớc thải chăn nuôi phát sinh sẽ ngày càng cao. Dựa vào số liệu thống kê
các loại vật nuôi chính của nƣớc ta năm 2010 có thể ƣớc tính đƣợc khối lƣợng chất
thải rắn phát sinh từ các hoạt động chăn nuôi nhƣ trong bảng số 1.7.
11
Bảng 1.7: Lƣợng chất thải rắn chăn nuôi năm 2010
Loại
vật nuôi
Trâu Bò
Lợn
Ngựa
Dê cừu
Gia cầm
0,2
1.933,05
60.100,00
Tổng cộng
227.522,90
Căn cứ vào bảng 1.7 có thể thấy, lƣợng chất thải phát sinh từ các loại vật
nuôi chính ở nƣớc ta hàng ngày rất lớn vào khoảng trên 2 triệu tấn. Trong đó, lƣợng
chất thải phát sinh lớn nhất là từ chăn nuôi Trâu, Bò (hơn 110 nghìn tấn/ngày); tiếp
đó là chăn nuôi Gia cầm (hơn 60 nghìn tấn/ngày); Lợn (gần 55 nghìn tấn/ngày); Dê,
Cừu (gần 2 nghìn tấn/ngày) và thấp nhất là từ chăn nuôi Ngựa (hơn 372 tấn/ngày).
Với khối lƣợng chất thải phát sinh lớn nhƣ trên nếu không đƣợc quản lý và xử lý
triệt để sẽ gây sức ép lớn đến môi trƣờng tại các khu chăn nuôi và các vùng lân cận.
1.2.2 Hiện trạng ô nhiễm môi trường chăn nuôi ở nước ta
*Ô nhiễm nước
Chất lƣợng môi trƣờng xung quanh ở nhiều khu vực chăn nuôi của nƣớc ta
đang bị ảnh hƣởng nghiêm trọng. Nguyên nhân chính của tình trạng này là do
chất thải từ hoạt động chăn nuôi không đƣợc xử lý triệt để trƣớc khi thải bỏ ra
ngoài môi trƣờng.
Tại Hải Dƣơng, hoạt động chăn nuôi Lợn trong hộ gia đình bùng phát mạnh mẽ
đã làm ô nhiễm nghiêm trọng nƣớc mặt tại xã Lai Vu khi mà hầu hết các thống số nhƣ
BOD, COD, NH+4, NO-3, PO3-4 đều vƣợt quá ngƣỡng cho phép của TCVN:5942/1995Cột A nhiều lần (Bảng 1.8). Đồng thời chất lƣợng nƣớc ngầm ở khu vực này cũng bị
ảnh hƣởng nghiêm trọng khi mà nồng độ NH+4 quan trắc đƣợc dao động 0,98-6,34
mg/L vƣợt qua tiêu chuẩn nƣớc ăn uống của Việt Nam từ 25-162 lần (Hồ Thị Lam Trà
và cộng sự, 2008; Thi Lam Tra HO và cộng sự, 2010).
Tại Hà Nội, kết quả khảo sát của sở Khoa học & Công nghệ thành phố tại
7
Thông
số
Ph
n= 4
DO
n= 4
(mg/L)
BOD5
n=4
(mg/L)
COD
n=4
(mg/L)
NO3 - - N
n= 4
(mg/L)
NH4+- N
n= 4
(mg/L)
PO43-- P
n= 4
(mg/L)
Giá trị
Max
Min
TB
0,15
0,17
9,65
0,50
2,91
5,53
1,25
2,65
9/07
7,89
7,02
7,53
4,48
2,37
3,87
48
32
39
0,36
0,13
0,26
1,39
0,52
1,03
1,70
0,14
0,66
Thời gian quan trắc (tháng/năm)
3,19
21,90 11,90 18,50 15,02 9,75
15,60
0,50
3,10
4,90
8,45
19,38
7,48
7,43
7,98
9,05
60
36
80
65
68
24
10
12
23
48
44
25
44
40
56
2,17
1,06
0,76
1,42
2,15
0,83
0,67
3,24
2,93
3,19
2,36
0,97
4,36
3/08
7,98
7,17
7,56
1,96
0,29
1,27
6,68
3,80
4,96
76
28
56
5,07
0,26
1,62
3,37
0,42
2,01
13
Tại khu vực miền Nam nƣớc ta kết quả theo dõi chất nƣớc tại các kênh, rạch
xung quanh khu vực chăn nuôi Lợn đã chỉ ra nồng độ NH+4 vƣợt quá tiêu chuẩn
TCVN:5942-1995 Cột A từ 6-12 lần (Ngô Ngọc Hƣng và Huỳnh Kim Định, 2008).
Nhƣ vậy có thể thấy hiện trạng ô nhiễm nƣớc do chất thải chăn nuôi diễn ra
khá phổ biến ở nhiều khu vực chăn nuôi trên địa bàn cả nƣớc. Nguyên nhân chính là
do không kiểm soát một cách triệt để nguồn nƣớc thải và phân thải phát sinh từ các
chuồng trại chăn nuôi.
*Ô nhiễm mùi
Mùi phát sinh từ chuồng trại chăn nuôi chủ yếu là do các khí NH3 và H2S có thể
gây ảnh hƣởng xấu đến sức khỏe của ngƣời dân. Theo nhiều nghiên cứu tại các khu
vực chăn nuôi Lợn công nghiệp đã cho thấy nồng độ các khí NH3 là 0,94 mg/m3; H2S
là 0,38 mg/m3; NO2 là 0,25 mg/m3; SO2 là 0,45 mg/m3 nếu so sánh với TCVN 593895 và TCVN 5937-95 thì nồng độ các khí này cao quá tiêu chuẩn cho phép từ 2-3 lần
(Phạm Nhật Lệ và Trịnh Quang Tuyên, 1997, 2000, 2001; Phùng Thị Vân và cộng sự,
2004 a, b, c; Nguyễn Quế Côi và cộng sự, 1992, 2007a, 2007b).
Kết quả khảo sát chất lƣợng không khí chuồng nuôi tại các cơ sở chăn nuôi
trên địa bàn 6 tỉnh: Hƣng Yên, Nam Định, Bình Dƣơng, Đồng Nai, Long An và Cần
Thơ cho thấy không khí chuồng nuôi ở cả hai hình thức chăn nuôi hộ gia đình và
chăn nuôi trang trại đều bị ô nhiễm khi mà nồng độ NH3 và H2S đều vƣợt quá
ngƣỡng cho phép (Phùng Đức Tiến và cộng sự, 2009).
Hiện nay ô nhiễm mùi từ các khu chăn nuôi đƣợc cho là vấn đề bức xúc nhất
đối với ngƣời dân. Theo kết quả thăm dò ý kiến của ngƣời dân xung quanh các khu
chăn nuôi trên địa bàn thành phố Hà Nội đã cho thấy có tới 50% số ngƣời đƣợc hỏi
than phiền về mùi hôi thối phát sinh từ các khu chăn nuôi, trong khi đó các than phiền
khác nhƣ: ô nhiễm nƣớc và làm chết cá chỉ chiếm 20%, ô nhiễm tiếng ồn chỉ chiếm 2%
còn lại 18% là các than phiền khác (Bộ Tài nguyên & Môi trƣờng, 2010).
Ô nhiễm mùi trong chăn nuôi phụ thuộc nhiều vào khoảng cách từ khu vực
chăn nuôi tới khu dân cƣ. Mùi hôi của các trang trại Lợn tới khu dân cƣ đã đƣợc
m
m
m
m
M
M
Hà Nội
%
100
100
80,0
100
100
100
Hà Tây(cũ)
Ninh Bình
%
100
100
60,0
100
50
66,7
Trung Bình
%
100
100
73,9
100
87,5
Chính việc thiếu hụt các văn bản quản lý môi trƣờng trong lĩnh vực chăn
nuôi đã khiến cho các loại chất thải chăn nuôi chƣa đƣợc xử lý triệt để và các vấn đề
môi trƣờng tại các khu vực chăn nuôi diễn ra ngày càng phổ biến.
1.3.2 Tỷ lệ thu gom, xử lý chất thải chăn nuôi
Nhìn chung hiện nay chất thải chăn nuôi ở nƣớc ta chƣa đƣợc tiến hành thu
gom và xử lý triệt để. Tỷ lệ chất thải chăn nuôi đƣợc xử lý còn thấp và đây là
nguyên nhân chính gây ra những vấn đề ô nhiễm môi trƣờng tại các khu chăn nuôi
(Hồ Thị Lam Trà và cộng sự, 2008; Cao Trƣờng Sơn và cộng sự, 2010).
Theo nghiên cứu tại 720 cơ sở chăn nuôi trên địa bàn 6 tỉnh Hƣng Yên,
Nam Định, Bình Dƣơng, Đồng Nai, Long An và Cần Thơ thì chỉ có 15% số nông
hộ và 35,71% các trang trại chăn nuôi gia cầm có xử lý chất thải; đối với chăn nuôi
Lợn tỷ lệ này là 58,93% tại các nông hộ và 65,63% đối với các trang trại; chăn nuôi
Bò là 17,24% và 27,24% (Phùng Đức Tiến và cộng sự, 2009). Nhƣ vậy, tỷ lệ xử lý
chất thải trong chăn nuôi Lợn là cao nhất cũng chỉ đạt mức trên 60%.
Theo kết quả điều tra năm 2007 tại xã Lai Vu tỉnh Hải Dƣơng thì chỉ có
17/50 (34%) hộ đƣợc điều tra có áp dụng biện pháp xử lý chất thải trong chăn nuôi
Lợn, còn lại hầu hết xả thải trực tiếp phân thải và nƣớc thải từ các chuồng nuôi ra
ngòai môi trƣờng (Hồ Lam Trà và cộng sự, 2008).
Bộ Tài nguyên & Môi trƣờng năm 2010 khi tiến hành đánh giá hiệu quả
kinh tế xã hội tại các trang trại chăn nuôi ở nƣớc ta cũng đã chỉ rõ hạn chế lớn
nhất của các trang trại chăn nuôi là chƣa chú ý tới việc thu gom và xử lý chất
thải. Diện tích đất bình quân của các trang trại chăn nuôi để xây dựng các công
trình thu gom, xử lý chất thải rất thấp < 5% tổng diện tích của các trang trại (Bộ
Tài nguyên & Môi trƣờng, 2010).
Tỷ lệ thu gom và xử lý chất thải thấp dẫn tới lƣợng chất thải chăn nuôi đƣợc
thải bỏ ra ngoài môi trƣờng lớn, gây ra những tác động xấu đến chất lƣợng môi
trƣờng xung quanh các khu chăn nuôi và ảnh hƣởng tới sức khỏe, đời sống của
ngƣời dân.
thức tích trữ chất thải nhƣ:
- Nhà chứa phân: Nhà chứa phân đƣợc xây ngoài chuồng nuôi. Phân đƣợc
đóng thành bao tải và chuyển đến đây để tích trữ và bán. Hình thức này khá hiệu quả vì
phân thải đƣợc tận dụng và ngƣời chăn nuôi có thêm thu nhập từ việc bán phân. Tuy
17
nhiên biện pháp này đòi hỏi khá nhiều công sức thu gom phân thải, cần một diện tích
kho chứa phân lớn và phát sinh mùi hôi thối trong quá trình tích lũy phân.
Tách pha rắn/lỏng
Nƣớc tiểu và
nƣớc rửa chuồng
Phân hót
Ao
Trồng trọt
Thất thoát
Thất thoát
Cho/bán
Ủ phân
Biogas
Chất thải rắn sau
khi
tại các trang trại chăn nuôi Lợn nái, đặc biệt là sử dụng các nhà để chứa phân cụ thể
ở quy mô lớn >100 con tại Hà Nội (với tỷ lệ từ 40-100%), Thái Bình (tỷ lệ từ 50100%) và Ninh Bình (từ 25-66,7%). Trong khi đó biện pháp sử dụng hố chứa phân
ít đƣợc sử dụng hơn, chỉ có một tỷ lệ nhỏ từ 3,0-9,1% các trang trại tại quy mô nuôi
từ 30-100 con sử dụng hình thức này (Trịnh Quang Tuyên, 2010).
Bảng 1.10: Tình hình quản lý và xử lý chất thải tại các trang trại Lợn nái
Đơn
Tỉnh
vị
Nhà chứa phân
Hố chứa phân
30-100
100-200
>200
30-100
100-201
>200
Nái
Nái
50,0
100
9,4
0
0
Thái Bình
%
8,8
50,0
100
5,9
0
0
Ninh Bình
%
*Xử lý chất thải
- Hệ thống bể xử lý nước thải: là hệ thống bể thƣờng có 2-3 cấp. Mỗi cấp là
một bể riêng biệt có hệ thống lƣới ngăn các chất lơ lửng. Đại bộ phận chất rắn lơ
lửng đƣợc lắng xuống đáy của bể thứ nhất, một số chất lơ lửng sau khi thoát ra qua
các lƣới của bể thứ nhất thƣờng đƣợc lắng xuống ở bể thứ hai và bể thứ ba...Biện
pháp này thƣờng khá tốn kém do không tận dụng đƣợc nguồn phân thải, tốn chi phí
xây dựng hệ thống và cần một diện tích khá lớn.
- Biogas: đây là biện pháp đƣợc sử dụng khá phổ biến tại các khu chăn nuôi
của nƣớc ta. Tỷ lệ các trang trại chăn nuôi tại Hƣng Yên sử dụng Biogas đạt từ
37,5-59,1% (Cao Trƣờng Sơn và cộng sự, 2010), tại các nông hộ ở Lai Vu, tỉnh Hải
Dƣơng là 17% (Hồ Thị Lam Trà và cộng sự 2008). Tỷ lệ sử dụng biogas tại các
trang trại nuôi Lợn nái ở một số tỉnh nhƣ Hà Nội, Hà Tây cũ, Ninh Bình, Thái Bình
là rất cao dao động từ 89,4-100% (Trịnh Quang Tuyên và cộng sự, 2010).
19
Hình 1.3. Tỷ lệ sử dụng hầm Biogas trong các hệ thống trang trại chăn nuôi
Lợn trên địa bàn tỉnh Hƣng Yên
Ghi chú: VAC = Vườn-Ao chuồng; AC = Ao-Chuồng; CV = Chuồng-Vườn; C = Chuồng
Nguồn: Cao Trường Sơn và cộng sự, 2010
Biện pháp này đƣợc đánh giá là có hiệu quả cao khi vừa góp phần giảm
thiểu chất ô nhiễm vừa tạo ra khí sinh học phục vụ nhu cầu đun nấu, thắp sáng của
ngƣời dân. Bùn cặn và nƣớc thải sau biogas có thể sử dụng tốt để tƣới cây hoặc làm
thức ăn cho cá do đã giảm bớt đƣợc các vi sinh vật gây bệnh trong quá trình phân
hủy yếm khí. Tuy nhiên, hạn chế của biện pháp này là vốn ðầu tý khá cao, nồng ðộ
chất thải sau biogas còn ở mức khá cao không thể thải bỏ trực tiếp ra ngoài môi
trƣờng (Vũ Đình Tôn và cộng sự, 2008). Trong quá trình vận hành bể biogas có thể
không sinh khí hoặc bị tắc do lƣợng phân quá ít hoặc quá nhiều.
Mặt khác, nồng độ các chất ô nhiễm trong nƣớc thải đã qua xử lý biogas dù
BOD5(mg/l)
148
188
146
273
50
2
COD (mg/l)
500
624
455
1000
100
3
TSS (mg/l)
0,30
0,14
1,76
3
6
TKN (mg/l)
448
455
182
378
-
7
P tổng (mg/l)
72,7
42,9
trại chăn nuôi Gia cầm là 13,33%; đối với các nông hộ tỷ lệ này là 3,57% đối với
chăn nuôi Gia cầm, 34,48% đối với chăn nuôi Bò và 3,57% đối với chăn nuôi Lợn.
Phân thải sẽ đƣợc ủ lên men để tạo ra loại phân bón phục vụ tốt cho trồng trọt hoặc
làm thức ăn cho cá. Biện pháp này không những giảm thiểu chất ô nhiễm phát sinh
mà còn tạo thêm thu nhập cho ngƣời chăn nuôi. Tuy nhiên biện pháp này đòi hỏi
khá nhiều công lao động và kiến thức khoa học nhất định.
- Sử dụng Giun quế: Nghề nuôi Giun đƣợc phát triển từ năm 1952 ở các
nƣớc phát triển nhƣ: Mỹ, Canada, Pháp, Nhật, Ý, Hàn Quốc, Philipin… Đã có rất
nhiều tài liệu, công trình nghiên cứu công bố trên khắp thế giới. Rất nhiều hiệp hội
nuôi Giun đất đƣợc thành lập tại nhiều quốc gia khắp thế giới. Ở Việt Nam, nghề
21
nuôi Giun đƣợc ngƣời ta biết đến năm 1986. Nhƣng giai đoạn này, kinh tế hộ gia
đình chƣa đƣợc chú trọng nên tầm quan trọng của nghề nuôi Giun không đƣợc quan
tâm đúng mức.
Tuy nhiên, trong những năm gần đây việc sử dụng Giun quế để xử lý chất
thải chăn nuôi đã đƣợc áp dụng tại nhiều địa phƣơng trong cả nƣớc và cho kết quả
khả quan. Ƣu điểm của hình thức này là vừa xử lý đƣợc phân thải, vừa tạo đƣợc
phân hữu cơ phục vụ cho trồng trọt, vừa thu đƣợc sản phẩm là Giun quế để làm
thức ăn chăn nuôi và nhiều mục đích khác. Tuy nhiên, giun Quế thƣờng chỉ thích
hợp với các loại phân nhƣ phân Trâu, phân Bò và phân Gia cầm, đối với phân Lợn
thì hiệu quả phân hủy của Giun bị hạn chế hơn do thức ăn dành cho Lợn là thức ăn
tinh và có nhiều thành phần khác nhau. Mặt khác, Giun quế chỉ sử dụng đƣợc để xử
lý chất thải rắn mà không áp dụng đƣợc trong sử lý nƣớc thải; để nuôi đƣợc Giun
đòi hỏi ngƣời dân phải đƣợc tập huấn qua về kỹ thuật nuôi Giun quế.
*Sử dụng chất thải
Sử dụng chất thải chăn nuôi vào các mục đích khác nhau không chỉ có ý
nghĩa về mặt môi trƣờng khi tuần hoàn và giảm thiểu đƣợc lƣợng chất thải phát sinh
Cột A2
6,0-8,5
COD (mg/L)
120-240
160
15
DO (mg/L)
3,50-5,54
4,52
>= 5
NH4+ (mg/L)
1,36-4,64
3,00
0,2
NO3- (mg/L)
1,16-2,88
Khác
Quy mô
30-100
100-200
>200
30-100
100-200
>200
30-100
100-200
>200
30-100
100-200
>200
Hà Nội
63,4
55,8
19,7
12,2
19,7
58,0
7,2
6,3
11,2
17,2
18,2
11,1
59,3
66,0
58,6
8,7
10,6
8,2
10,7
13,6
11,1
15,1
18,7
17,4
7,2
19,7
13,7
11,3
17,4
13,4
12,5
10,1
11,5
Nguồn: Trịnh Quang Tuyên, 2010
Trịnh Quang Tuyên và các cộng sự khi điều tra tình hình quản lý và xử lý chất
23
thải tại các trang trại chăn nuôi Lợn nái năm 2010 cũng đã chỉ ra những hình thức sử
dụng chất thải chính mà các chủ trang trại áp dụng (Bảng 1.13). Nhìn vào bảng số liệu