Luận văn thạc sỹ kinh tế: Hoàn thiện công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn tỉnh Ninh Bình - Pdf 27

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

PHẠM THỊ THU HÀ
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC ĐÀO TẠO NGHỀ
CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN
TẠI TỈNH NINH BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
HÀ NỘI – 2013
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

PHẠM THỊ THU HÀ
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC ĐÀO TẠO NGHỀ
CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN
TẠI TỈNH NINH BÌNH
CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ LAO ĐỘNG
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS TRẦN XUÂN CẦU
HÀ NỘI – 2013
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân, các số
liệu, kết quả trình bày trong luận văn là hoàn toàn trung thực và chưa từng
được công bố trong bát kỳ công trình luận văn nào trước đây.
Tác giả luận văn
Phạm Thị Thu Hà
MỤC LỤC
Phân luồng lao động có nhu cầu học nghề, mở rộng hình thức và ngành nghề đào
tạo, đổi mới nội dung đào tạo phù hợp với tình hình phát triển hiện nay của địa
phương ix
Đào tạo nghề gắn với giải quyết việc làm cho người lao động ix
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

ngũ giáo viên đào tạo nghề cho lao động nông thôn.
Tiếp đó luận văn phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến công tác đào tạo nghề
cho lao động nông thôn, bao gồm: Chất lượng, số lượng lao động nông thôn; cơ sở đào
tạo nghề; đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý đào tạo nghề; cơ chế, chính sách của nhà
nước về công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn; chương trình, giáo trình liên
quan đến đào tạo nghề cho người lao động nông thôn; nguồn tài chính đầu tư cho công
tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn; thái độ xã hội đối với công tác đào tạo nghề;
khả năng tiếp nhận lao động sau khi được đào tạo nghề của các DN.
Luận văn cũng chỉ ra vai trò và sự cần thiết phải đào tạo nghề cho lao động
nông thôn.
Sau khi nghiên cứu lý thuyết, luận văn đi sâu vào phân tích công tác đào tạo
nghề cho lao động nông thôn tỉnh NB giai đoạn 2010-2012. Từ đó chỉ ra những tồn
tại, hạn chế trong công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn tỉnh NB.
Những đặc điểm chủ yếu ảnh hưởng đến đào tạo nghề cho lao động nông
thôn tỉnh NB:
Đặc điểm tự nhiên
Vị trí địa lý: NB là một tỉnh nằm ở phía nam đồng bằng Bắc bộ. Nằm trên
tuyến đường giao thông xuyên Bắc – Nam, có hệ thống cảng biển, đường sông,
i
đường biển thuận lợi, tạo điều kiện giao lưu, hợp tác, phát triển toàn diện với các
tỉnh khác trong cả nước và quốc tế.
Địa hình: Được phân ra làm 3 vùng rõ rệt: vùng đồi núi; vùng đồng bằng;
vùng ven biển.
Tài nguyên thiên nhiên: Rất đa dạng và phong phú, bao gồm: Tài nguyên đất,
tài nguyên khoáng sản, tài nguyên rừng.
Đặc điểm kinh tế xã hội
Trong những năm gần đây, NB đã đạt được nhiều thành tựu về phát triển kinh
tế, văn hóa, xã hội có ảnh hưởng tích cực đến công tác đào tạo nghề cho lao động
nông thôn. Đặc biệt, năm 2012, vốn vay lãi suất cao, đầu tư công giảm, thị trường
tiêu thụ sản phẩm công nghiệp, nhất là sản phẩm vật liệu xây dựng gặp nhiều khó

lớn lao động muốn học nghề tiểu thủ công nghiệp (51%).
Theo kết quả điều tra nhu cầu học nghề của 150 lao động nông thôn tại 3
huyện Yên Khánh, Yên Mô, Kim Sơn thì tỷ lệ có nhu cầu học nghề trong nhóm
ngành nông, lâm nghiệp rất lớn, chiếm 42%, sau đó đến các nhóm ngành tiểu thủ
công nghiệp (40%), công nghiệp- dịch vụ (15%), nhóm ngành ngư nghiệp chiếm tỷ
lệ nhỏ nhất (3%).
Mạng lưới cơ sở đào tạo nghề cho lao động nông thôn
Các cơ sở dạy nghề đóng vai trò quan trọng trong việc dạy nghề nói chung và
dạy nghề cho lao động nông thôn nói riêng. Hiện nay, trên địa bàn tỉnh NB có 37 cơ
sở dạy nghề (trong đó có 3 trường Cao đẳng nghề (thuộc bộ, ngành); 6 trường
Trung cấp nghề (có 2 trường quân đội, 1 trường công lập thuộc sở LĐ-TB&XH, 3
trường dân lập); 28 TTDN và có tham gia dạy nghề (trong đó có 8 trung tâm cấp
huyện)) và 40 DN, cơ sở khác có đăng ký dạy nghề. Trong giai đoạn 2006-2010
tỉnh NB có 04 trung tâm được Bộ LĐTBXH đưa vào đầu tư trọng điểm đó là:
TTDN Thành phố NB; TTDN huyện Kim Sơn; TTDN huyện Nho Quan, TTDN thị
xã Tam Điệp. Cũng trong năm 2010, 2 TTDN cấp huyện còn lại được thành lập:
TTDN huyện Hoa Lư, Gia Viễn. Như vậy đến năm 2010 đạt 100% các huyện, thành
phố, thị xã đều có TTDN.
iii
Hệ thống cơ sở vật chất của các cơ sở đào tạo nghề
Hiện nay, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho dạy nghề của trung tâm dạy
nghề tỉnh cũng như các cơ sở khác (lớp học cộng đồng và các làng nghề…) đang
trong tình trạng thiếu hụt và đang trong quá trình xây dựng, đầu tư trang thiết bị.
Học viên ít được tiếp xúc với máy móc thiết bị mới, công nghệ tiên tiến để thực
hành, thực tập.
Đội ngũ giáo viên đào tạo nghề, cán bộ quản lý đào tạo nghề cho lao động
nông thôn
Số giáo viên tham gia đào tạo nghề cho lao động nông thôn hiện tại rất ít, mặc
dù trình độ giáo viên trên địa bàn tỉnh được nâng cao nhưng với nhịp độ phát triển
như hiện nay, nếu không nắm bắt kịp với tốc độ phát triển, nhu cầu khắt khe của thị

bộ quản lý dạy nghề, cơ sở vật chất, thiết bị dạy nghề phù hợp…
Các hình thức đào tạo nghề cho lao động nông thôn
(1) Nếu phân theo thời gian đào tạo:
- Đào tạo ngắn hạn: Hầu hết các cơ sở dạy nghề trên địa bàn tỉnh đang thực
hiện hình thức dạy nghề ngắn hạn. Thời gian dạy nghề ngắn hạn phù hợp với việc
đào tạo nghề cho lao động nông thôn.
- Đào tạo dài hạn: Hình thức này được áp dụng ở 3 trường CĐN và 3 trường
TCN, thời gian kéo dài thừ 18 – 36 tháng tùy theo đối tượng tuyển sinh. Với thời
gian học, lao động được đào tạo dưới hình thức này sẽ được học tập một cách bài
bản, chuyên sâu hơn để nâng cao tay nghề và có chuyên môn vững vàng.
(2) Nếu phân theo hình thức tổ chức:
- Hình thức dạy nghề tập trung: Đây là hình thức dạy nghề phổ biến đang
được triển khai tại trung tâm dạy nghề huyện. Đa số các lớp dạy nghề ngắn hạn và
dài hạn đều áp dụng hình thức này.
- Hình thức liên kết đào tạo: Những năm qua, trung tâm dạy nghề đã chủ động
phối hợp với các trường ở địa bàn các tỉnh, thành phố; các DN ngay tại địa phương
thành lập các lớp dạy nghề.
- Hình thức tổ chức dạy nghề tại địa bàn sản xuất, các DN, các làng nghề: Đây
v
cũng là hình thức đang được triển khai khá phổ biến trên địa bàn tỉnh. Đây là hình
thức dạy nghề gắn với cơ sở sản xuất, làng nghề nên rất hấp dẫn người học. Lao động
khi học được hỗ trợ một phần kinh phí, sau khi học có thể sẽ được nhận vào làm ở
các cơ sở sản xuất nếu kết quả học tập đạt yêu cầu.
- (3) Nếu phân theo nguồn kinh phí:
- Hình thức hỗ trợ toàn bộ kinh phí: Hình thức này được triển khai cho các đối
tượng được bảo trợ xã hội như dạy nghề cho người khuyết tật, dạy nghề cho người
sau cai nghiện… Ngoài ra, một bộ phận đối tượng là nông dân cũng được tham gia
học nghề miễn phí theo các dự án, các chương trình.
- Hình thức hỗ trợ một phần kinh phí: Hiện nay, đối với học nghề dài hạn, đối
tượng học nghề được hỗ trợ một phần kinh phí từ ngân sách nhà nước theo quy

giải quyết việc làm cho người lao động nông thôn, tạo điều kiện thuận lợi cho người
nông dân có thể kết hợp giữa sản xuất nông nghiệp và làm nghề truyền thống, nâng
cao thu nhập, cải thiện cuộc sống cho họ.
Kết quả đào tạo nghề cho lao động nông thôn.
Tỷ lệ lao động nông thôn qua đào tạo nghề dài hạn rất nhỏ (4%), danh mục
các ngành nghề đào tạo dài hạn cũng khá khiêm tốn, chỉ có 16 ngành nghề, trong đó
ngành nghề điện công nghiệp và công nghệ hàn chiếm số lượng nhiều nhất (16,89
%). Điều này cho thấy hiện nay tỉnh NB đang thiếu hụt những lao động có tay nghề
cao.
Tỷ lệ lao động được đào tạo trong nhóm nghề tiểu thủ công nghiệp chiếm tỷ lệ
lớn nhất (66%). NB đã có nhiều cố gắng trong việc đào tạo để chuyển bộ phận lao
động nông nghiệp sang các ngành khác. Điều này cho thấy từ trước tời nay trong
khu vực nông nghiệp là lao động giản đơn không cần đào tạo vẫn có thể sản xuất
bình thường.
Đào tạo ngắn hạn tại các DN, các HTX là 10.947, chiếm 65,64%, đây là tỷ lệ
lớn, góp phần không nhỏ vào tổng số lao động qua đào tạo nghề của tỉnh.
Kết quả công tác đào tạo nghề còn được thể hiện ở mặt chất lượng lao động
qua đào tạo. Chất lượng lao động bước đầu được cải thiện, đang từng bước đáp ứng
vii
yêu cầu phát triển, đổi mới công nghệ sản xuất và thị trường lao động. Dạy nghề đã
gắn với giải quyết việc làm, số người sau khi học nghề đã có cơ hội tốt hơn trong
tìm kiếm việc làm. Từ thực tế hiện nay, nếu người lao động có quyết tâm học giỏi
nghề, tâm huyết với nghề thì nhất định sẽ có việc làm và tự thân lập nghiệp trong
nền kinh tế hiện nay. Gần 60% số lao động sau khi được đào tạo có việc làm.
Đánh giá chung về công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn tỉnh NB
Kết quả đạt được
- Tạo được sự chuyển biến cơ bản trong nhận thức của các cấp, các ngành, các
tổ chức chính trị, xã hội và người lao động về vai trò quan trọng của dạy nghề cho
lao động nông thôn đối với sự phát triển nông nghiệp, nông thôn, nông dân trên địa
bàn tỉnh.

dân về chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước trong công tác đào tạo nghề
cho lao động nông thôn.
Phát triển mạng lưới đào tạo nghề cho lao động nông thôn.
Nâng cao chất lượng, số lượng đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên đào tạo nghề.
Phân luồng lao động có nhu cầu học nghề, mở rộng hình thức và ngành nghề
đào tạo, đổi mới nội dung đào tạo phù hợp với tình hình phát triển hiện nay của địa
phương.
Mở các lớp văn hóa nghề cho lao động nông thôn, đặc biệt là với thanh thiếu
niên.
Đào tạo nghề gắn với giải quyết việc làm cho người lao động.
Phát huy vai trò của các tổ chức đoàn thể trong tuyên truyền tư vấn học nghề.
Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát hoạt động đào tạo nghề cho lao động
nông thôn.
ix
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

PHẠM THỊ THU HÀ
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC ĐÀO TẠO NGHỀ
CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN
TẠI TỈNH NINH BÌNH
CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ LAO ĐỘNG
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS TRẦN XUÂN CẦU
HÀ NỘI – 2013
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Phát triển nguồn nhân lực là mục tiêu hàng đầu của chiến lược phát triển kinh
tế xã hội, đặc biệt khi chúng ta đang sống ở thế kỷ mà nền kinh tế là nền kinh tế
mới, nền kinh tế tri thức với sự bùng nổ của khoa học kỹ thuật, với những máy móc

nhưng vẫn còn nhiều vấn đề bất cập như: công tác dạy nghề vần chưa đáp ứng được
nhu cầu phát triển của xã hội, đòi hỏi các cơ sở đào tạo nghề trong tỉnh phải có
hướng đi phù hợp, góp phần phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.
Hiện nay, cơ sở đào tạo nghề toàn tỉnh NB còn nhỏ bé, chưa đào tạo được hệ
dài hạn (hiện nay đều do các trường của trung ương đóng trên địa bàn tỉnh đào tạo),
cơ sở vật chất, trang thiết bị đội ngũ giáo viên đa phần khiêm nhiệm cũng ảnh
hưởng không nhỏ đến công tác đào tạo nghề.
Theo nhận định của các chủ doanh nghiệp, đội ngũ lao động nói chung, vẫn
chưa đáp ứng được những yêu cầu về số lượng, cơ cấu và trình độ học vấn, kỹ năng
nghề nghiệp của sự nghiệp CNH-HĐH. Thiếu nghiêm trọng các chuyên gia kỹ
thuật, cán bộ quản lý giỏi, công nhân lành nghề, có tay nghề cao Ngay cả những
lao động có trình độ cao đã được đào tạo hiện nay cũng mới chỉ đáp ứng được 15-
20% yêu cầu của doanh nghiệp, nhưng phải tiếp tục đào tạo thêm 2-3 năm nữa.
Để đáp ứng nhu cầu về nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế - xã hội của đất
nước và tỉnh NB trong thời kỳ CNH-HĐH đất nước, đưa NB phát triển nhanh, bền
vững đòi hỏi tỉnh ta phải có những chuyển biến căn bản về nhận thức, tổ chức và
phương pháp đào tạo nghề. Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này, tôi
chọn đề tài "Hoàn thiện công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn tỉnh Ninh
Bình ” từ đó đánh giá những kết quả đã đạt được, những điểm còn tồn tại trong giai
đoạn vừa qua trên cơ sở đó đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công
tác đào tạo nghề trên địa bàn tỉnh NB.
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu tổng quát
Trên cơ sở tìm hiểu, đánh giá thực trạng của công tác đào tạo nghề cho lao động
2
nông thôn tỉnh NB từ năm 2010 đến năm 2012 từ đó để ra giải pháp nâng cao hiệu quả
đào tạo nghề cho lao động nông thôn trên địa bàn tỉnh NB trong thời gian tới.
2.2. Mục tiêu cụ thể
Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về đào tạo nghề cho người lao động.
Đánh giá thực trạng công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn tỉnh NB từ

Điều tra bảng hỏi về ý kiến của 120 học viên về chương trình đào tạo nghề cho
lao động nông thôn ở Trung tâm dạy nghề Huyện Yên Khánh, Trường Trung cấp
nghề Nho Quan, Trường cao đẳng nghề Lilama1.
5. Kết cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục chữ viết tắt, danh mục bảng
biểu, tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận, sự cần thiết phải đào tạo nghề cho người lao
động nông thôn
Chương 2: Đánh giá thực trạng công tác đào tạo nghề cho lao động nông
thôn tỉnh NB từ năm 2010 đến năm 2012
Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện công tác đào tạo nghề cho lao
động nông thôn tỉnh NB
4
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN, SỰ CẦN THIẾT PHẢI ĐÀO TẠO NGHỀ
CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN
1.1 Một số khái niệm cơ bản.
1.1.1 Nông thôn
Nông thôn là vùng lãnh thổ rộng lớn thường bao quanh các đô thị (thành phố,
thị trấn, khu công nghiệp), ở đó hoạt động nông nghiệp( nông, lâm, ngư nghiệp)
đóng vai trò chủ yếu và quan trọng, cơ sở hạ tầng kém phát triển, trình độ văn hóa,
khoa học kỹ thuật, trình độ sản xuất hàng hóa thấp và mức sống của người dân thấp.
Tuy nhiên, ở nông thôn những di sản văn hóa, phong tục tập quán cổ truyền phong
phú. Như vậy, nông thôn có những đặc trưng sau:
+ Nông thôn là vùng lãnh thổ sinh sống của cộng đồng dân cư chủ yếu là
nông dân, là vùng chủ yếu sản xuất nông nghiệp, ngoài ra còn có các hoạt động sản
xuất và dịch vụ phục vụ chủ yếu cho nông nghiệp và cho cộng đồng nông thôn. Sản
xuất chịu ảnh hưởng nhiều bởi điều kiện tự nhiên.
+ So với đô thị, nông thôn có cơ sở hạ tầng, trình độ sản xuất hàng hóa thấp
hơn.

tế nguồn nhân lực- Đại học kinh tế quốc dân ( PGS.TS Trần Xuân Cầu, trang 105,
nhà xuất bản Đại học Kinh tế Quốc Dân, 2012), “nghề là một hình thức phân công
lao động, đòi hỏi kiến thức lý thuyết tổng hợp và thói quen thực hành để hoàn thành
những công việc nhất định, như nghề nông, nghề lái xe, nghề xây dựng…”
Nghề là tập hợp những công việc tương tự về nội dung và có liên quan với
nhau ở mức độ nhất định với những đặc tính vốn có, đòi hỏi người lao động phải có
những hiểu biết đồng bộ về chuyên môn nghiệp vụ, có những kỹ năng, kỹ xảo và
kinh nghiệm cần thiết để thực hiện.
Mặc dù các khái niệm trên được hiểu theo các góc độ khác nhau, song chúng
6
ta có thể thấy nghề có các đặc điểm sau:
- Nghề là hoạt động, là công việc về lao động của con người được lặp đi lặp lại.
- Nghề được hình thành do sự phân công lao động xã hội, phù hợp với yêu
cầu của xã hội và là phương tiện để sinh sống.
- Nghề là lao động kỹ năng, kỹ xảo chuyên biệt có giá trị trao đổi, đòi hỏi
phải có một quá trình đào tạo nhất định. Vì vậy đào tạo nghề là yêu cầu tất yếu bắt
nguồn từ chính bản chất, đặc trưng của nó.
1.1.4 Đào tạo nghề cho lao động nông thôn.
Trước hết, chúng ta tìm hiểu khái niệm Đào tạo nghề : Theo giáo trình Kinh
tế nguồn nhân lực- Đại học kinh tế quốc dân ( PGS.TS Trần Xuân Cầu, trang 103,
nhà xuất bản Đại học Kinh tế Quốc Dân, 2012), “đào tạo nghề là quá trình trang bị
kiến thức, kỹ năng, khả năng thuộc về một nghề, một chuyên môn nhất định để
người lao động thực hiện có hiệu quả chức năng và nhiệm vụ của mình.”
Đào tạo nghề gồm hai quá trình không thể tách rời nhau: dạy nghề và học
nghề. Trong một số văn bản hiện nay, đào tạo nghề và dạy nghề được đồng nhất với
nhau.
Theo Luật Dạy nghề số 76/2006/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2006 của Quốc
hội XI, kỳ họp thứ 10 : "Dạy nghề là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức,
kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề để có thể tìm được
việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khoá học. "

,
từng vùng miền
như đào tạo tập trung tại các cơ sở, trung tâm dạy nghề đối với người lao động nông
thôn chuyển đổi nghề nghiệp; đào tạo nghề lưu động cho lao động nông thôn làm
nông nghiệp tại các làng, xã, thôn, bản; dạy nghề tại nơi sản xuất, tại hiện trường
nơi người lao động làm việc.
Thứ ba, đối tượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn có nguồn nội lực cho
đào tạo nghề rất hạn chế. Số lượng đối tượng đào tạo nghề rất lớn, tuy nhiên do đó
là những người dân ở nông thôn. Đó là nơi GDP đầu người thấp, sản xuất hàng hóa
ít phát triển, thị trường lao động ít phát triển, ít có khả năng tiếp cận với hệ thống
giáo dục đào tạo, cơ sở hạ tầng kém phát triển, hệ thống chăm sóc sức khỏe cho
8

Trích đoạn Các hình thức đào tạo nghề cho lao động nông thôn. Xác định nhu cầu đào tạo nghề cho lao động nông thôn. Xây dựng chương trình đào tạo nghề cho lao động nông thôn. Quy mô, cơ cấu, chất lượng nguồn lao động nông thôn. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát hoạt động đào tạo nghề cho lao động nông thôn.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status