LUẬN án TIẾN sĩ vấn đề lý LUẬN về NĂNG lực đấu TRANH tư TƯỞNG lý LUẬN CHO đội NGŨ GIẢNG VIÊN KHOA học xã hội NHÂN văn các NHÀ TRƯỜNG QUÂN đội HIỆN NAY - Pdf 40

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Sau sự đổ vỡ của chế độ XHCN ở Liên Xô và Đông Âu vào thập kỷ cuối cùng
của thế kỷ XX, CNXH hiện thực tạm lâm vào thoái trào, ảnh hưởng bất lợi cho
phong trào cách mạng thế giới. Công cuộc đổi mới của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo
của Đảng đã giành được nhiều thành tựu, song cũng đang phải vượt lên những thách
thức và nguy cơ to lớn. Chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động trong và ngoài
nước đang ra sức tấn công một cách tinh vi và hiểm độc vào cách mạng nước ta
hòng lật đổ chế độ XHCN, xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, làm biến đổi xã hội ta
theo quỹ đạo của CNTB. Kinh tế thị trường và toàn cầu hoá kinh tế với tất cả những
mặt trái của nó đang làm cho cuộc đấu tranh ý thức hệ diễn ra hết sức quyết liệt ở
nước ta và trên thế giới. Chưa bao giờ cuộc ĐTTT-LL lại diễn ra phức tạp, gay gắt
như lúc này. Trong cuộc ĐTTT-LL để bảo vệ sự trong sáng CNM-LN và TTHCM,
giữ vững độc lập dân tộc và định hướng XHCN, vai trò lãnh đạo của Đảng đòi hỏi
toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta phải giữ vững niềm tin khoa học đối với mục
tiêu, lý tưởng mà chúng ta đã chọn, đề cao cảnh giác cách mạng trước các luận điệu
thù địch, không bị mất phương hướng chính trị ở thời điểm bước ngoặt - điều mà
V.I.Lênin coi là nguy hiểm, tệ hại nhất, là một sự tự sát chính trị.
Muốn vậy, đội ngũ cán bộ làm công tác tư tưởng - lý luận của Đảng, trong đó
một lực lượng rất quan trọng là các giảng viên KHXH ở các nhà trường trong và
ngoài quân đội phải không ngừng nâng cao năng lực ĐTTT-LL trong giảng dạy,
nghiên cứu khoa học và hoạt động chính trị - xã hội. Năng lực đó giúp họ đủ sức
bảo vệ học thuyết khoa học và cách mạng là CNM-LN và TTHCM - thế giới quan,
phương pháp luận, hệ tư tưởng của những người mác xít, cơ sở lý luận đem lại sự
giác ngộ và niềm tin khoa học về CNXH và chủ nghĩa cộng sản, nền tảng lý luận
của Đảng ta. Năng lực đó giúp họ đủ sức phê phán, vạch trần những luận điệu xuyên
tạc, phủ nhận CNM-LN, TTHCM và CNXH hiện thực của các thế lực thù địch.
Đồng thời, năng lực đó cũng giúp cho giảng viên KHXH trang bị cơ sở lý luận và
thực tiễn cho học viên để họ đủ sức tự phân tích, phê phán những nhận thức mơ hồ,




phương pháp đấu tranh tư tưởng; về những phẩm chất và năng lực của người cộng
sản trong đấu tranh tư tưởng; về cách thức tổ chức tiến hành đấu tranh tư tưởng v.v...
Đó là những quan điểm lý luận và phương pháp luận rất cơ bản có giá trị làm cơ sở
và định hướng cho quá trình nghiên cứu đề tài.
Đảng ta và các nhà khoa học đã bàn về ĐTTT-LL với nhiều góc tiếp cận và
cấp độ khác nhau liên quan đến đề tài. Những năm gần đây, có Nghị quyết 09 của
Bộ chính trị “Về những định hướng lớn trong công tác tư tưởng hiện nay”, ngày
18-2-1995; “Chỉ thị về tăng cường đấu tranh chống các luận điệu sai trái và hoạt
động tán phát tài liệu chống Việt Nam”, ngày 4-1-2002; Nghị quyết Hội nghị lần
thứ năm Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá IX “Về nhiệm vụ chủ yếu của
công tác tư tưởng, lý luận trong tình hình mới”, ngày 18-3-2002... Một số công
trình khoa học có liên quan với đề tài như: "Nâng cao hiệu quả công tác tư tưởng
trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay”- Luận án Phó tiến sĩ của Trần Ngọc
Tuệ, Học viện Chính trị Quân sự, 1996; “Đặc thù của cuộc đấu tranh hệ tư tưởng
ở nước ta hiện nay và sự tác động của nó đến quân đội”- Luận án Phó tiến sĩ của
Lê Bỉnh, Học viện Chính trị Quân sự, 1996; “Nâng cao chất lượng giáo dục
chính trị tư tưởng trong quân đội trước yêu cầu của cuộc đấu tranh tư tưởng ở
nước ta hiện nay”- Luận án tiến sĩ của Nguyễn Văn Cần, Học viện Chính trị
Quân sự, 2001... "Mấy ý kiến về sắc thái cuộc đấu tranh chính trị- tư tưởng hiện
nay ở nước ta”- Bài viết trong cuốn sách CNXH tương lai của dân tộc, Nxb Quân
đội nhân dân, 2002, của Phó giáo sư Hồ Kiếm Việt;Các bài viết đăng trong cuốn
sách “Đổi mới vì độc lập dân tộc và CNXH”- Nxb Quân đội nhân dân, 1996 như:
“Về cuộc ĐTTT-LL hiện nay ở nước ta", "Quân đội và cuộc đấu tranh đánh bại
chiến lược DBHB mới” của Giáo sư Trần Xuân Trường; “Chống chủ nghĩa cơ
hội xét lại- một nhiệm vụ cấp bách của cuộc đấu tranh hệ tư tưởng hiện nay" của
Phó giáo sư Lê Hồng Quang; “Suy nghĩ về CNXH đổi mới - phê phán chủ nghĩa
xét lại cơ hội hữu khuynh và giáo điều bảo thủ” của Phó tiến sĩ Lê Quang; “Đa
nguyên chính trị - con đường thủ tiêu CNXH” của Giáo sư Lê Xuân Lựu…
Sách "Báo chí trong đấu tranh chống DBHB" do Phó giáo sư, Tiến sĩ Vũ Hiền và

TTHCM, Lịch sử đảng và Công tác đảng, công tác chính trị. Khái niệm “các nhà
trường quân đội” dùng trong luận án này bao gồm các học viện, trường đại học đào


tạo sĩ quan quân đội...(không kể các nhà trường như: trường quân sự quân khu, quân
đoàn, tỉnh thành; trường cao đẳng, trung cấp, nghiệp vụ, chuyên môn kỹ thuật sơ cấp
v.v.). Thời gian chủ yếu trong những năm đổi mới đất nước từ 1986 đến nay.
4. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của luận án là hệ thống các quan điểm của CNM-LN, TTHCM,
Đảng Cộng sản Việt Nam về năng lực, về công tác tư tưởng, lý luận, về năng lực
ĐTTT-LL của người cách mạng.
Luận án cũng dựa vào các văn kiện, nghị quyết của Đảng uỷ Quân sự Trung
ương, Bộ Quốc phòng về công tác nhà trường, về xây dựng đội ngũ cán bộ giảng
dạy ở các NTQĐ, nhất là giảng viên KHXH, về vai trò của giảng viên KHXH
trong ĐTTT-LL; tham khảo và kế thừa có chọn lọc các công trình khoa học trong
và ngoài nước có liên quan.
Cơ sở thực tiễn của luận án là hoạt động của giảng viên KHXH, trực tiếp
nhất là giáo dục- đào tạo, nghiên cứu khoa học và ĐTTT-LL; những báo cáo tổng
kết của các cơ quan chức năng về các vấn đề liên quan đến luận án; các kết quả
điều tra, khảo sát của tác giả luận án về hoạt động và những kinh nghiệm ĐTTTLL của giảng viên KHXH ở các NTQĐ những năm qua; những đòi hỏi của thực
tiễn về nâng cao năng lực ĐTTT-LL của giảng viên KHXH đáp ứng với tình hình
mới.
Phương pháp luận nghiên cứu của luận án là chủ nghĩa duy vật biện chứng
và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Tác giả chú trọng sử dụng các phương pháp nghiên
cứu: kết hợp logíc- lịch sử, phân tích, tổng hợp, thu thập tư liệu, điều tra xã hội
học, thống kê, so sánh và vận dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học liên
nghành, các khoa học kề cận khác.
5. Những đóng góp mới về khoa học của luận án
- Luận giải khái niệm, thực chất và những yếu tố cơ bản cấu thành năng lực
ĐTTT-LL của giảng viên KHXH ở các NTQĐ.

học, đạo đức học đặt thuật ngữ năng lực trong quan hệ với thuật ngữ phẩm chất để
phản ánh những thuộc tính của nhân cách, trong đó, năng lực đồng nghĩa với “tài”
(thuật ngữ sử dụng đi đôi với đức), là khả năng nhận thức những hoạt động nhất
định và thực hiện có hiệu quả những hoạt động đó. Như vây, năng lực bao giờ
cũng là của một chủ thể cụ thể: một cộng đồng, một tổ chức hay một con người. Về
mỗi con người mà xét, hiếm có hoặc khó có con người có năng lực toàn diện với ý
nghĩa hiểu biết sâu sắc “bách khoa” và tác động có hiệu quả cải biến mọi đối tượng


tự nhiên, xã hội và tư duy. Hơn nữa, năng lực còn được phân thành các cấp độ
(thấp, cao) khác nhau như: năng lực thông thường, tài năng và thiên tài. Năng lực
thông thường có tính phổ biến ở mỗi người lao động trong từng lĩnh vực, ngành,
nghề. Tài năng được xếp vào năng lực vượt trội, có ở một số người, đặc biệt, mà
cao nhất là thiên tài, có ở rất ít người. Ngoài ra khi nói người có năng lực hạn chế,
hoặc không có năng lực là nói người đó kém hoặc không có khả năng hoàn thành
được công việc phụ trách. Theo quan điểm triết học mác xít, luận án này bàn về
năng lực chung của con người từ mối quan hệ biện chứng giữa chủ thể con người
với khách thể đối tượng của hoạt động nhận thức và thực tiễn của con người; trên
cơ sở đó, vạch ra bản chất, vai trò và đặc trưng của năng lực con người. Với cách
tiếp cận này, năng lực được hiểu như là khả năng, điều kiện chủ quan bên trong
để con người thực hiện có hiệu quả hoạt động nhận thức và cải tạo thế giới nhằm
phục vụ cuộc sống của mình. Mỗi bước tiến của con người trong quá trình vươn
lên làm chủ tự nhiên, cải tạo xã hội và hoàn thiện nhân cách là mỗi nấc thang
đánh dấu sự phát triển của năng lực “Người”.
Đương nhiên, để hành động cải tạo thế giới và cải tạo bản thân, con người
phải nhận thức. Muốn nhận thức được con người cũng phải có năng lực. Khi Mác
viết: “Các nhà triết học đã chỉ giải thích thế giới bằng nhiều cách khác nhau, song
vấn đề là ở chỗ cải tạo thế giới”[46, tr. 12] là nhằm vạch ra vai trò của thực tiễn để
chống chủ nghĩa duy tâm các loại, chỉ coi hoạt động lý luận là hoạt động đích thực
của con người, không thừa nhận hoặc coi nhẹ vai trò của thực tiễn, chứ không phải

với bản năng, với cái vô thức bất biến của nó, đồng nhất tính chỉnh thể của năng
lực với một yếu tố cấu thành nó. Chủ nghĩa duy tâm tôn giáo đồng nhất năng lực
với tinh thần, thượng đế hoá năng lực người. Triết học mác xít coi năng lực của
con người là khả năng thể hiện mình trong bối cảnh nhất địnH. là thuộc tính bản
chất của con người. C.Mác viết: “Chúng tôi hiểu

sức lao động hay năng lực lao

động là toàn bộ những năng lực thể chất và tinh thần tồn tại trong một cơ thể,
trong một con người đang sống và được người đó đem ra vận dụng mỗi khi sản
xuất ra một giá trị sử dụng nào đó”[49,tr.251]. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng:
“Năng lực của người không phải hoàn toàn do tự nhiên mà có mà một phần lớn do
công tác, do luyện tập mà có...”[57, tr. 280]. Như vậy, năng lực người và sự phát


triển của nó luôn gắn liền với hoạt động sống của con người và được biểu hiện cụ
thể trong các hoạt động đó. Không có năng lực tách rời hoạt động thực tiễn.
Triết học Mác- Lênin khái quát, năng lực là sức mạnh của con người trong
hoạt động cải tạo hiện thực, mang tính cụ thể và phong phú. Có thể phân năng lực
thành hai dạng chính là năng lực cải biến tự nhiên và năng lực cải biến xã hội.
Năng lực cải biến tự nhiên là những khả năng của con người để sử dụng và chinh
phục tự nhiên phục vụ cho mình. Năng lực cải biến xã hội là năng lực thúc đẩy xã
hội phát triển theo tiến bộ lịch sử, từ thấp lên cao. Giữa năng lực cải biến tự nhiên
và năng lực cải biến xã hội có mối quan hệ biện chứng, không tách rời nhau. Đã có
thời kỳ con người mắc sai lầm trong giải quyết mối quan hệ đó và đã phải trả giá.
Ngày nay, con người đang phải xem lại thái độ của chính mình trong ứng xử với tự
nhiên, không còn là chinh phục tự nhiên theo kiểu chỉ khai thác, chiếm đoạt nữa
mà là hài hoà, đồng thuận với tự nhiên, bảo vệ môi trường, cái “thân thể vô cơ”
của mình như Mác nói.
Nhưng tính phức tạp của xã hội là ở chỗ lực cản đối với xây dựng xã hội mới,

đó không tách biệt, cô lập với nhau mà quan hệ biện chứng quy định sức mạnh của
con người. Châm ngôn Phương Tây có câu "một tinh thần lành mạnh trong một
thân thể cường tráng” là phản ánh sức mạnh nội tại đó của con người. Con người
vận dụng tổng hợp các sức mạnh cả vật chất và tinh thần, tạo thành năng lực hoàn
chỉnh để hoạt động thực tiễn có hiệu quả; đồng thời qua đó, năng lực luôn được bổ
sung, phát triển ngày càng hoàn thiện. Đó là đặc trưng bản chất của năng lực con
người (chủ thể). Con người với tư cách là cộng đồng người trong quan hệ với giới
tự nhiên và tồn tại xã hội. Trong hiện thực, chủ thể con người đó có thể là một cá
nhân, một nhóm, một tổ chức, một giai cấp, một dân tộc hoặc cả loài người.
Ở các chủ thể này, năng lực nói trên không phải thuần tuý được tạo nên một
cách biệt lập ở mỗi con người, cũng như mỗi tập thể người, tách rời với người
khác, tập thể khác. Trái lại, mỗi người, mỗi tập thể người tiếp thu kiến thức và kinh
nghiệm của người khác, của tập thể khác để tăng cường sức mạnh của mình về
nhận thức cũng như hoạt động thực tiễn. Năng lực là sản phẩm của quá trình phát
triển xã hội - lịch sử người, chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng con
đường giáo dục- đào tạo và tập nhiễm xã hội. Hơn nữa, con người trong nhận thức
và hành động đã rất sáng tạo, biết chế tạo và sử dụng các công cụ, phương tiện
ngày càng phát triển: từ những mảnh tước đến những chiếc rìu ghè đẽo bằng đá; từ


chiếc cối xay gió, những động cơ hơi nước, điện lực đến điều khiển tự động; từ
cung nỏ, mũi lao, lưỡi kiếm đến tên lửa, vũ khí tinh khôn. C.Mác đã nói một cách
hình tượng là các phương tiện, công cụ đó tựa như kéo dài các giác quan của con
người trong nhận thức và cải biến hoàn cảnh sống. Vì thế, năng lực của cá nhân
bao giờ cũng có tính cá thể và tính xã hội. Năng lực cá nhân mang tính hữu hạn
còn năng lực xã hôi mang tính vô hạn.
Năng lực tồn tại dưới hai dạng chính: dạng tiềm năng (tích luỹ) và dạng hiện
thực (động năng). Dạng tiềm năng bao gồm hệ thống những yếu tố chủ quan của
chủ thể như: Tố chất, tâm sinh lý, tri thức, kinh nghiệm, kỹ năng, kỹ xảo, quan
điểm, lập trường, tình cảm, ý chí... mà chủ thể tích luỹ được. Dạng hiện thực là

Trong nội bộ phong trào công nhân: biểu hiện giữa CNM-LN với sự xuyên tạc
hữu khuynh, tả khuynh CNM-LN, tức là chủ nghĩa giáo điều, chủ nghĩa xét lại...
[100, tr. 121]
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, đấu tranh tư tưởng là: Đấu tranh trên lĩnh
vực hình thái ý thức; một trong những hình thức đấu tranh giai cấp quan trọng...
Bất cứ lúc nào, nhất là trong điều kiện diễn ra cuộc đấu tranh giữa CNXH và
CNTB trên phạm vi toàn thế giới, các chính đảng vô sản cầm quyền tại các nước
XHCN, cũng như các đảng cộng sản và công nhân trên toàn cầu đều không thể coi
nhẹ đấu tranh tư tưởng, công tác lý luận [101, tr. 763].
Lý luận mác xít chỉ rõ, trong xã hội có giai cấp tất yếu có đấu tranh giai cấp,
trong đó có đấu tranh kinh tế, đấu tranh chính trị, đấu tranh văn hoá... Đấu tranh tư
tưởng diễn ra suốt quá trình đấu tranh giai cấp, đi cùng đấu tranh kinh tế, chính trị,
văn hoá... Dưới chủ nghiã tư bản, cuộc đấu tranh giai cấp diễn ra quyết liệt, phức
tạp. Đấu tranh ý thức hệ là đấu tranh tư tưởng, luôn luôn gắn liền với đấu tranh lý
luận. Đảng ta nêu thuật ngữ “tư tưởng, lý luận” là cụ thể hoá thuật ngữ hệ tư tưởng,
nhằm chỉ ra cuộc đấu tranh tư tưởng ở nước ta bao gồm đấu tranh trên các quan
điểm, học thuyết lý luận.
Để chống lại các thế lực phản động, bảo thủ, trước hết phải chống lại chúng
trên mặt trận tư tưởng - lý luận. Giai cấp tư sản đã từng làm cuộc cách mạng văn
hoá (Thời kỳ phục hưng ở Châu âu), thực chất là đấu tranh tư tưởng để chuẩn bị
tiền đề cho cuộc cách mạng chính trị, giành chính quyền, lật đổ chế độ phong kiến.


C.Mác và Ph.Ăngghen đã tự giải phóng mình khỏi hệ tư tưởng tư sản, xây
dựng hệ tư tưởng độc lập cho giai cấp công nhân và đấu tranh chống hệ tư tưởng tư
sản ảnh hưởng trong phong trào công nhân. V.I.Lênin còn nhấn mạnh: “Không có
gì quan trọng bằng... bảo vệ những cơ sở lý luận và những nguyên lý cơ bản của
chủ nghĩa Mác đang bị những phe đối lập nhất xuyên tạc bằng cách gieo rắc ảnh
hưởng tư sản vào “những bạn đường” khác nhau của chủ nghĩa Mác”[36, tr. 104].
Cuộc ĐTTT-LL mà Đảng và nhân dân ta đang tiến hành là một hình thức của

sai trái.
Trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, C.Mác và Ph.Ăngghen đã khẳng định:
“Những tư tưởng thống trị của một thời đại bao giờ cũng chỉ là những tư tưởng của
giai cấp thống trị” [47, tr. 625], bất cứ quan điểm lý luận nào, một học thuyết nào
cũng đều mang dấu ấn của giai cấp, phản ánh lợi ích của một giai cấp nhất định (trong
xã hội có giai cấp). Khi xã hội loài người phát triển đến giai đoạn TBCN, cuộc đấu
tranh giai cấp trở lên quyết liệt nhất. Giai cấp tư sản dùng mọi âm mưu, thủ đoạn để
bảo vệ cho lợi ích của mình, duy trì và bảo vệ chế độ tư hữu - nguồn gốc nảy sinh áp
bức, bóc lột. Hệ tư tưởng của giai cấp tư sản đóng vai trò chủ đạo, chi phối toàn bộ tư
tưởng xã hội, luôn bênh vực, bảo vệ chế độ tư bản, công kích quyết liệt vào các tư
tưởng đối địch. Giai cấp công nhân phát triển thành một lực lượng tiên tiến, có hệ tư
tưởng độc lập, đứng lên tập hợp tất cả các giai tầng bị áp bức, bóc lột, đấu tranh nhằm
lật đổ sự thống trị của giai cấp tư sản và chế độ TBCN, xoá bỏ mọi nguồn gốc nảy
sinh chế độ người bóc lột người. Hệ tư tưởng của giai cấp công nhân, đánh dấu bằng
sự ra đời của chủ nghĩa Mác đã trở thành học thuyết soi đường cho cuộc đấu tranh của
giai cấp công nhân và nhân dân lao động chống lại giai cấp tư sản. Vì thế, nó vấp phải
sự chống phá quyết liệt của hệ tư tưởng và giai cấp tư sản, nhất là giới lý luận gia tư
sản. Đúng như V.I.Lênin nhận xét, học thuyết của Mác đã gây ra sự cừu địch mạnh
nhất và lòng căm thù trong toàn thế giới khoa học tư sản, giới khoa học này xem chủ
nghĩa Mác như một môn phái có hại. Thực tiễn lịch sử cho thấy, trong một xã hội có
giai cấp và đấu tranh giai cấp thì không thể có một KHXH “vô tư”. Toàn bộ khoa học
chính trị, xã hội của giai cấp tư sản, của các thế lực phản động đều bênh vực, bằng
cách này hay cách khác cho chế độ nô lệ làm thuê, chế độ áp bức bóc lột; còn Chủ


nghĩa Mác thì quyết liệt tuyên chiến với chế độ nô lệ, chế độ áp bức bóc lột ấy.
Trong xã hội có giai cấp, không thể có hệ tư tưởng phi giai cấp; đòi hỏi KHXH “phi
tính đảng” là sự “khờ dại, ngây thơ”. V.I.Lênin còn nói rõ hơn, chỉ có hệ tư tưởng tư
sản hoặc hệ tư tưởng XHCN, không có hệ tư tưởng trung gian, “thứ ba” nào cả. Mọi
sự coi nhẹ tư tưởng XHCN đều có nghĩa là tăng cường hệ tư tưởng tư sản [35, tr. 45,

chất lượng và hiệu quả ĐTTT-LL của chủ thể, là thước đo trình độ năng lực
ĐTTT-LL.
Như vậy, tính đảng là một yêu cầu đặc biệt quan trọng trong năng lực ĐTTTLL của chủ thể, và được thể hiện tập trung ở ý thức, quan điểm, lập trường chính
trị tiến bộ, giải phóng mọi tiềm năng sáng tạo, hướng tới sự phát triển tốt đẹp hơn,
cao hơn, hoàn thiện hơn, vì con người và vì xã hội. Bồi dưỡng tính đảng phải là
một nội dung vô cùng quan trọng trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, giảng viên
KHXH và hoạt động ĐTTT-LL. Cho nên, điểm quyết định để có năng lực ĐTTTLL là phải có tính đảng.
Tính khoa học của năng lực ĐTTT-LL được thể hiện ở chiều sâu tri thức
khoa học và phương pháp lôgíc chặt chẽ. Năng lực ĐTTT-LL đó dựa trên cơ sở
CNM-LN, là học thuyết mang bản chất khoa học và cách mạng. Thế giới quan,
phương pháp luận mác xít đòi hỏi mọi vấn đề phải được giải quyết trên cơ sở tôn
trọng khách quan, bảo đảm tính lịch sử, cụ thể với quan điểm biện chứng; phù hợp
với quy luật vận động, phát triển của hiện thực xã hội và thời đại; vận dụng đúng
đắn và sáng tạo các quy luật; bảo đảm tính khoa học và nghệ thuật trong tuyên
truyền, luận chứng khoa học và thuyết phục để quần chúng hiểu và hành động theo
lý luận Mác- Lênin; biết huy động những kiến thức các khoa học khác (tâm lý, sư
phạm...) vào hoạt động ĐTTT-LL v. v.
Tính khoa học của năng lực ĐTTT-LL thể hiện trong sử dụng hệ thống kiến
thức đã được kiểm chứng (chân lý), bằng cả lý luận và thực tiễn; tạo sự tin cậy về
khoa học và làm tăng tính thuyết phục trong việc bảo vệ CNM-LN, TTHCM, quan
điểm, đường lối của Đảng; vạch trần và đánh bại các quan điểm sai trái, phản
động. Điều đó có nghĩa là trong quá trình ĐTTT-LL phải sử dụng những kiến thức
khoa học, quan điểm chính thống của Đảng để lý giải hoặc phân tích các sự kiện và
hiện tượng của đời sống xã hội.


Đồng thời, tính khoa học của năng lực ĐTTT-LL đòi hỏi phải quán triệt quan
điểm lịch sử cụ thể, quan điểm biện chứng để xem xét, đánh giá các vấn đề ĐTTTLL. Nghĩa là chủ thể khi phân tích, đánh giá bất cứ một vấn đề cụ thể nào phải đặt
nó trong những điều kiện không gian, thời gian nhất định; chỉ rõ quá trình vận
động, biến đổi và phát triển của nó; tìm ra bản chất và phải vạch rõ con đường,

khiếm khuyết cần bổ sung của lý luận; những thuận lợi và khó khăn, những thành
công và thất bại, những ưu điểm và thiếu sót của sự nghiệp cách mạng; khắc phục
thói “tô hồng” làm cho quần chúng say sưa với thành tích, thắng lợi mà không
thấy hết khó khăn, khuyết điểm; mặt khác, kiên quyết chống lại hiện tượng “bôi
đen”, khuyếch trương quá mức sai lầm, khuyết điểm, khó khăn tạm thời mà
không thấy hoặc phủ nhận thành tích thắng lợi, gây hoang mang, dao động cho
quần chúng. V.I.Lênin đã từng chỉ rõ: “…giai cấp vô sản cần biết sự thật, và
chẳng có gì tai hại hơn cho sự nghiệp của họ bằng những lời dối trá có vẻ đẹp đẽ
và êm tai của bọn tiểu tư sản”[37, tr. 112].
Tính khoa học của năng lực ĐTTT-LL còn đòi hỏi chủ thể phải nghiên cứu
đặc điểm của đối tượng tiếp nhận tuyên truyền, nắm vững quy luật của quá trình
nhận thức, sử dụng các hình thức, phương pháp thích hợp, nhằm giữ vững trận địa
chính trị - tư tưởng trong cán bộ, đảng viên và nhân dân ta; ngăn chặn, hạn chế và
đi đến loại bỏ tác hại của các quan điểm sai trái. Tiến hành hoạt động ĐTTT-LL
một cách khoa học cần phải vận dụng những thành tựu mới của khoa học tâm lý,
khoa học sư phạm, tổng kết kinh nghiệm ĐTTT-LL của Đảng, tiếp thu nghiêm túc
những bài học về ĐTTT-LL của các Đảng Cộng sản anh em, học hỏi các tấm
gương ĐTTT-LL của các lãnh tụ cách mạng, tạo cơ sở khoa học vững chắc cho
phát triển năng lực ĐTTT-LL. Toàn bộ việc luận giải, phê phán các quan điểm sai
trái, phản động phải bảo đảm sự lôgíc chặt chẽ, không mâu thuẫn và dựa trên
chứng cứ khoa học, không bao giờ được áp đặt.
Năng lực ĐTTT-LL mang tính nghệ thuật sâu sắc. Điều đó thể hiện trong các
hoạt động của chủ thể, khi họ sử dụng ngôn ngữ, hình thức, phương pháp đấu
tranh; thực hiện các giao tiếp, ứng xử, tổ chức lực lượng... Những công việc đó
ngoài yêu cầu về tính đảng, tính khoa học còn phải có tính nghệ thuật, gây thiện
cảm, đồng tình, ủng hộ với chủ thể, góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả
ĐTTT-LL.


Tính nghệ thuật của năng lực ĐTTT-LL đặt ra yêu cầu rất cao cho chủ thể.

Tính đảng, tính khoa học và tính nghệ thuật của năng lực ĐTTT-LL luôn có
sự thống nhất, quan hệ biện chứng tác động thúc đẩy lẫn nhau. Cả ba đặc tính này
xét đến cùng chính là trình độ trí tuệ khoa học, đạo đức, động cơ, lập trường, quan
điểm chính trị. Tổng hợp những cái đó là năng lực văn hoá chính trị như cách nói
của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đặc thù hoạt động ĐTTT-LL đã đòi hỏi rất cao tính
đảng mác xít, tính khoa học và tính nghệ thuật. Hơn nữa, trong các KHXH và hoạt
động ĐTTT-LL có sự thống nhất biện chứng giữa tính đảng với tính khoa học và
tính nghệ thuật. Cơ sở của sự thống nhất biện chứng đó là sự phù hợp giữa mục
đích của các KHXH và hoạt động ĐTTT-LL với các quy luật phát tiển xã hội, với
ý nguyện của quần chúng nhân dân lao động và khát vọng lâu đời của nhân loại.
Quan niệm đối lập, tuyệt đối hoá hoặc tách rời tính đảng với tính khoa học và tính
nghệ thuật là của chủ nghĩa duy tâm chủ quan, siêu hình. Thiếu tính đảng trong
năng lực ĐTTT-LL thì hoạt động ĐTTT-LL không chỉ mắc sai lầm về chính trị,
mà còn sai lầm về phương diện khoa học, và thiếu đi tính hấp dẫn, thuyết phục.
Nhưng chỉ có tính đảng mà thiếu tính khoa học và nghệ thuật thì năng lực ĐTTTLL không thể bền vững, khi đó hoạt động ĐTTT-LL chỉ như kiểu “hô khẩu hiệu”,
ít khả năng thuyết phục và kém hiệu quả. Ngược lại, năng lực ĐTTT-LL có tính
đảng và tính khoa học nhưng thiếu tính nghệ thuật thì hoạt động ĐTTT-LL của chủ
thể dễ rơi vào khô khan, cứng nhắc, khó gây thiện cảm, đồng tình, ủng hộ của
người tiếp nhận. Do đó, năng lực ĐTTT-LL của chủ thể chỉ thực sự vững mạnh khi
mang đầy đủ tính đảng, tính khoa học và tính nghệ thuật, có sự thống nhất biện
chứng của chúng.
Giảng viên KHXH ở các NTQĐ nhân dân Việt Nam với ĐTTT-LL.
Giảng viên KHXH ở các NTQĐ là người được đào tạo chuyên sâu về KHXH
(trình độ đại học trở lên) và nghiệp vụ sư phạm, có đủ phẩm chất và năng lực đảm
trách công việc giảng viên KHXH; được giao nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục và
nghiên cứu khoa học về một hoặc một số bộ môn thuộc KHXH ở các NTQĐ.
Ngoài ra, xét về chuyên môn, nghiệp vụ, đặc điểm hoạt động, giảng viên
KHXH ở các NTQĐ được coi là “trí thức”, được xã hội và quân đội tôn vinh là
“nhà giáo” và thuộc loại hình “cán bộ chính trị” (theo Luật Sĩ quan). Bình thường,


giảng viên cao cấp, phó giáo sư, giáo sư.


Mặt khác, KHXH được phân thành nhiều môn (các nhà trường quân đội đang
giảng dạy từ 24- 27 chuyên ngành KHXH [41, tr. 55]) nên năng lực và nhiệm vụ
ĐTTT-LL của giảng viên KHXH không giống hệt nhau. Do đặc thù chuyên ngành,
các môn Triết học, Kinh tế chính trị học, Chủ nghĩa xã hội khoa học, TTHCM...
đòi hỏi ĐTTT-LL rất cao. Tác giả luận án chủ yếu đề cập đến giảng viên các môn
khoa học này. Song không vì thế mà xem nhẹ ĐTTT-LL ở các môn Dân tộc học,
Tâm lý học, Giáo dục học...
Tuy có những điểm khác biệt nhất định, giảng viên KHXH ở các NTQĐ đều
là một bộ phận của đội ngũ làm công tác tư tưởng- lý luận và giáo dục- đào tạo cán
bộ về KHXH, có nhiệm vụ ĐTTT-LL. Việc tham gia ĐTTT-LL của giảng viên
KHXH gắn liền với hoạt động của họ tại các NTQĐ.
Giảng viên KHXH ở các NTQĐ tham gia vào nhiều hoạt động như: giảng
dạy, nghiên cứu khoa học, ĐTTT-LL, các hoạt động lãnh đạo chỉ huy; các giao
tiếp ứng xử trong và ngoài quân đội. Tuy nhiên, chức năng cơ bản nhất của họ
là giáo dục- đào tạo. Việc ĐTTT-LL cũng chủ yếu thực hiện trong quá trình giáo
dục - đào tạo. Ở đây, tác giả tập trung đề cập hoạt động của giảng viên này theo
chức trách nhiệm vụ chủ yếu của họ.
Hoạt động chủ yếu, cơ bản nhất của giảng viên KHXH là giáo dục- đào tạo
cán bộ, sĩ quan đáp ứng yêu cầu xây dựng quân đội về chính trị. Họ truyền thụ cho
học viên những tri thức KHXH, trang bị thế giới quan, nhân sinh quan, phương
pháp luận của CNM-LN, TTHCM, quan điểm đường lối, chủ trương, chính sách
của Đảng và Nhà nước; giáo dục nguyên tắc và nghiệp vụ CTĐ, CTCT đáp ứng
yêu cầu đào tạo, bồi dưỡng bản lĩnh chính trị, nhân cách đạo đức và kỹ năng công
tác theo chức trách từng loại cán bộ. Do đó, hoạt động của giảng viên KHXH ở các
NTQĐ mang đậm tính chính trị sâu sắc trong đặc thù lĩnh vực quân sự, biểu hiện
tập trung là quán triệt sâu sắc cho cán bộ, học viên quân đội nguyên tắc: quân sự
phục tùng chính trị, đường lối quân sự phục tùng đường lối cách mạng của Đảng,

“chống” là phê phán, vạch trần những quan điểm tư tưởng sai lầm, phản động của
các thế lực thù địch, những tư tưởng tiêu cực (chủ nghĩa cá nhân, quan liêu...) từ
trong nội bộ chúng ta, loại bỏ những nhận thức và hành vi lệch lạc, những tác động
tiêu cực từ nhiều phía đến người học viên; chủ động ngăn ngừa những khuynh


hướng và điều kiện phát sinh nhận thức và hành vi không đúng đắn, có hại. Hoạt
động “xây” và “chống” diễn ra đồng thời, đan xen và có quan hệ biện chứng.
Để “chống” có hiệu quả, giảng viên KHXH ở các nhà trường quân đội phải
xác định chính xác và đầy đủ đối tượng ĐTTT-LL. Đối tượng đó (cũng cho cả giới
lý luận nước nhà) là kẻ địch ở bên ngoài, kẻ địch ở bên trong và ở chính trong nội
bộ Đảng, nội bộ quân đội và nhân dân ta.
Kẻ địch ở bên ngoài là các thế lực thù địch, là các trào lưu tư tưởng- lý luận
của bọn tư sản đế quốc, là những âm mưu DBHB...
Kẻ địch ở bên trong là chủ nghĩa cá nhân, là nạn tham nhũng và tệ quan liêu.
Theo Bác Hồ, chủ nghĩa cá nhân, nạn tham nhũng là những căn bệnh nguy hiểm,
từ đó sinh ra các bệnh khác như: tham lam, lười biếng, kiêu ngạo, hiếu danh, mất
dân chủ, hẹp hòi... mỗi chứng bệnh là một kẻ địch. Mỗi kẻ địch bên trong là một
bạn đồng minh của kẻ địch bên ngoài. Địch bên trong đáng sợ hơn, vì nó phá hoại
từ trong phá ra [57, tr. 238 và 239]. Chủ tịch Hồ Chí Minh coi cuộc vận động nâng
cao ý thức trách nhiệm, tăng cường giáo dục, quản lý chống chủ nghĩa cá nhân,
tham ô, lãng phí, quan liêu là một cuộc cách mạng nội bộ, một cuộc đấu tranh gay
go giữa cái tốt và cái xấu, cái tiến bộ và cái lạc hậu, giữa đạo đức cách mạng là
cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư và kẻ địch là nạn tham ô, lãng phí, quan liêu
[66, tr. 578].
V.I.Lênin cũng đã chỉ rõ kẻ địch ở bên trong (mà chúng ta thấy rất đúng với
tình hình hiện nay): “Theo tôi, hiện giờ có ba kẻ thù chính đang dứng trước mỗi
người, bất kể người đó làm việc gì, ở cương vị nào... Trước mặt họ ba kẻ thù chính
ấy là: kẻ thù thứ nhất- tính kiêu ngạo cộng sản chủ nghĩa; kẻ thù thứ hai- nạn mù
chữ; kẻ thù thứ ba- nạn hối lộ”[39, tr. 217].

chỉ trích thân mật những chỗ nhu nhược của bạn đồng minh; có thứ chỉ trích
nghiêm khắc kẻ long lay, dụ dự để mong kéo họ về mình”[11, tr. 640].
Nhiều Nghị quyết của Đảng cộng sản Việt Nam đã nêu cao tinh thần đấu
tranh trong nội bộ Đảng ta để Đảng tiếp tục vững bước tiến lên giành thắng lơị mới
như: Nghị quyết Đại hội Đảng VI...Nghị quyết Đại hội Đảng IX...Ví dụ: Đảng ta
có hẳn Nghị quyết về công tác xây dựng Đảng hiện nay (Nghị quyết Trung ương
sáu (lần 2) khoá VIII). Trong đó chỉ ra trong Đảng đang bộc lộ những yếu kém,



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status