ok
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
————————————
VŨ ĐỨC HẠNH NGHIÊN CỨU CÁC HÌNH THỨC LIÊN KẾT
TRONG TIÊU THỤ NÔNG SẢN
CỦA HỘ NÔNG DÂN TỈNH NINH BÌNH
LUẬN ÁN TIẾN SĨ
CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
MÃ SỐ: 62 62 01 15
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1. PGS. TS. NGUYỄN MẬU DŨNG
2. TS. NGUYỄN THỊ DƯƠNG NGA
HÀ NỘI, 2015
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả
nghiên cứu được trình bày trong luận án là trung thực, khách quan và chưa từng
dùng bảo vệ ở bất kỳ học vị nào.
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận án đã được
cảm ơn, các thông tin trích dẫn trong luận án đều được chỉ rõ nguồn gốc.
thể và cá nhân đã động viên, giúp đỡ tôi hoàn thành luận án này.
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
Tác giả
Vũ Đức Hạnh
iii
MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các chữ viết tắt vi
Danh mục bảng vii
Danh mục sơ đồ ix
Danh mục hộp ix
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 1
2. Mục tiêu nghiên cứu đề tài 3
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
4. Những đóng góp mới của luận án 4
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HÌNH THỨC LIÊN KẾT
TRONG TIÊU THỤ NÔNG SẢN CỦA HỘ NÔNG DÂN 5
1.1. Cơ sở lý luận về hình thức liên kết trong tiêu thụ nông sản của hộ nông dân 5
1.1.1. Các khái niệm cơ bản 5
1.1.2. Phân loại các hình thức liên kết trong tiêu thụ nông sản của hộ nông dân 10
1.1.3. Vai trò và nguyên tắc của liên kết trong tiêu thụ nông sản của hộ nông dân 17
nông dân tỉnh Ninh Bình 68
3.1.1. Khái quát tình hình sản xuất và tiêu thụ nông sản của hộ nông dân tỉnh
Ninh Bình 68
3.1.2. Các hình thức liên kết chủ yếu trong tiêu thụ sản phẩm nông sản ở
Ninh Bình 73
3.2. Đánh giá thực trạng các hình thức liên kết chủ yếu trong tiêu thụ nông
sản của hộ nông dân tỉnh Ninh Bình 75
3.2.1. Hình thức hạt nhân trung tâm đối với sản xuất và tiêu thụ dứa nguyên
liệu tại công ty CPTPXK Đồng Giao 75
3.2.2. Mô hình liên kết 4 nhà trong sản xuất và tiêu thụ lúa giống ở xã Khánh
Cường huyện Yên Khánh 86
3.2.3. Mô hình liên kết qua trung gian trong sản xuất và tiêu thụ nấm ăn ở
huyện Yên Khánh 96
3.2.4. Liên kết không chính thống trong tiêu thụ nông sản phẩm ở Ninh Bình 105
3.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến tình hình liên kết trong tiêu thụ nông sản của
các hộ nông dân tỉnh Ninh Bình 113
3.3.1. Nhóm các yếu tố thuộc về hộ nông dân 113
v
3.3.2. Nhóm các yếu tố thuộc về chủ thể tham gia liên kết với hộ nông dân 116
3.3.3. Nhóm các nhân tố thuộc về môi trường bên ngoài 118
3.4. Phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức của các hình thức
liên kết tiêu thụ nông sản của hộ nông dân tỉnh Ninh Bình 121
3.4.1. So sánh thực trạng các hình thức liên kết 121
3.4.2. Phân tích SWOT 123
TÓM TẮT CHƯƠNG 3 124
Chương 4. GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM HOÀN THIỆN CÁC HÌNH
THỨC LIÊN KẾT TIÊU THỤ NÔNG SẢN CỦA HỘ NÔNG DÂN
TỈNH NINH BÌNH 126
BVTV
Bảo vệ thực vật
CN - TTCN
Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp
CNH, HĐH
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
CPTPXK
Công ty cổ phần thực phẩm xuất khẩu
DN
Doanh nghiệp
GTSX
Giá trị sản xuất
Ha
Héc ta
HTX
Hợp tác xã
HTXNN
Hợp tác xã nông nghiệp
KHCN
Khoa học công nghệ
KHKT
Khoa học kỹ thuật
NN & PTNT
Nông nghiệp và phát triển nông thôn
PGĐ
Phó giám đốc
PTNT
Phát triển nông thôn
SL
Số lượng
2.4. Tỷ lệ sản phẩm hàng hóa của một số cây trồng chủ yếu tỉnh Ninh
Bình năm 2013 61
2.5. Lựa chọn hình thức liên kết và sản phẩm nghiên cứu 62
2.6. Số hộ điều tra trong mỗi hình thức liên kết 64
3.1a. Diện tích một số cây trồng chủ yếu tỉnh Ninh Bình 69
3.1b. Sản lượng một số cây trồng chủ yếu tỉnh Ninh Bình 70
3.2. Giá trị sản xuất một số cây trồng chủ yếu tỉnh Ninh Bình 71
3.3. Khái quát một số hình thức liên kết chủ yếu trong tiêu thụ sản phẩm
nông sản ở Ninh Bình 74
3.4. Nội dung cơ bản của hợp đồng giao khoán sử dụng đất 77
3.5. Trách nhiệm của các bên trong hợp đồng giao khoán SXNN 78
3.6. Hỗ trợ chi phí sản xuất dứa nguyên liệu 79
3.7. Tình hình thực hiện sản lượng giao khoán theo hợp đồng giao khoán
SXNN 80
3.8. Giá thu mua dứa nguyên liệu của công ty CPTPXK Đồng Giao năm
2013 (đồng/kg) 81
3.9. Hiệu quả của mô hình liên kết đối với hộ nông dân 83
3.10. Ý kiến đánh giá của hộ về giá thu mua và cơ chế thanh toán trong
hợp đồng 84
3.11. Ý kiến đánh giá của hộ về các biện pháp hỗ trợ sản xuất của công ty (%) 85
3.12. Trách nhiệm của công ty Hồng Quang và của HTX trong mô hình
liên kết 88
viii
3.13. Diện tích, năng suất và sản lượng lúa giống năm 2010 - 2012 91
3.14. Tỷ lệ hộ có bán sản phẩm cho công ty 92
3.15. Hiệu quả sản xuất của trồng lúa giống theo hợp đồng và trồng lúa
LT2 năm 2011 94
3.16. Ý kiến đánh giá của hộ về các nội dung liên kết sản xuất và tiêu thụ
STT
Tên sơ đồ
Trang
2.1. Khung phân tích các hình thức liên kết tiêu thụ nông sản phẩm của
hộ nông dân tỉnh Ninh Bình 60
3.1. Hình thức tổ chức liên kết của công ty CPTPXK Đồng Giao và hộ dân 76
3.2. Khái quát hình thức tổ chức liên kết bốn nhà trong SX và tiêu thụ
lúa giống 87
3.3. Kênh tiêu thụ sản phẩm nấm ăn ở huyện Yên Khánh 98
3.4. Hình thức tổ chức liên kết giữa doanh nghiệp và hộ nông dân trồng nấm 99
3.5. Hình thức tổ chức liên kết giữa hộ thu gom với các hộ trồng nấm 106
3.6. Hình thức tổ chức liên kết giữa hộ sản xuất lúa giống với người thu gom 111
DANH MỤC HỘP
STT
Tên hộp
Trang
3.1. Ý kiến đánh giá của hộ gia đình về nguyên nhân vi phạm hợp đồng
liên kết 84
3.2. Ý kiến của công ty TNHH về liên kết 4 nhà 94
1
2
thức liên kết trong sản xuất và tiêu thụ nông sản đã được hình thành và bước đầu phát
huy tác dụng như hình thức liên kết bốn nhà, hình thức liên kết trực tiếp giữa hộ nông
dân với DN, hình thức nhóm liên kết giữa tư thương và nông dân, hình thức liên kết
trực tiếp giữa người nông dân và người tiêu dùng sản phẩm
Ninh Bình là một tỉnh thuộc đồng bằng sông Hồng có tổng diện tích tự nhiên
là 1.389,1 km
2
, trong đó diện tích đất nông nghiệp chiếm 78,36% (Cục Thống kê
Ninh Bình, 2013). Mặc dù tỷ trọng GTSX ngành nông nghiệp của tỉnh trong những
năm qua đã giảm đi đáng kể do tác động của quá trình công nghiệp hóa nhưng
SXNN vẫn có một vị trí hết sức quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế của
tỉnh và là nguồn thu của một bộ phận lớn người dân trong tỉnh. Các sản phẩm nông
sản chủ yếu của tỉnh bao gồm lúa gạo, chiếu cói, dứa, lạc, khoai, sắn, lợn, gà, bò,
dê trong đó các sản phẩm hàng hóa chủ yếu bao gồm lúa thương phẩm, lúa giống,
dứa, nấm, lợn, gà. Tuy nhiên cũng giống như nhiều địa phương khác, vấn đề tiêu
thụ nông sản của các hộ nông dân tỉnh đã và đang gặp rất nhiều khó khăn thách thức.
Nhằm tháo gỡ những khó khăn trong tiêu thụ sản phẩm nông sản của các hộ nông
dân trong tỉnh, UBND tỉnh và các cơ quan chức năng đã có những chỉ đạo tích cực,
xây dựng nhiều chương trình, đề án khuyến khích và tăng cường các hoạt động liên
kết trong tiêu thụ nông sản. Một số hình thức liên kết trong tiêu thụ nông sản nói
chung, đặc biệt trong sản xuất ngành trồng trọt của tỉnh như hình thức liên kết trực
tiếp, hình thức liên kết đa chủ thể, hình thức liên kết qua trung gian, hình thức liên
kết phi chính thống đã được hình thành, phát triển và có những đóng góp nhất định
trong tiêu thụ sản phẩm, góp phần thúc đẩy kinh tế hộ gia đình trong tỉnh. Tuy vậy,
cho đến nay số lượng các sản phẩm nông sản cũng như tỷ lệ nông sản được tiêu thụ
thông qua các hình thức liên kết với hộ nông dân trên địa bàn tỉnh chưa nhiều, cơ
chế liên kết và tình hình thực hiện liên kết còn khá nhiều vấn đề tồn tại (HĐND tỉnh
3) Các hình thức liên kết trong tiêu thụ nông sản mang lại lợi ích cho hộ nông
dân và các tác nhân khác trong liên kết như thế nào?
4) Những yếu tố nào có ảnh hưởng tới việc tham gia liên kết và kết quả thực
hiện liên kết tiêu thụ nông sản phẩm của hộ nông dân trong tỉnh? Mức độ ảnh
hưởng của các yếu tố đó ra sao?
5) Những giải pháp nào cần được thực hiện để hoàn thiện và tăng cường các
hình thức liên kết trong tiêu thụ nông sản của hộ nông dân trong tỉnh Ninh Bình?
4
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là những vấn đề lý luận và thực tiễn về hình thức liên
kết trong tiêu thụ nông sản của hộ nông dân (bao gồm cả hộ công nhân nhận khoán).
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Tập trung nghiên cứu thực trạng các hình thức liên kết trong
tiêu thụ nông sản của các hộ nông dân. Do giới hạn về thời gian và nguồn lực nên
đề tài tập trung điều tra nghiên cứu các hình thức liên kết trong tiêu thụ sản phẩm
của ngành trồng trọt.
- Về không gian: Nghiên cứu được thực hiện tại tỉnh Ninh Bình, tập trung
điều tra khảo sát tại 2 huyện, thị đó là huyện Yên Khánh và Thị xã Tam Điệp.
- Về thời gian: Nghiên cứu được thực hiện trong thời gian từ năm 2009-2013.
Đề xuất hoàn thiện và phát triển các hình thức liên kết trong tiêu thụ nông sản của
các hộ nông dân tỉnh Ninh Bình đến năm 2020.
4. Những đóng góp mới của luận án
- Luận án tập trung phân tích và làm rõ khái niệm, phân loại, các nguyên tắc,
phương thức và tác nhân liên kết; các quy tắc ràng buộc và các nhân tố ảnh hưởng
các hình thức liên kết trong tiêu thụ nông sản của hộ nông dân; đồng thời luận án đã
đưa ra các khái niệm cơ bản về tiêu thụ nông sản, liên kết tiêu thụ nông sản, hình
thức liên kết tiêu thụ nông sản của hộ nông dân; vận dụng các phương pháp và đề
tiến hành các hoạt động SXNN với mục đích chủ yếu phục vụ cho nhu cầu của các
thành viên trong hộ”.
Nông sản thường được hiểu là sản phẩm của quá trình SXNN được thực hiện
bởi các hộ nông dân, đó là kết quả của quá trình lao động nông nghiệp mà sản phẩm
được SX ra chủ yếu nhằm mục đích phục vụ cho quá trình chế biến và đáp ứng nhu
cầu ăn uống sinh sống của con người. Theo Phòng Thương mại và Công nghiệp
Việt Nam (VCCI, 2008) thì nông sản trong hiệp định nông nghiệp với WTO được
hiểu là các sản phẩm hàng hóa có nguồn gốc từ nông nghiệp, bao gồm các sản phẩm
nông nghiệp cơ bản (như lúa gạo, lúa mỳ, bột mỳ, sữa, động vật sống, cà phê, hồ
tiêu, hạt điều, chè, rau quả tươi…), các sản phẩm phái sinh (như bánh mỳ, bơ, dầu
ăn, thịt…), và các sản phẩm được chế biến từ sản phẩm nông nghiệp như bánh kẹo,
sản phẩm từ sữa, xúc xích, nước ngọt, rượu, bia, thuốc lá, bông xơ, da động vật
6
thô… Như vậy có thể thấy rằng nông sản có thể được biểu hiện dưới hình thức là
sản phẩm thô, sản phẩm sơ chế hay sản phẩm tinh chế.
Một trong những đặc điểm quan trọng của nông sản là có đặc tính tươi sống
nên khó bảo quản được trong thời gian dài. Ngoài ra, yếu tố thời vụ của hàng nông
sản dẫn đến tính không phù hợp giữa SX và tiêu dùng. Thêm vào đó hàng nông sản
dễ bị hư hỏng, ẩm mốc, biến chất, chỉ cần để một thời gian ngắn trong môi trường
không bảo đảm về độ ẩm, nhiệt độ thì mặt hàng nông sản sẽ bị hư hỏng. Do vậy,
công tác chế biến và bảo quản nông sản có vai trò hết sức quan trọng, quyết định
đến chất lượng hàng nông sản.
Chủng loại hàng nông sản là hết sức phong phú đa dạng và có chất lượng
không đồng nhất. Hàng nông sản được SX ra từ các địa phương khác nhau, với các
yếu tố về địa lý, tự nhiên khác nhau, mỗi vùng, mỗi hộ, mỗi trang trại có phương
thức SX khác nhau với các giống nông sản khác nhau. Vì vậy, chất lượng hàng
nông sản không có tính đồng đều, hàng loạt như sản phẩm công nghiệp.
Tiêu thụ sản phẩm là quá trình trao đổi, thương lượng, thỏa thuận giữa bên
quyền sở hữu nông sản giữa người bán là hộ nông dân và người mua nhằm thực
hiện lợi ích của mỗi bên thông qua hoạt động trao đổi mua bán.
Mục đích của tiêu thụ nông sản là bên bán (hộ nông dân) mong muốn bán
được hàng hóa nông sản của mình và thu được nhiều lợi nhuận, còn bên mua mong
muốn mua được hàng tốt, giá cả phù hợp để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng cuối cùng
hoặc nhu cầu của các quá trình SX kinh doanh tiếp theo. Chính vì vậy, tiêu thụ nông
sản là quá trình gắn kết giữa SX và tiêu dùng, giữa vùng nguyên liệu với người SX
chế biến và tiêu thụ, giữa người mua nông sản và người bán nông sản. Tiêu thụ
nông sản có một số đặc điểm chủ yếu sau:
- Sản phẩm nông nghiệp và thị trường nông sản mang tính chất vùng và khu
vực. SXNN gắn chặt với các điều kiện tự nhiên mang tính chất vùng. Lợi thế so sánh
và lợi thế tuyệt đối của các vùng là yếu tố rất quan trọng trong việc lựa chọn hướng
SX kinh doanh của cơ sở SX kinh doanh, tổ chức hợp lý quá trình tiêu thụ sản phẩm.
Có sản phẩm chỉ thích ứng với một vùng, thậm chí tiểu vùng và lợi thế tuyệt đối có
được coi như là những đặc điểm mà ở các vùng khác, khu vực khác không có. Đối
với những sản phẩm loại này có thể có những hình thức và phương pháp tiêu thụ đặc
biệt. Đối với những loại sản phẩm khá phổ biến mà vùng nào cũng có thì phải có
những phương thức tổ chức tiêu thụ thích hợp (Trần Quốc Khánh, 2005);
8
- Tính chất mùa vụ của SXNN có tác động mạnh mẽ đến cung, cầu của thị
trường nông sản và giá cả nông sản. Sự khan hiếm dẫn đến giá cả cao vào đầu vụ, cuối
vụ và sự dư thừa làm cho giá cả giảm vào vụ chính. Đặc điểm này làm tiêu thụ nông
sản trở nên rất khó khăn và giá cả không ổn định. Mặt khác, nông sản là các sinh vật
tươi sống, dễ bị hư hỏng, nhanh giảm phẩm chất sau khi thu hoạch. Việc chế biến, bảo
quản và dự trữ sản phẩm để đảm bảo cung cầu tương đối ổn định là một yêu cầu cần
được chú ý trong quá trình tổ chức tiêu thụ sản phẩm (Trần Quốc Khánh, 2005);
- Sản phẩm nông nghiệp rất đa dạng, phong phú và trở thành nhu cầu tối
thiểu hàng ngày của mỗi người, với thị trường rất rộng lớn nên việc tổ chức tiêu thụ
những hình thức phối hợp hoạt động do các đơn vị kinh tế tiến hành để cùng
nhau bàn bạc và đề ra các chủ trương, biện pháp có liên quan đến công việc SX
kinh doanh của mình nhằm thúc đẩy SX theo hướng có lợi nhất”.
Theo Trần Văn Hiếu (2005) thì “Liên kết kinh tế là quá trình xâm nhập,
phối hợp với nhau trong SX kinh doanh của các chủ thể kinh tế dưới các hình
thức tự nguyện nhằm thúc đẩy SX kinh doanh theo hướng có lợi nhất trong
khuôn khổ luật pháp, thông qua hợp đồng kinh tế để khai thác tốt các tiềm năng
của các chủ thể tham gia liên kết. Liên kết kinh tế có thể tiến hành theo chiều
dọc hoặc chiều ngang, trong nội bộ ngành hoặc giữa các ngành, trong một quốc
gia hay nhiều quốc gia, trên phạm vi khu vực và quốc tế”.
Theo Phạm Thị Minh Nguyệt (2006) cho rằng: “Liên kết kinh tế chính là
những phương thức hoạt động của các hình thức hợp tác kinh tế, liên kết kinh tế
phát triển ngày càng phong phù, đa dạng theo sự phát triển của hợp tác kinh tế;
tất cả các mối quan hệ kinh tế được hình thành giữa hai hay nhiều đối tác với
nhau dựa trên những hợp đồng đã ký kết với những thoả thuận nhất định được
gọi là liên kết kinh tế”.
Theo Hồ Quế Hậu (2012), Liên kết kinh tế trong kinh tế thị trường và hội nhập
kinh tế là sự chủ động nhận thức và thực hiện mối liên hệ kinh tế khách quan giữa các
chủ thể kinh tế trong nền kinh tế xã hội, nhằm thực hiện mối quan hệ phân công và
hợp tác lao động để đạt tới lợi ích kinh tế xã hội chung.
Qua đó, chúng tôi cho rằng: Liên kết kinh tế là một phạm trù khách quan
phản ánh những quan hệ giữa các chủ thể sản xuất, kinh doanh nhằm tiết kiệm
thời gian, tiết kiệm chi phí, đạt hiệu quả cao hơn trong sản xuất kinh doanh nông
sản, tạo ra sức mạnh cạnh tranh, cùng nhau chia sẻ các khả năng, mở ra những
10
thị trường mới. Mục tiêu của liên kết kinh tế là các bên tìm cách bù đắp sự thiếu
hụt của mình từ sự phối hợp hoạt động với các đối tác nhằm đem lại lợi ích cho
các bên.
vai trò là khách hàng của tác nhân trước đó đồng thời là người cung cấp sản phẩm
cho tác nhân tiếp theo của quá trình SX kinh doanh. Kết quả của liên kết dọc là
hình thành nên chuỗi giá trị của một ngành hàng và có thể làm giảm đáng kể chi
phí vận chuyển, chi phí cho khâu trung gian (Lê Văn Lương, 2008). Trong tiêu thụ
nông sản phẩm của hộ nông dân, hình thức liên kết dọc được thể hiện là liên kết
trực tiếp của hộ nông dân với các DN sản xuất kinh doanh hay chế biến sản phẩm
hay liên kết gián tiếp của hộ nông dân với DN thông qua các đơn vị, cá nhân thu
gom sản phẩm.
- Liên kết ngang (horizontal linkages)
Đây là hình thức liên kết mà trong đó mỗi tổ chức hay cá nhân tham gia là
một đơn vị hoạt động độc lập nhưng có mối quan hệ với nhau thông qua một bộ
máy kiểm soát chung. Trong liên kết này, mỗi thành viên tham gia có sản phẩm
hoặc dịch vụ cạnh tranh nhau nhưng họ liên kết lại để nâng cao khả năng cạnh tranh
cho từng thành viên nhờ phát huy tính lợi ích kinh tế nhờ quy mô của tổ chức kinh
tế. Kết quả của liên kết theo chiều ngang hình thành nên những tổ chức liên kết như
HTX, liên minh, hiệp hội có thể dẫn đến độc quyền trong một thị trường nhất định.
Với hình thức liên kết này, ngành nông nghiệp có thể hạn chế được sự ép cấp, ép
giá nông sản của các cơ sở chế biến nhờ sự làm chủ thị trường nông sản (Phạm Thị
Minh Nguyệt, 2006). Hình thức liên kết ngang trong tiêu thụ nông sản của hộ nông
dân được thể hiện là hình thức liên kết giữa các hộ nông dân với nhau để hình thành
nên nhóm hộ có cùng sở thích, hay hình thành nên HTX, hiệp hội và các thành
viên trong nhóm sở thích, trong HTX hay trong hiệp hội này cùng hợp tác với nhau
trong quá trình tiêu thụ sản phẩm của mình.
- Liên kết hỗn hợp (mixed linkages)
Đây là hình thức liên kết trong đó có sự kết hợp cả liên kết dọc và liên kết
ngang. Hình thức này xuất hiện trong quá trình phát triển và hội nhập khi mối quan
hệ giữa các hộ, cơ sở và DN sản xuất kinh doanh là sự đan xen giữa hợp tác và cạnh
tranh. Các đơn vị này một mặt liên kết với nhau theo chiều ngang để hình thành các
nhóm, hay HTX để nâng cao khả năng cạnh tranh cho từng thành viên, hạn chế
tình trạng ép cấp, ép giá. Mặt khác các nhóm, hay HTX được hình thành đó lại có
của hộ nông dân. Đó có thể là hình thức liên kết giữa hộ nông dân với người thu
gom sản phẩm, liên kết giữa hộ nông dân với người bán lẻ sản phẩm một cách trực
13
tiếp hoặc thông qua người bán buôn hay các đại lý, liên kết tiêu thụ sản phẩm của
hộ nông dân thông qua HTX, liên kết trực tiếp với các DN chế biến nông sản.
- Liên kết giữa hộ nông dân với người thu gom nông sản
Trong hình thức liên kết này người thu gom nông sản có mối quan hệ truyền
thống với các hộ nông dân, họ có thể mua sản phẩm của hộ nông dân ở chợ địa
phương hay ngay tại hộ nông dân. Nếu mua tập trung ở chợ địa phương thì người
thu gom có thể thu mua được với khối lượng sản phẩm lớn vì có thể mua được của
nhiều hộ và giảm được chi phí vận chuyển. Nếu mua tại hộ nông dân thì chi phí vận
chuyển đối với người thu gom sẽ cao hơn, khối lượng thu mua được cũng ít hơn
Tuy nhiên nếu các hộ nông dân tập trung sản phẩm tại một điểm để bán cho người
thu gom thì chi phí vận chuyển này có thể được giảm đi. Người thu gom nông sản
và hộ nông dân có thể hình thành các mối liên kết trong quá trình tiêu thụ sản phẩm,
chẳng hạn hộ nông dân muốn bán cho người thu gom quen biết, tin tưởng. Giữa hộ
nông dân và người thu gom cũng có thể có những cam kết nhất định về khối lượng,
chất lượng, giá cả sản phẩm trao đổi. Trong một số trường hợp người thu gom cũng
có thể ứng trước vật tư, tiền vốn cho các hộ nông dân sản xuất để sau đó thu mua
sản phẩm của hộ (Andrew, 2007).
- Liên kết giữa hộ nông dân với người bán lẻ nông sản
Những DN lớn thường có thể không muốn thu mua sản phẩm nông sản của
từng hộ nông dân vì chi phí giao dịch tốn kém với khối lượng thu mua nhỏ lẻ. Thay
vào đó, những người bán lẻ ở địa phương có thể liên hệ và mua sản phẩm trực tiếp
của các hộ nông dân và hình thành mối liên kết tiêu thụ sản phẩm của hộ nông dân.
Thông thường người bán lẻ có thể liên kết với một số hộ nông dân để các hộ nông
dân cung cấp sản phẩm nông sản. Hình thức liên kết này chỉ giúp tiêu thụ khối
lượng sản phẩm nhỏ của một vài hộ nông dân. Giá cả sản phẩm trao đổi thường
được khối lượng nguyên liệu đầu vào. Tuy nhiên trong nhiều trường hợp khi giá cả
sản phẩm trên thị trường cao thì một số hộ nông dân bán sản phẩm ra thị trường chứ
không bán cho DN, khi giá cả xuống thấp thì DN lại có xu hướng ép giá đối với các
hộ nông dân thông qua yêu cầu về chất lượng sản phẩm
- Liên kết giữa hộ nông dân với HTX trong tiêu thụ sản phẩm
Trong hình thức tiêu thụ này mỗi hộ nông dân có thể là thành viên của
HTX. HTX sẽ tìm kiếm thị trường tiêu thụ sản phẩm để bán sản phẩm của các hộ
nông dân là thành viên trong HTX. Các hộ nông dân cũng có thể nhận được trợ
giúp về kỹ thuật sản xuất, về tín dụng và có thể trực tiếp tham gia vào quá trình
đóng gói, vận chuyển sản phẩm đi tiêu thụ. HTX có thể ký hợp đồng tiêu thụ sản