LUẬN văn THẠC sĩ VAI TRÒ của QUÂN đội TRONG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN lực PHỤC vụ CÔNG NGHIỆP hóa HIỆN đại hóa ở nước TA HIỆN NAY - Pdf 40

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU
Chương NGUỒN NHÂN LỰC VÀ VAI TRÒ CỦA QUÂN
1

Trang
03

ĐỘI TRONG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC
PHỤC VỤ CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ

1. 1.
1. 2.

Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
Nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực
Vai trò của quân đội trong phát triển nguồn nhân lực phục vụ

11
11

26

1.3.

công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta hiện nay
Những thành tựu và hạn chế trong phát huy vai trò
của quân đội trong phát triển nguồn nhân lực phục vụ

công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta hiện nay

88

86


PHỤ LỤC

93


BẢNG CHỮ VIẾT TẮT

VIẾT ĐẦY ĐỦ

VIẾT TẮT

Chính trị quốc gia

CTQG

Chủ nghĩa xã hội

CNXH

Công nghiệp hoá, hiện đại hoá

CNH,HĐH

Đảng uỷ quân sự Trung ương


thành xu hướng phát triển tất yếu của nền kinh tế thế giới hiện nay thì NNL
trở thành nguồn lực chủ yếu giữ vai trò quyết định đối với sự phát triển.
Trong sự nghiệp đổi mới và đẩy mạnh CNH,HĐH đất nước hiện nay, Đảng
ta xác định phát triển GDĐT con người Việt Nam là một trong những nhiệm vụ
quan trọng, là “quốc sách hàng đầu” quyết định sự thành công của cách mạng
Việt Nam. Tuy nhiên, chất lượng GDĐT của chúng ta còn thấp với nhiều yếu
kém và bất cập, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển của nền kinh tế. Do vậy, phát
triển NNL là đòi hỏi bức thiết, khách quan để đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đẩy
mạnh CNH,HĐH, là yếu tố hàng đầu bảo đảm cho sự phát triển bền vững của đất
nước.
Quân đội ta với chức năng là đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội
quân sản xuất, vừa phải làm tốt những chức năng trên vừa phải tham gia vào
quá trình CNH,HĐH đất nước. Với những tiềm năng về nhân lực, về khoa học
công nghệ và kinh nghiệm trong công tác đào tạo, quân đội là một trong
những nguồn lực của quốc gia không chỉ góp phần thực hiện thắng lợi sự
nghiệp CNH,HĐH đất nước mà còn trực tiếp tham gia đào tạo, phát triển
NNL cho các mục tiêu kinh tế xã hội và quốc phòng, an ninh trong giai đoạn


4
hiện nay. Một trong những nội dung đó là tham gia đào tạo, phát triển NNL
phục vụ CNH,HĐH ở nước ta hiện nay. Thực tiễn trong thời gian qua
HTNTQĐ và các đơn vị trong toàn quân đã và đang có những đóng góp to lớn
trong sự nghiệp CNH,HĐH nói chung và phát triển NNL nói riêng.
Với mong muốn nghiên cứu một cách hệ thống nhằm làm rõ thêm cơ sở
lý luận và thực tiễn của vấn đề này, tác giả lựa chọn đề tài “Vai trò của quân
đội trong phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại
hoá ở nước ta hiện nay” làm nội dung nghiên cứu của luận văn.
2.Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Ở nước ta, vấn đề NNL và phát triển NNL trong quá trình CNH,HĐH đã

Cuốn sách đã khái quát những kinh nghiệm về phát triển NNL của các nước
phát triển trên thế giới. Tuy nhiên, cuốn sách chưa trình bày nội dung tổng quát
của phát triển NNL như chăm sóc sức khoẻ, nâng cao mức sống, việc làm… mà
tập trung vào lĩnh vực GDĐT - yếu tố quyết định phát triển NNL.


6
- Từ chiến lược phát triển giáo dục đến chính sách phát triển nguồn
nhân lực của Viện phát triển giáo dục, H, 2002.
Cuốn sách đã tập hợp kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học và các
nhà quản lý ở nhiều lĩnh vực khoa học kinh tế và xã hội khác nhau với mục
tiêu thống nhất quan điểm, chính sách về phát triển NNL. Đồng thời, đề xuất
một khung chính sách phát triển NNL nhằm triển khai thành công các mục
tiêu đề ra trong chiến lược phát triển GDĐT.
- Phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước của Tiến sĩ Nguyễn Thanh, Nxb CTQG, H, 2005.
Tác giả đã luận giải rõ: phát triển NNL là yếu tố quyết định sự thành
công của sự nghiệp CNH,HĐH, đồng thời nêu lên một số thực trạng về phát
triển NNL có chất lượng, trên cơ sở đó đưa ra một số định hướng chủ yếu
trong phát triển NNL cho CNH,HĐH ở nước ta hiện nay.
- “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu đổi mới và hội
nhập quốc tế” của Tiến sĩ Phạm Công Nhất, Tạp chí Lý luận chính trị, số
3/2008.
Tác giả đã khái quát kết quả hơn hai mươi năm đổi mới đất nước và hơn
một năm gia nhập Tổ chức thương mại thế giới, đồng thời chỉ rõ thực trạng
phát triển NNL ở nước ta và đưa ra một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao
chất lượng NNL đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế và sự nghiệp
CNH,HĐH đất nước.



Tác giả đã làm rõ một số vấn đề lý luận cơ bản về CNH,HĐH ở Việt
Nam, đồng thời làm rõ vai trò của quân đội trong sự nghiệp CNH,HĐH đất
nước và những giải pháp chủ yếu để tiến hành CNH, HĐH cũng như sử dụng
nguồn lực quân đội trong quá trình đó.
- “Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước với công cuộc củng
cố nền quốc phòng toàn dân, xây dựng Quân đội nhân dân” của Đoàn Khuê,
Xây dựng quân đội trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước,
Nxb QĐND, H, 1997.
Tác giả nói về mục tiêu, quan điểm, tư tưởng cơ bản của CNH,HĐH mà
Đảng ta đã khẳng định. Đồng thời chỉ rõ: sự nghiệp CNH,HĐH đất nước theo
định hướng XHCN càng vĩ đại, thì trách nhiệm xây dựng, củng cố nền quốc
phòng toàn dân vững mạnh, xây dựng Quân đội nhân dân chính quy, hiện đại
càng là yêu cầu bức thiết.


9
- Tác động của đào tạo NNL trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đến củng cố quốc phòng ở nước ta hiện nay của Bùi Thúc Vịnh, Luận
văn cao học Kinh tế chính trị, Học viện Chính trị quân sự, 2000.
Tác giả đã làm rõ tính cấp thiết của đào tạo NNL cho CNH,HĐH và tác
động của nó đối với củng cố nền quốc phòng. Trên cơ sở đó, đề xuất các quan
điểm, giải pháp cơ bản để công tác đào tạo NNL vừa đáp ứng nhu cầu
CNH,HĐH vừa đáp ứng nhu cầu củng cố nền quốc phòng toàn dân.
- Phát triển thị trường sức lao động và tác động của nó đến đảm bảo
NNL cho QĐNDVN hiện nay của Trần Văn Ban, Luận văn cao học kinh tế
chính trị, Học viện Chính trị quân sự, 2006.
Tác giả đã phân tích sự phát triển của thị trường sức lao động trong nền kinh
tế thị trường định hướng XHCN và tác động của nó đến đảm bảo NNL cho
QĐNDVN. Trên cơ sở đó đề xuất quan điểm, giải pháp thúc đẩy sự phát triển của
thị trường lao động gắn với bảo đảm NNL cho quân đội trong giai đoạn hiện nay.

làm đề tài nghiên cứu.


11
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu vai trò của quân đội trong phát
triển NNL cả về số lượng và chất lượng trên cả hai bình diện: thứ nhất, khai
thác có hiệu quả tiềm năng của quân đội trong phát triển NNL, một mặt đáp
ứng nhu cầu về NNL cho xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ,
từng bước hiện đại; mặt khác, tham gia phát triển NNL cho CNH,HĐH đất
nước. Thứ hai, nâng cao khả năng đào tạo NNL của quân đội; đồng thời gắn
với việc huy động mọi nguồn lực của xã hội để tạo sự chuyển biến mạnh về
chất lượng NNL đáp ứng nhu cầu quân sự, quốc phòng và phát triển kinh tế xã hội trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.
- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu vai trò của quân
đội, trong đó chủ yếu là HTNTQĐ trong phát triển NNL gắn với quá trình
CNH,HĐH đất nước trong thời kỳ đổi mới trên cơ sở tư duy mới của Đảng ta
về kinh tế, chính trị, quân sự, quốc phòng và an ninh.
4. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Mục đích:
Luận giải cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò của quân đội trong phát
triển NNL phục vụ sự nghiệp CNH,HĐH đất nước, trên cơ sở đó đề xuất
một số định hướng và giải pháp nhằm phát huy vai trò của quân đội trong
quá trình này.
Nhiệm vụ:


12
- Luận giải cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò của quân đội trong phát
triển NNL phục vụ CNH,HĐH.
- Phân tích vai trò của quân đội trong phát triển NNL phục vụ

Chương 1
NGUỒN NHÂN LỰC VÀ VAI TRÒ CỦA QUÂN ĐỘI TRONG PHÁT
TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC PHỤC VỤ CÔNG NGHIỆP HOÁ,
HIỆN ĐẠI HOÁ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
1.1. Nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực
1.1.1. Nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực là một trong những nguồn lực quan trọng nhất để phát
triển kinh tế - xã hội, vì vậy, các quốc gia trên thế giới đều quan tâm nghiên
cứu NNL. Tuy mỗi quốc gia có khái niệm khác nhau về NNL nhưng nhìn
chung NNL được xem xét dưới các góc độ như số lượng, chất lượng và cơ
cấu.
Theo Từ điển thuật ngữ của Pháp (1977-1985), NNL xã hội bao gồm
những người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động và mong muốn có
việc làm. Theo quan điểm này, những người trong độ tuổi lao động có khả
năng lao động nhưng không muốn có việc làm thì không phải là NNL xã hội.
Trong khi đó, ở Úc NNL bao gồm toàn bộ những người bước vào tuổi lao
động, có khả năng lao động. Như vậy, quan niệm này không giới hạn cuối về
tuổi lao động và có hay không có mong muốn có việc làm của những người
tuy đã bước vào tuổi lao động, có khả năng lao động.
Theo Lưu Tĩnh Noãn: “Nguồn nhân lực là nhân khẩu có năng lực lao
động tất yếu, thích ứng được với nhu cầu phát triển kinh tế và xã hội. Nghĩa
rộng của tài nguyên nhân lực là chỉ tổng nhân khẩu xã hội. Tài nguyên nhân


15
lực là tiền đề vật chất của tái sản xuất xã hội. Đặc điểm chủ yếu: tài nguyên
nhân lực là động lực và chủ thể phát triển trong tái sản xuất xã hội, có tính
năng động. Tài nguyên nhân lực có chu kỳ sống, nếu không lợi dụng hợp lí,
có thể hạ thấp, thậm chí mất đi, do vậy nó có tính thời điểm. Tài nguyên
nhân lực chịu sự khống chế của phương thức sản xuất xã hội, nên có tính xã

lực lao động tồn tại trong cơ thể con người, do con người đảm nhận.
Do vậy, NNL là nơi bắt đầu, nơi phát sinh, nơi cung cấp sức lao động
được dùng trong lao động sản xuất. Từ đó, có thể hiểu, NNL theo nghĩa rộng
và nghĩa hẹp. Nghĩa hẹp, NNL “Là nhân khẩu có năng lực lao động tất yếu,
thích ứng được với nhu cầu phát triển kinh tế và xã hội” [8, tr.1064]; mà nhân
khẩu là “người trong một gia đình, một địa phương” [54, tr.710]. Tiến sĩ kinh
tế Trần Thị Tuyết Mai đưa ra khái niệm NNL (theo nghĩa hẹp và có thể lượng
hoá được): “Nguồn nhân lực là bộ phận của dân số bao gồm những người trong
độ tuổi quy định, có khả năng lao động” [41, tr.17]. Nghĩa rộng, NNL được


17
hiểu với tư cách là tổng hợp cá nhân, những con người cụ thể tham gia vào quá
trình lao động, gồm tổng thể các yếu tố về thể chất và tinh thần được huy động
vào quá trình lao động. Tiến sĩ Hà Quý Tình cho rằng: “Nguồn nhân lực là toàn
bộ sức lao động của những người trong độ tuổi lao động có khả năng huy động
trong các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội” [50, tr.6].
Xuất phát từ đặc điểm kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, đạo đức,
truyền thống cũng như tính chất và đặc điểm của việc tổ chức và xây dựng
nền quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân ở Việt Nam, thì những
người ở ngoài độ tuổi lao động có nhu cầu làm việc họ vẫn tham gia hoạt
động trong những lĩnh vực mà họ có khả năng; mặt khác, trong điều kiện
chiến tranh, bộ phận dân cư được huy động vào quá trình sản xuất của xã
hội hoặc các hoạt động phục vụ chiến tranh có thể ngoài cả lứa tuổi lao
động theo luật pháp hiện hành.
Từ những vấn đề trên, tác giả cho rằng: NNL là một nguồn lực đặc biệt
của xã hội bao gồm bộ phận dân cư trong độ tuổi lao động có khả năng lao
động và có nhu cầu lao động.
Nghiên cứu NNL, cần phải nghiên cứu cả về số lượng, chất lượng và cơ cấu.
Số lượng được biểu hiện thông qua các chỉ tiêu về quy mô và tốc độ tăng của

nhằm nâng cao kiến thức và kỹ năng cho công việc đang làm hoặc công việc
mới, làm cho con người trở thành những người lao động có năng lực và phẩm
chất đáp ứng được yêu cầu sử dụng lao động của các ngành, lĩnh vực trong nền
kinh tế. Để thực hiện điều đó phải tiến hành bằng một số nội dung: “1) Mở
rộng bồi dưỡng huấn luyện và chỉ đạo việc làm, một mặt, thông tin ra xã hội về
nhu cầu sức lao động; mặt khác, tại các loại trường lớp bồi dưỡng việc làm, chỉ
đạo việc lựa chọn nghề như thế nào cho chính xác; 2) Đặt ra việc xúc tiến các
biện pháp điều chỉnh cơ cấu các sản nghiệp về việc làm, cổ vũ người lao động
có việc làm; 3) Hoàn thiện việc bảo hiểm thất nghiệp và tiến hành bồi dưỡng
huấn luyện chuyên nghiệp, xúc tiến tái nhận việc; 4) Triển khai huấn luyện tại
chức khiến cho người lao động giỏi một nghề, thạo nhiều nghề; 5) Cần thông
qua giáo dục phổ thông và giáo dục nghề nghiệp, xúc tiến việc làm; 6) Đặt ra
chính sách lao động đặc thù đối với những vùng kinh tế lạc hậu và nông thôn;
7) Dự đoán sự biến đổi các hình thức việc làm trong tương lai và tình trạng
cung, cầu sức lao động trong tương lai. Thường xuyên làm tốt công tác tuyên
truyền trong nhân dân để những người tìm việc có hành vi, thái độ chọn việc
đúng đắn. Tiến hành mở mang, phát triển nguồn nhân lực, nên đặc biệt coi
trọng phát triển năng lực có tổ chức, đề cao hiệu suất công tác của họ. Đồng
thời, sử dụng thoả đáng những nhân viên có kỹ năng đạt mức người tài làm hết


20
sức mình, tiến hành kiểm tra các hoạt động đã được triển khai, đánh giá xem
xét có đạt được mục tiêu dự kiến của từng thời kỳ hay không” [8, tr.1064].
Đối với Việt Nam càng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, nó thể hiện được
bản chất và tính ưu việt của chế độ XHCN. Mở rộng cơ hội lựa chọn, nâng
cao năng lực hoạt động của con người; tạo điều kiện cho mọi người có cơ hội
lựa chọn, tiếp cận việc giáo dục tốt hơn, các dịch vụ y tế tốt hơn, chỗ ở tiện
nghi hơn và việc làm đúng người, đúng việc, đúng khả năng hơn.
Chương trình phát triển của Liên hợp quốc (UNDP), đưa ra năm yếu tố

sức lao động); Môi trường NNL (mở rộng chủng loại việc làm, mở rộng quy
mô việc làm, phát triển tổ chức tạo việc làm). Trong đó, phát triển NNL có ý
nghĩa đặc biệt quan trọng trong hệ thống quản lý NNL quốc gia, là cơ sở để
phát huy có hiệu quả các nguồn lực khác. Đảng ta khẳng định: “Muốn tiến
hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá thắng lợi phải phát triển mạnh giáo dục đào tạo, phát huy nguồn lực con người, yếu tố cơ bản của sự phát triển nhanh
và bền vững” [15, tr.19].


22
Đại hội IX, Đại hội X, Đảng ta tiếp tục khẳng định quan điểm trên, đặc
biệt trong điều kiện Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới và hội
nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng. Đẩy mạnh CNH,HĐH gắn với phát
triển kinh tế tri thức, tranh thủ các cơ hội thuận lợi do bối cảnh quốc tế tạo ra
và tiềm năng, lợi thế của đất nước để rút ngắn quá trình CNH,HĐH đất nước
theo định hướng XHCN. Trong đó, vấn đề NNL, NNL chất lượng cao càng
đặt ra yêu cầu bức thiết cho phát triển kinh tế - xã hội.
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu về NNL, phát triển NNL đã trình bày
trên đây, xuất phát từ yêu cầu về NNL của quá trình CNH,HĐH ở nước ta
hiện nay có thể đưa ra khái niệm về phát triển NNL như sau:
Phát triển NNL là tổng thể các cơ chế, chính sách và biện pháp nhằm
hoàn thiện và nâng cao chất lượng NNL với cơ cấu và số lượng hợp lý, chất
lượng cao đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu sử dụng lao động của xã hội.
Nghiên cứu vấn đề NNL và phát triển NNL để đưa ra khái niệm trên,
không chỉ đơn thuần là tìm hiểu nội hàm của khái niệm, mà đó còn là cơ sở
quan trọng để đưa ra đường lối, chính sách, chủ trương, cơ chế đúng trong
đào tạo, bồi dưỡng và phát triển NNL. Đây còn là cơ sở định hướng cho
việc nuôi dưỡng, khơi dậy và phát huy tốt tiềm năng con người, nhờ đó mà
khai thác có hiệu quả các nguồn lực khác phục vụ sự nghiệp CNH,HĐH đất
nước trong thời gian tới.


bộ, chưa phát huy vai trò của các cơ quan, tổ chức và cá nhân trong tham gia phát
triển NNL phục vụ CNH,HĐH; chưa liên kết được các khâu, các cấp của quá
trình đào tạo nhằm đảm bảo chất lượng NNL được đào tạo; cơ chế phát triển và sử
dụng NNL còn nhiều bất cập hạn chế, gây lãng phí lớn cho cả nhà nước và cá
nhân.
Về chính sách, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến vấn đề GDĐT.
Đặc biệt, từ khi đổi mới mới đến nay, trước yêu cầu phát triển nhanh chóng của
nền kinh tế, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều văn bản, pháp luật về GDĐT như:
Nghị quyết Trung ương hai khóa VIII về định hướng chiến lược phát triển
GDĐT; Chỉ thị 50 - CT/TW của Bộ Chính trị khoá VIII về tăng cường sự lãnh
đạo của Đảng đối với hội khuyến học Việt Nam; Nghị quyết Trung ương sáu
khóa IX về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương hai khóa VIII; Nghị quyết
Trung ương bảy khóa X về xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh
CNH,HĐH; Luật Giáo dục; chiến lược phát triển GDĐT đến năm 2010 - 2020
và nhiều văn bản pháp quy khác. Hệ thống chính sách này đã bao hàm những
lĩnh vực như: GDĐT; chăm sóc sức khoẻ; văn hoá; dân số; chính sách khoa học
công nghệ; chính sách tuyển dụng, sử dụng, đánh giá, đề bạt cán bộ; chính sách



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status