PHẦN I. ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm qua, nền nông nghiệp Việt Nam đã có những thành tựu
đáng kể, đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của thị trường. Đặc biệt, những
năm gần đây, chăn nuôi đang có xu hướng phát triển mạnh theo hướng sản xuất
hàng hóa và ngày càng chiếm tỉ trọng lớn trong nội bộ ngành nông nghiệp.
Để phát triển sản xuất hàng hóa thì phương thức chăn nuôi gia công hợp
đồng là một giải pháp rất hợp lý. Một số nước trên thế giới như Thái Lan,
Philipin, Ấn Độ đã nghiên cứu và cho thấy phương thức chăn nuôi này mang lại
hiệu quả cao hơn nhiều so với chăn nuôi độc lập ở quy mô hộ nông dân.
Ở Việt Nam, hình thức này mới được áp dụng trong những năm gần đây
do một số công ty sản xuất thức ăn chăn nuôi (TACN) lớn liên doanh với nước
ngoài tiến hành áp dụng mô hình chăn nuôi gia công cho các hộ nông dân, đặc
biệt trong chăn nuôi gia cầm và gần đây là trong chăn nuôi lợn.
Huyện Văn Giang - Tỉnh Hưng Yên là một trong những địa phương chăn
nuôi lợn có quy mô tương đối lớn ở miền Bắc, cung cấp một khối lượng thịt lợn
không nhỏ cho một số thị trường tiêu thụ nhiều như Hà Nội, Hải Phòng, Quảng
Ninh. Trên địa bàn huyện hiện nay, hình thức chăn nuôi gia công hợp đồng đã
bước đầu được tiến hành. Công ty thức ăn chăn nuôi CP của Thái Lan đã liên kết
với một số hộ chăn nuôi trên địa bàn xã Mễ Sở theo hình thức gia công hợp
đồng. Qua thực tế cho thấy hình thức tổ chức chăn nuôi này bước đầu đã mang
lại tác dụng trong việc nâng cao sản lượng, chất lượng và hiệu quả chăn nuôi lợn.
Tuy nhiên, trên địa bàn huyện Văn Giang hiện nay hình thức chăn nuôi
này lại chưa được áp dụng rộng rãi. Lý do thứ nhất là trên địa bàn huyện hiện
nay có không nhiều công ty thức ăn chăn nuôi có đủ tiềm lực để tổ chức hình
1
thức này. Lý do thứ hai rất quan trọng đó là các hộ nông dân ở đây còn chăn nuôi
qui mô nhỏ lẻ và quen thuộc với hình thức chăn nuôi độc lập truyền thống.
Với nhu cầu thịt lợn của người dân ngày càng cao như hiện nay thì Chính
phủ đã có một số chính sách nhằm khuyến khích ngành chăn nuôi lợn phát triển.
Tuy nhiên, chính sách này hầu như chỉ chú trọng vào việc khuyến khích cho
- Về thời gian:
Đề tài thu thập, xử lý tài liệu thứ cấp tại địa phương trong 3 năm (2007-
2009). Điều tra hộ nông dân và công ty thuê gia công hợp đồng chăn nuôi lợn.
1.2.4 Đối tượng nghiên cứu
- Các hộ chăn nuôi, công ty thức ăn chăn nuôi có ký kết hợp đồng chăn
nuôi gia công với hộ chăn nuôi
- Các chủ trương, chính sách, văn bản có liên quan.
3
PHẦN II. TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Một số lý luận cơ bản về liên kết
2.1.1.1 Khái niệm liên kết
- Liên kết là hòa nhập hay nói lên sự kết hợp thích ứng với nhau giữa các
yếu tố cấu thành một hệ thống, cho phép các yếu tố đó tạo thành một chỉnh thể
cân đối. Theo Đuyêckhem E. (E’Durkheim), sự kết hợp hay hòa nhập một bộ
phận của ý thức tập thể với ý thức cá nhân và với phương thức lệ thuộc lẫn nhau
của các yếu tố khác nhau của xã hội (tín ngưỡng, tôn giáo, nhóm, phái ) trong
một chỉnh thể có tổ chức, tạo thành sự liên kết xã hội.
- Liên kết kinh tế là một trong những trình độ cao của con người, đã xuất
hiện từ lâu trong quá trình sản xuất kinh doanh. Trong bối cảnh toàn cầu hóa
hiện nay, liên kết kinh tế đang trở thành nhu cầu bức xúc cho việc phát triển kinh
tế xã hội.
- Liên kết kinh tế là hình thức hợp tác phối hợp hoạt động do các đơn vị tự
nguyện tiến hành nhằm thúc đẩy sản xuất kinh doanh theo hướng có lợi nhất
trong trong khuôn khổ pháp luật của Nhà nước. Mục tiêu của liên kết kinh tế là
tạo ra sự ổn định của các hoạt động kinh tế thông qua quy chế hoạt động để tiến
hành phân công sản xuất, khai thác tốt tiềm năng của các đơn vị tham gia liên kết
để tạo ra thị trường tiêu thụ chung, bảo vệ cho nhau (Từ điển thuật ngữ kinh tế
của Viện nghiên cứu và phổ biến tri thức bách khoa).
Trong từ điển kinh tế học hiện đại David W.Pearce lại cho rằng “Liên kết
cơ bản như: mua bán tự do trên thị trường, hợp đồng miệng (hay thỏa thuận
miệng), hợp đồng văn bản, hiệp hội tiêu thụ sản phẩm.
2.1.1.2 Đặc trưng và các nguyên tắc cơ bản của liên kết
* Đặc trưng cơ bản của liên kết:
Liên kết là một phạm trù khách quan phản ánh những quan hệ xuất phát từ
lợi ích kinh tế khác nhau của những chủ thể kinh tế cũng như quá trình vận động
phát triển tự nhiên của lực lượng sản xuất, xuất phát từ trình độ chuyên môn,
phạm vi của phân công lao động xã hội và chuyên môn hóa sản xuất kinh doanh.
Liên kết kinh tế là những quan điểm kinh tế đạt tới trình độ gắn bó chặt
chẽ, ổn định, thường xuyên, lâu dài thông qua nững thỏa thuận, hợp đồng từ
trước giữa các bên tham gia liên kết. Những quan hệ kinh tế nhất thời, những
trao đổi ngẫu nhiên không thường xuyên giữa các chủ thể kinh tế, không phải là
liên kết kinh tế.
Liên kết kinh tế là một quá trình làm xích lại gần nhau và ngày càng cố kết
vói nhau, trên tinh thần tự nguyện giữa các bên tham gia liên kết. Quá trình này
vận động, phát triển qua những nấc thang quan hệ hợp tác, liên doanh đến liên
hợp, liên minh, hợp nhất lại. Như vậy phân công lao động và chuyên môn hóa
sản xuất kinh doanh là điều kiện hình thành các liên kết kinh tế, còn hợp tác hóa,
liên hiệp hóa là những hình thức biểu hiện của những nấc thang, những bước
phát triển của liên kết kinh tế.
Liên kết kinh tế là những hình thức hoặc biểu hiện của sự hành động giữa
các chủ thể liên kết thông qua những thỏa thuận, những giao kèo, hợp đồng, hiệp
định, điều lệ… nhằm thực hiện những mục tiêu nhất định trong tất cả các lĩnh
vực khác nhau của hoạt động kinh tế (đầu tư, sản xuất, kinh doanh…). Tùy theo
6
góc độ xem xét, quá trình liên kết có thể diễn ra theo liên kết ngành, liên kết giữa
các thành phần kinh tế, liên kết theo vùng lãnh thổ.
* Các nguyên tắc cơ bản của liên kết kinh tế:
Liên kết kinh tế bảo đảm cho quá trình sản xuất kinh doanh của các chủ
thể tham gia không ngừng phát triển và đạt hiệu quả ngày càng cao. Đây cũng
nhau về quyền lợi cũng như trách nhiệm.
Các mối liên kết phải được pháp lý hóa. Trong cơ chế thị trường hiện nay
nhiều quan hệ kinh tế được phát triển dựa trên cơ sở tin cậy lẫn nhau của các
bên tham gia. Liên kết giữa họ thường xuyên và bền chặt vì các bên đều đạt
được lợi ích của mình khi tham gia. Tuy nhiên, với mục tiêu hướng đến một nền
sản xuất hiện đại thì mọi quan hệ kinh tế đều phải được thể chế bằng pháp luật
dưới hình thức hợp đồng kinh tế, điều lệ, hiệp ước cua tổ chức liên kết… Khi các
mối liên kết được pháp luật hợp lý hóa, một mặt nâng cao vị thế cho các bên
tham gia đồng thời là cơ sở quan trọng để ràng buộc trách nhiệm của họ cũng
như tạo điều kiện thuận lợi cho việc giải quyết khi có tranh chấp phát sinh.
Các nguyên tắc của liên kết kinh tế có quan hệ chặt chẽ với nhau nên khi
vận dụng vào thực tiễn cần phải được coi trọng và kết hợp hài hòa. Bất cứ
nguyên tắc nào nếu bị vi phạm đều có thể làm cho liên kết ko đạt hiệu quả mong
muốn.
2.1.2 Đặc điểm chăn nuôi lợn
2.1.2.1 Đặc điểm chăn nuôi lợn thịt
8
Lợn nuôi thịt có đặc điểm là sinh trưởng theo từng giai đoạn: Giai đoạn
đầu chủ yếu phát triển về cơ, xương, tiếp theo là giai đoạn phát triển về nạc và
sau cùng là giai đoạn tích luỹ mỡ. Từ những đặc điểm này nên lợn thịt được
chăm sóc, nuôi dưỡng phù hợp với từng giai đoạn sinh trưởng để đem lại hiệu
quả cao nhất.
Lợn thịt thường được nuôi với số lượng lớn vì không tốn nhiều công lao
động trong điều kiện sử dụng thức ăn công nghiệp.
Chu kỳ nuôi lợn thịt ngắn, thường 3-4 tháng, quay vòng vốn nhanh. Đặc
điểm này rất có ý nghĩa trong kinh doanh. Khi người nông hạch toán sơ bộ có thể
quyết định vấn đề này. Thậm chí khi khó khăn về vốn họ có thể vay ngân hàng
với thời gian vay từ 6 tháng đến 1 năm là có thể đáp ứng được.
Tuy nhiên, nuôi lợn thịt có rủi ro lớn nếu thời điểm xuất bán giá cả giảm,
gây khó khăn rất nhiều, thậm chí lỗ lớn cho người chăn nuôi. Ngoài ra còn có rủi
Tuy nhiên, lợn con sinh trưởng nhanh nhưng không đều: từ sơ sinh đến 21
ngày tăng nhanh, sau đó chậm dần do sữa lợn mẹ giảm.
Ở lợn con khả năng tích lũy chất dinh dưỡng rất cao, chủ yếu tăng về tổ
chức cơ, nên để tăng 1 kg khối lượng lợn con tiêu tốn ít thức ăn hơn ở lợn lớn.
Chăn nuôi lợn con là bước tiếp theo trong hình thức chăn nuôi lợn nái bán
lợn con hay chăn nuôi lợn nái bán lợn thịt. Chính vì thế, chăn nuôi lợn con trực
tiếp quyết định hiệu quả kinh tế của hai hình thức này.
2.1.3 Khái quát về hình thức sản xuất nông nghiệp theo hợp đồng
10
2.1.3.1 Khái niệm và đặc điểm của hợp đồng nông nghiệp
Hợp đồng là một cơ cấu quan trọng để điều phối sản xuất, phân phối, và
bán lẻ sản phẩm giữa những người tham gia khác nhau trong chuỗi giá trị. Ở ngữ
cảnh nông nghiệp, Eaton và Shepherd (2001) định nghĩa hợp đồng nông nghiệp
có nghĩa là “thỏa thuận giữa những người nông dân và việc gia công và/ hay tiếp
thị các công ty cho việc sản xuất và cung cấp các sản phẩm nông nghiệp dựa trên
thỏa thuận đã được ký kết thường là với giá cả đã được định trước”.
Tuy nhiên, ý nghĩa chính của việc ký kết hợp đồng là họ thiết lập “những
quy tắc của cuộc chơi”. Cụ thể, theo Syhuta và Parcell (2002), một hợp đồng
(trong nông nghiệp hay các mặt khác) đưa ra những luật lệ của việc giao dịch
qua việc phân bổ của ba yếu tố chính: giá trị, rủi ro và quyền quyết định. Một
hợp đồng thành công do đó sẽ phân bổ giá trị, rủi ro và quyết định theo cách mà
hai bên cùng có lợi, lý tưởng là cùng chia sẻ rủi ro và cải tiến chất lượng và sản
xuất.
Hợp đồng sẽ định rõ những chi tiết điển hình khác nhau về các điều kiện
thương mại (như giá thành, số lượng, ngày giao hàng, điều kiện thanh toán), điều
khoản đóng góp, đặc điểm sản xuất (có nghĩa là lợi ích của những việc sản xuất
cụ thể). Đồng thời, theo Klein (1996) không phải tất cả các điều khoản đều được
ghi rõ một cách chính thức vì thường có những lý do chính đáng để không viết ra
một số lý do nào đó để tránh việc đình trệ hợp đồng do có những thay đổi đến
sau trong điều kiện của thị trường. Tuy nhiên, trong một số trường hợp những cơ
Cuối cùng, loại hợp đồng trung gian là loại hợp đồng thường được ký giữa
những người mua và những người buôn hơn là ký trực tiếp giữa người mua và
12
nhà sản xuất. Những loại hợp đồng này thường được dùng trong các tình huống
có quá nhiều các nhà sản xuất để cho những người mua giám sát và do đó dẫn
đến quyết định việc ký thêm hợp đồng phụ với các nhà buôn; điều này rất phổ
biến ơ Việt Nam. Ở loại hợp đồng này, nhà buôn và nhà sản xuất thường tác
động lẫn nhau theo thị trường hoặc kiểu quan hệ không chính thức. Những hợp
đồng như thế thường mang rất nhiều khó khăn trong việc quản lý chất lượng ổn
định. Những loại hợp đồng khác chắc chắn tồn tại, mặc dầu tất cả những loại hợp
đồng này đều có những vấn đề cốt lõi như việc kinh doanh, giá trị và rủi ro sẽ
được chia như thế nào cho rõ ràng, rành mạch.
2.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1. Một số ví dụ về chăn nuôi hợp đồng ở các nước châu Á
Ở Philippines, các chủ hợp đồng thường thích ký hợp đồng với các hộ
chăn nuôi lợn qui mô lớn (từ 200 con trở lên) hơn là ký với các hộ chăn nuôi qui
mô nhỏ vì nó giúp họ giảm được chi phí khi phân phối các đầu vào cũng như chi
phí giám sát các trại chăn nuôi. Đồng thời khi ký hợp đồng với các hộ qui mô
lớn, các chủ hợp đồng sẽ có được sản phẩm đồng đều và đảm bảo chất lượng để
có thể cung cấp cho các siêu thị và hệ thống phân phối chính thống nhằm đạt lợi
nhuận cao hơn so với ký hợp đồng với các hộ chăn nuôi qui mô nhỏ (Costales et
al., 2007).
Dự án LEAD về “Công nghiệp hóa chăn nuôi, thương mại và các tác động
môi trường - Sức khỏe - Xã hội” thực hiện bởi FAO và IFPRI năm 2000-2003
cung cấp các thông tin ban đầu về cơ cấu chi phí và khả năng cạnh tranh của các
hộ chăn nuôi nhỏ độc lập và các cơ sở chăn nuôi quy mô trung bình tại Ấn độ
với các nông dân tham gian hợp đồng liên kết. Kết quả cho thấy các hộ chăn
nuôi gà thịt, lợn giống, và lợn thịt hiệu quả hơn các hộ chăn nuôi độc lập. Ngoài
13
ra, hợp đồng liên kết là giải pháp khả thi cho các hộ chăn nuôi nhỏ cải thiện vị trí
xã chăn nuôi lợn ở tỉnh Hải Dương của bộ môn hệ thống nông nghiệp (Viện
khoa học kỹ thuật nông nghiệp Việt Nam). Trong liên minh, nông dân đã tham
gia các dịch vụ thú y, chế biến thức ăn, vay ngân hàng, và bán đầu vào - đầu ra.
Nông dân trong mỗi nhóm có một mục tiêu chung là xây dựng quy trình kỹ thuật
sản xuất tập thể nhằm tạo ra các sản phẩm có chất lượng đồng đều trong nhóm.
Điều này giúp nông dân tổ chức bán hàng chung thông qua nhóm trong hệ thống
hợp đồng.
Sản phẩm lúa Tám xoan Hải Hậu (Nam Định), sản phẩm mang tính truyền
thống về văn hóa và tinh thần của người dân Hải Hậu cũng đã được nâng cao
chất lượng và thương hiệu thông qua việc thành lập Hiệp hội sản xuất và kinh
doanh lúa Tám xoan Hải Hậu. Hiệp hội đã hoạt động trên nguyên tắc tự nguyện
và hỗ trợ nhau trong sản xuất, chế biến. Chính sự ra đời và hoạt động của Hiệp
hội đã thúc đẩy các hợp đồng được ký kết nhiều hơn.
Tại An Giang, mô hình liên kết trong sản xuất nông nghiệp đã xuất hiện từ
năm 2001. Theo Nguyễn Tri Khiêm (2005), để giúp nông dân, nhà chế biến, và
thương nhân trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, chính quyền tỉnh đưa ra 6 loại
hợp đồng (đánh giá qua việc xác định giá) ở các mức độ khác nhau, đó là (a) hợp
đồng với giá cả thỏa thuận tại thời điểm giao hàng, (b) hợp đồng với giá sàn, (c)
hợp đồng với giá cố định, (d) hợp đồng với việc cung cấp các đầu vào cho sản
xuất và mua lại sản phẩm với giá cố định, (e) hợp đồng cho chăn nuôi gia súc, và
(g) hợp đồng với các chi phí được bảo đảm và giá mua theo chỉ dẫn. Tùy vào đặc
15
điểm của từng mặt hàng và mức độ tin cậy của đối tác mà các bên tham gia ký
kết theo phương thức nào.
Việc ban hành Nghị định 80 của Chính phủ đã cố gắng phát huy lợi ích
của hợp đồng để cải thiện việc mua bán và năng suất trong nền kinh tế nông
thôn. Chính phủ đã cố gắng tạo ra những khuyến khích cho các bên tham gia hợp
đồng bằng việc tạo nên những cơ hội thuận lợi đối với tài chính, đất đai và cơ sở
hạ tầng.
Tuy nhiên, vẫn còn ba nhân tố chủ quan làm cho hình thức sản xuất nông
dân như nhóm nông dân, câu lạc bộ nông dân, và nhóm cộng đồng. Tuy nhiên,
hình thức tổ chức của nông dân có tư cách pháp nhân cao nhất và có khả năng ký
hợp đồng nông nghiệp là hợp tác xã.
Ba là, sản xuất nông nghiệp theo hợp đồng không phải là mô hình phù hợp
cho tất cả các loại sản phẩm và ở mọi hoàn cảnh. Nhìn chung, mô hình này sẽ
hoạt động tốt hơn đối với các sản phẩm đặc thù. Ngoài ra là các sản phẩm đặc
sản thường có nhãn hiệu hàng hóa, ch t lượng ổn định và giá cả ít biến động. Có
thương hiệu thì lợi nhuận mang lại cho cả hai bên sẽ cùng tăng lên, sự liên kết sẽ
chặt chẽ, hiệu quả và lâu bền hơn. Thực trạng sản xuất nông nghiệp theo hợp
đồng ở Việt Nam cho thấy chỉ một tỷ lệ nhỏ các hợp đồng sản xuất những nông
sản không đặc thù là thành công. Do vậy, không thể áp dụng mô hình sản xuất
nông nghiệp theo hợp đồng cho tất cả các sản phẩm nông nghiệp ở Việt Nam.
Việc quyết định có áp dụng mô hình sản xuất nông nghiệp theo hợp đồng hay
không cần phải dựa vào điều kiện thực tế tại từng địa phương.
17
Bốn là, phương thức hợp đồng cần phải phù hợp với điều kiện của các
bên. Đối với hợp đồng giữa hợp tác xã và hộ nông dân (có thể là hợp tác xã ký
hàng ngàn hợp đồng như vậy mỗi năm) thì hợp đồng càng đơn giản càng tốt.
Trong điều kiện Việt Nam, việc ký kết hợp đồng sẽ hiệu quả và dễ thành công
hơn nếu hợp đồng có điều khoản rõ ràng quy định thời điểm có thể thảo luận lại
các điều kiện hợp đồng. Những thời điểm này có thể là: trước khi hợp đồng có
hiệu lực, 2 tuần trước khi thu hoạch và khi thu hoạch. Điều khoản như vậy sẽ
cho phép quan hệ hợp đồng linh hoạt hơn và giảm khả năng phá hợp đồng. Hợp
đồng nên có những điều khoản mang tính ưu đãi để tạo động lực thu hút cả hai
bên tham gia hợp đồng, đặc biệt là các điều khoản về giá cả và thanh toán.
Trong bối cảnh Việt Nam, người nông dân thường thích nhận tiền mặt
hơn; vì thế, điều khoản thanh toán bằng tiền mặt sẽ khuyến khích người nông
dân thực hiện đúng hợp đồng. Trong nhiều trường hợp, các điều khoản quy định
giá linh hoạt có thể là giá thị trường cộng thêm phần trăm ưu đãi nào đó - sẽ
khuyến khích người cung cấp giữ đúng cam kết thực hiện hợp đồng. Cuối cùng,
Bắc Trung Bộ và Duyên
hải miền Trung
6526,4 6244,6 6148,5 5880,0 5897,4
Tây Nguyên 1590,5 1386,2 1451,3 1557,2 1612,6
Đông Nam Bộ 2247,6 2431,0 2369,3 2372,8 2456,8
Đồng bằng sông Cửu Long 3828,6 3982,0 3784,8 3630,1 3699,9
Nguồn: Tổng cục Thống kê
Chăn nuôi lợn của Việt Nam thời gian qua đã đạt được những tiến bộ rất
đáng kể, nhiều phương thức và công nghệ tiên tiến đã được áp dụng trong sản
xuất. Tuy chăn nuôi trang trại và gia trại đã có nhiều phát triển, nhưng hình thức
chăn nuôi lợn truyền thống, phân tán nhỏ lẻ trong các nông hộ vẫn là chủ yếu.
Về chăn nuôi truyền thống, tận dụng, đây là phương thức chăn nuôi đang
tồn tại ở hầu khắp các tỉnh trong cả nước; chiếm khoảng 75-80% về đầu con,
nhưng sản lượng chỉ chiếm khoảng 65-70% tổng sản lượng thịt lợn sản xuất cả
19
nước; quy mô chăn nuôi dao động từ 1-10 con; thức ăn đầu tư chủ yếu là tận
dụng sản phẩm nông nghiệp sản xuất và khai thác tại chỗ hoặc tận dụng các sản
phẩm trồng trọt và sản phẩm ngành nghề phụ (làm đậu, nấu rượu, làm mì, );
con giống chủ yếu là giống địa phương hoặc giống có tỷ lệ máu nội cao (F
1
: nái
nội x đực ngoại); năng suất chăn nuôi thấp, trọng lượng xuất chuồng bình quân
dưới 50 kg/con.
Bên cạnh phương thức chăn nuôi phổ biến trên thì phương thức chăn nuôi
gia trại cũng là phương thức phổ biến ở các tỉnh Đồng bằng sông Hồng (Thái
Bình, Nam Định, Hải Dương, Hưng Yên, Hà Nam, ) và phát triển mạnh trong
những năm gần đây; chiếm khoảng 10-15% đầu con, quy mô chăn nuôi phổ biến
là từ 10-30 nái, hoặc từ 10-50 lợn thịt có mặt thường xuyên; ngoài các phụ phẩm
nông nghiệp thì có khoảng 40% thức ăn công nghiệp được sử dụng cho lợn; con
N
1
vào tháng 4 thì lượng
thịt lợn tiêu dùng lại có xu hướng giảm. Tuy nhiên sau khi thông tin cúm
A/H1N1 được xác định thì lượng tiêu dùng thịt lợn đã tăng trở lại và giữ mức
tương đối ổn định đến hết năm 2009.
2.2.5 Một số nghiên cứu gần đây có liên quan đến đề tài
- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ, 2007: “Nghiên cứu các hình thức tổ
chức sản xuất và hợp tác trong chăn nuôi lợn ở Miền Bắc Việt Nam” của TS.
Nguyễn Tuấn Sơn và cộng sự đã điều tra, mô tả và đánh giá các hình thức sản
xuất tại các hộ chăn nuôi lợn hiện nay; đồng thời tổng hợp, tính toán, phân tích
và so sánh các chi phí sản xuất và thu nhập, phân tích các ưu nhược điểm, cơ hội
và thách thức đối với các hình thức tổ chức và hợp tác trong chăn nuôi lợn ở
21
miền Bắc nước ta. Đề tài chỉ ra rằng ở miền Bắc nước ta tồn tại ba hình thức tổ
chức hợp tác trong chăn nuôi lợn: Hình thức chăn nuôi có hợp đồng chính thống
với các chủ hợp đồng là các công ty CP (Thái Lan) và Japffa comfeed
(Indonesia), hình thức chăn nuôi có hợp đồng phi chính thống giữa người chăn
nuôi với các hợp tác xã hoặc các tư thương cung cấp dịch vụ đầu vào/tiêu thụ sản
phẩm cho người chăn nuôi, và các hộ chăn nuôi độc lập với nhiều qui mô khác
nhau. Trong ba hình thức đó thì hình thức chăn nuôi gia công hợp đồng cho các
công ty liên doanh là hình thức mang lại hiệu quả cao hơn so với hai hình thức
còn lại, tuy nhiên nó đòi hỏi vốn lớn, khả năng quản lý cao.
- Đề tài thạc sĩ kinh tế, 2006: “Nghiên cứu các mối liên kết trong các hợp
tác xã chăn nuôi lợn thịt ở huyện Nam Sách, Hải Dương” của Nguyễn Văn Hải
nghiên cứu, đánh giá thực trạng các mối liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản
phẩm của hợp tác xã chăn nuôi lợn thịt liên kết. Đề tài chỉ ra những yếu tố ảnh
hưởng đến các mối liên kết của hợp tác xã chăn nuôi, bao gồm những hạn chế
trong tổ chức hoạt động của hợp tác xã và những yếu tố cản trở các hộ chăn nuôi
đơn lẻ tham gia vào các mối liên kết. Luận án cũng đề xuất những giải pháp để
phẳng. Do nằm ở ven sông Hồng, chịu ảnh hưởng của 18 năm liền vỡ đê thời Tự
Đức nên độ cao đất đai trong huyện không đồng đều và hình thành các dải cao
thấp khác nhau theo dạng hình sóng. Đất có địa hình cao thuộc các xã Xuân
Quan, Mễ Sở, Liên Nghĩa, Thắng Lợi, Cửu Cao và thị trấn Văn Giang. Đất có
địa hình thấp thuộc các xã Phụng Công, Long Hưng, Tân Tiến, Nghĩa Trụ và
Vĩnh Khúc.
Với địa hình trên, Văn Giang có lợi thế trong việc phát triển đa dạng các
sản phẩm nông nghiệp cung cấp cho thị trường trong và ngoài huyện, đồng thời
còn có tiềm năng phát triển đô thị.
3.1.1.3 Thủy văn
Đất đai của huyện chịu ảnh hưởng của nguồn nước chính là lưu lượng
dòng chảy của hệ thống sông Bắc Hưng Hải và hệ thống kênh mương, sông ngòi
phân bố trên địa bàn huyện như sông Đồng Quê, sông Ngưu Giang, sông Tam
Bá Hiển, kênh Đông, kênh Tây …
Có thể thấy đây là những điều kiện rất thuận lợi cho huyện Văn Giang
phát triển sản xuất nông nghiệp, thâm canh gối vụ, chuyển đổi cơ cấu cây trồng
vật nuôi.
3.1.1.4 Đất đai
Huyện Văn Giang có tổng diện tích đất tự nhiên là 7.179,2 ha, trong đó
diện tích đất nông nghiệp là 5.001,25 ha, chiếm 69,94%. Bình quân đất canh tác
trên đầu người thấp. Tốc độ phát triển giao thông, công nghiệp, đô thị nhanh đã
dần thu hẹp diện tích đất nông nghiệp. Địa hình đất đai cũng không đồng nhất,
toàn huyện có 746,93 ha đất canh tác ngoài đê, chịu ảnh hưởng trực tiếp của
nước sông Hồng mùa mưa lũ.
24
Hiện nay, huyện Văn Giang không còn đất bằng chưa sử dụng, rất nhiều
hộ đã chuyển đổi một phần diện tích đất canh tác cây hàng năm sang trồng cây
lâu năm như cây ăn quả, cây cảnh do giá trị và lợi ích kinh tế cao mà chúng
mang lại.
3.1.1.5 Khí hậu