MỤC LỤC
Trang
Phần mở đầu ……………………………………………………………3
Chương 1:
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG
ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ & VỪA TRONG NỀN KINH TẾ
1.1 Vị trí của DNNVV trong nền kinh tế
1.1.1 Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa. ………………….….. 8
1.1.2 Đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa .……………… 10
1.1.3 Vai trò của DNNVV trong phát triển kinh tế. ……….…... 13
1.2 Tín dụng ngân hàng với DN NVV.
………………………....16
1.2.1 Khái niệm tín dụng ngân hàng. …………………………. 17
1.2.2 Quan hệ tín dụng ngân hàng với DNNVV...………….….. 19
1.3 Tín dụng ngân hàng đối với các DNNVV ở Việt Nam. ….….. 25
1.3.1 Thực trạng hoạt động tín dụng cho DNNVV..................... 26
1.3.2 Nhân tố ảnh hưởng đến việc mở rộng
tín dụng với DNNVV …………………………………………… 29
Chương 2
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI
DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TRÊN ĐỊA
BÀN TỈNH BẮC NINH
2.1 Khái quát về doanh nghiệp nhỏ và vừa tỉnh Bắc Ninh….... 34
2.1.1 Thực trạng phát triển. ……….…………………………... 34
2.1.2 Những đóng góp tích cực của DNNVV với kinh tế - xã hội
tỉnh Bắc Ninh……………………….………………………..39
CHƢƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG
VÀ DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TRONG NỀN KINH TẾ
1.1 Ví trí của doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nền kinh tế.
1.1.1 Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa:
Xét về mặt lịch sử, sự ra đời và phát triển của các nước tư bản có nền
cơng nghiệp phát triển gắn với những cơng ty, tập đồn kinh tế lớn như
ngày nay thì sự khởi đầu của họ là những xí nghiệp, cơng trường thủ cơng
sản xuất nhỏ, qúa trình phát triển của chủ nghĩa tư bản gắn với qúa trình
tích tụ tập trung tư bản, sự cạnh tranh gay gắt giữa các xí nghiệp trong và
ngồi nước đã tạo ra những tập đoàn kinh tế lớn như ngày nay. Tuy vậy,
ngay cả những nước tư bản phát triển, các doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn giữ
một vị trí quan trọng và ngày càng khẳng định.
Trong nền kinh kinh tế thị trường doanh nghiệp được hiểu là một tổ
chức kinh tế: Được thành lập hợp pháp; có cơ cấu tổ chức chặt chẽ; có tài
sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản
đó; nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập.
Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa là nhiệm vụ quan trọng trong
chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, đẩy mạnh cơng nghiệp hố, hiện đại
hố đất nước. Nhà nước khuyến khích và tạo thuận lợi cho doanh nghiệp
nhỏ và vừa phát huy tính chủ động sáng tạo, nâng cao năng lực quản lý,
phát triển khoa học - công nghệ và nguồn nhân lực, mở rộng các mối liên
kết với các loại hình doanh nghiệp khác, tăng hiệu quả kinh doanh và khả
năng cạnh tranh trên thị trường, phát triển sản xuất, tạo việc làm và năng
cao đời sống cho người lao động.
-8-
tài sản
Bỏn lẻ – khụng quỏ 50 lao động, 10 triệu
yờn giỏ trị tài sản.
3
Hàn Quốc
Chế tạo – không quá 300 lao động; Dịch
vụ – không quá 30 lao động
4
Malaysia
Cổ đụng,
Biến động, doanh thu khụng quỏ 25 triệu
quỹ và lao
ringgit và 150 lao động
động
5
Trung
Quốc
Thay đổi theo ngành không quá 100 lao
động
Lao động
DN dịch vụ không quá 100 nhân công
8
9
Đài Loan
Chế tạo – vốn khụng quỏ 40 triệu đài tệ,
tổng tài sản khụng quỏ 120 triệu đài tệ.
Trong kinh doanh vận tải và cỏc dịch vụ
khỏc, doanh thu khụng quỏ 40 triệu đài
tệ.
Vốn, tài sản
và doanh số
Thái Lan
Không quá 200 lao động đối với ngành
càn nhiều lao động
Không quá 100 triệu Bạt đối với ngành
đòi hỏi nhiều vốn
Lao động và
vốn
Nguồn: [9]
1.1.2 Đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Cũng như các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên thế giới, doanh nghiệp
Lao động có trình độ trung cấp và cơng nhân kỹ thuật chiếm: 27,8%;
Khơng có trình độ chun môn kỹ thuật chiếm 57,8%.
- Năng lực tổ chức, quản lý điều hành của chủ doanh nghiệp còn
hạn chế: Chủ doanh nghiệp thường là những người đi lên từ hoạt động sản
xuất kinh doanh hộ gia đình, cá thể hoặc họ là những kỹ sư, kỹ thuật có tay
nghề đứng ra thành lập doanh nghiệp. Họ vừa là nhà quản lý doanh nghiệp,
vừa là người tham gia trực tiếp vào sản xuất, nên mức độ chun mơn hố
khơng cao. Nhìn chung, trình độ chun mơn chưa cao, phần lớn chưa qua
khố đào tạo chính quy về quản lý, đại bộ phận chủ doanh nghiệp (69,5%)
quản lý bằng kinh nghiệm.
- Trình độ công nghệ, thiết bị: Vào đầu những năm 90, công nghệ và
thiết bị sử dụng trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa, cơ sở tư nhân quá lạc
hậu, tốc độ đổi mới quá chậm, khoảng 90% các DNNVV của tư nhân sử
dụng trang thiết bị cũ kỹ lạc hậu từ 10 – 20 năm do các doanh nghiệp Nhà
nước thanh lý, thải loại [5]. Trong 5 năm gần đây, với chủ trương của Nhà
nước về phát triển DNNVV nên chủ doanh nghiệp bắt đầu có những đầu tư
- 11 -
ban đầu vào công nghệ. Do những hạn chế về nguồn lực tài chính, quy mơ
sản xuất nên ứng dụng công nghệ thiết bị hiện đại vào sản xuất vẫn ở mức
thấp. Tuy nhiên, DNNVV rất linh hoạt trong ứng dụng cơng nghệ, họ
thường có những sáng kiến cải tiến kỹ thuật, đổi mới nâng cấp công nghệ,
thiết bị cũ, tạo sự linh hoạt nhạy bén trong việc đa dạng hoá các sản phẩm,
nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm, nhanh chóng thay đổi quy
trình sản xuất và cung ứng sản phẩm dịch vụ phù hợp với thị hiếu của
người tiêu dùng .
- Doanh nghiệp nhỏ và vừa thiếu mặt bằng sản xuất, kinh doanh:
DNNVV nước ta chủ yếu thuộc thành phần kinh tế tư nhân mới được phục
hồi và phát triển, khơng có thời kỳ tích luỹ nguyên thủy như kinh tế tư bản
có khoảng 1,4 - 1,5 triệu người gia nhập vào lực lượng lao động, đây sức ép
rất lớn đối với Chính phủ và các cấp chính quyền địa phương, trong đó
DNNVV có khả năng thu hút hơn 90% lao động và là động lực quan trọng
cho phát triển kinh tế xã hội, xoá đói giảm nghèo [11].
Ba là: DNNVV góp phần khơi phục, gìn giữ và phát triển các làng
nghề truyền thống, Việt Nam vẫn là nước nông nghiệp, lực lượng lao
động ở các vùng nông thôn, làng nghề chiếm tỉ trọng lớn. Các làng nghề
truyền thống đã và vẫn đang tạo ra khối lượng lớn giá trị hàng hoá, đáp ứng
nhu cầu tiêu dùng trong nước và kinh doanh xuất khẩu. Phát triển DNNVV
ở các làng nghề là điều kiện để các hộ gia đình, thực hiện q trình tích luỹ
vốn, tăng cường mở rộng năng lực sản xuất, phát huy thế mạnh khơi dậy
tiềm năng của làng nghề và của toàn xã hội.
Bốn là: Thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hƣớng cơng
nghiệp hố hiện đại hố: DNNVV góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế
theo hướng công nghiệp hoá và hiện đại hoá, thể hiện qua các cơ cấu kinh
tế.
- 13 -
Cơ cấu thành phần kinh tế: Trong thời gian qua tỉ lệ doanh nghiệp dân
doanh trong số các doanh nghiệp đã tăng nhanh chóng. Đến nay cả nước có
trên 200 ngàn doanh nghiệp, trên 2,6 triệu hộ kinh doanh cá thể và khoảng
18 ngàn hợp tác xã. Các doanh nghiệp dân doanh đã và đang trở thành một
trong những lực lượng trụ cột của nền kinh tế, đưa chủ trương phát triển
kinh tế nhiều thành phần đi vào cuộc sống.
Cơ cấu ngành nghề: DNNVV tập trung chủ yếu vào lĩnh vực dịch vụ
chiếm 47,7%, công nghiệp 16,14%, ngành xây dựng chiếm 15,11%, ngành
nông nghiệp chiếm tỷ trọng ngày càng giảm xuống chỉ cịn chiếm 13,13%
[11]. Điều đó sẽ góp phần cho việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế các địa
phương, tạo điều kiện thu hút lao động ở nông thôn, rút dần lao động nông
vai trị là các công ty con, công ty vệ tinh nhằm cung cấp các nguyên vật
liệu, bán thành phẩm phục vụ cho doanh nghiệp lớn. Có thể thấy, mối quan
hệ ràng buộc nhau giữa DNNVV và doanh nghiệp lớn, các doanh nghiệp
lớn bảo đảm vững chắc cho DNNVV về thị trường, tài chính, cơng nghệ,
tiêu chuẩn kỹ thuật và kinh nghiệm quản lý. Ngược lại, DNNVV đảm bảo
cho doanh nghiệp lớn về cơng nghiệp bổ trợ, mạng lưới tiêu thụ sản phẩm.
Ngồi ra, với q trình tích luỹ vốn DNNVV là mầm non để hình thành các
doanh nghiệp lớn, là động lực thức đẩy sự phát triển nền kinh tế.
Quá trình thay đổi nhanh chóng về cơng nghệ trong những năm qua
cùng với quá trình đổi mới kinh tế ở Việt Nam trong bối cảnh tồn cầu hố
nền kinh tế đã và đang thúc đẩy sự hợp tác chặt chẽ giữa doanh nghiệp lớn
và DNNVV theo các hình thức phổ biến sau:
Liên kết mạng lƣới: Đây là hình thức liên kết được xây dựng trên cơ
sở chun mơn hố cao các cơng đoạn của qúa trình sản xuất kinh doanh
bắt đầu tư khâu cung cấp nguyên liệu, qúa trình sản xuất và tiêu thụ sản
phẩm. Mạng lưới liên kết các doanh nghiệp thơng qua qúa trình trao đổi
- 15 -
thông tin quan hệ giao dịch thương mại giữa người cung cấp và người tiêu
thụ, quan hệ mạng lưới phân phối tiêu thụ. Đặc trưng của loại hình liên kết
này là không cần sự gần gũi giữa các doanh nghiệp về mặt địa lý.
Liên kết dƣới hình thức đối tác chiến lƣợc: Hình thức này hiện đang
được sử dụng rộng rãi ở Việt Nam, được thực hiện trên cơ sở các hợp đồng,
thoả thuận hợp tác giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp nước
ngoài. Tuy nhiên do những bất lợi của các doanh nghiệp nước ta về vốn,
công nghệ, thị trường .. nên quá trình thực hiện liên kết theo hình thức này
chưa thực sự phát huy hiệu quả cho các doanh nghiệp Việt Nam.
Liên kết theo hình thức khu cơng nghiệp, cụm cơng nghiệp: Hình
thức liên kết dựa trên cơ sở sự gần gũi về mặt địa lý trên cơ sở hình thành
Danh từ tín dụng xuất phát từ gốc La tinh - Creditum có nghĩa là một sự tin
tưởng tín nhiệm lẫn nhau, hay nói một cách khác đó là lịng tin. Theo các nhà
kinh tế: tín dụng là quan hệ vay mượn lẫn nhau trên cơ sở có hồn trả cả gốc
và lãi.
Hay “Tín dụng là quan hệ chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị
(dưới hình thức tiền tệ hoặc hiện vật) từ người sở hữu sang người sử dụng
để sau một thời gian nhất định thu hồi về một lượng giá trị lớn hơn giá trị
ban đầu”.
Mặc dù có nhiều quan niệm khác nhau về tín dụng nhưng một quan hệ
tín dụng phải đảm bảo thoả mãn được ba đặc trưng sau:
Thứ nhất là “tính tạm thời trong quan hệ chuyển nhượng”: Khi người
sở hữu tiền tệ hoặc hàng hố (hay cịn gọi là vốn), tạm thời nhàn rỗi một
lượng giá trị và người khác có nhu cầu sử dụng lượng giá trị đó, khi đó giữa
hai đối tác sẽ thoả thuận thực hiện chuyển giao lượng giá trị đó cho nhau
trong một khoảng thời gian nhất định. Thực chất, đó chỉ là sự chuyển giao
quyền sử dụng lượng giá trị trong một khoản thời gian nhất định mà khơng
có sự thay đổi về quyền sở hữu đối với lượng giá trị đó.
Thứ hai là “tính hồn trả”: Người sử dụng cam kết hồn trả số tiền hoặc
hàng hố đó cho người sở hữu đúng thời hạn đã cam kết với một lượng giá trị
lớn hơn ban đầu gồm cả gốc và phần chênh lệch dơi ra đó gọi là lợi tức hay
tiền lãi. Thực chất phần chênh lệch này là cái giá phải trả cho quyền sử dụng
vốn tạm thời.
- 17 -
Thứ ba là, “dựa trên sự tin tưởng giữa người đi vay và người cho
vay”: Đây là điều kiện cần thiết để thiết lập mối quan hệ tín dụng giữa
người đi vay và người cho vay. Một mặt, người cho vay tin tưởng rằng vốn
sẽ được hoàn trả đầy đủ khi đến hạn, mặt khác người đi vay cũng tin tưởng
vào sự chuyển giao vốn từ người cho vay và khả năng phát huy hiệu quả
vai trò này, NHTM đã thực hiện chức năng phân phối lại vốn tiền tệ để đáp
ứng yêu cầu tái sản xuất của xã hội. Do quy mô và phạm vi hoạt động lớn,
tín dụng ngân hàng được coi là một nguồn lực tài chính quan trọng để hỗ
trợ cho q trình tái sản, đồng thời Chính phủ các quốc gia đều coi chính
sách về tín dụng ngân hàng là một chính sách quan trọng hàng đầu trong hệ
thống các công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế.
1.2.2
Quan hệ tín dụng ngân hàng với doanh nghiệp nhỏ và vừa.
1.2.2.1 Đặc điểm tín dụng ngân hàng với DNNVV.
Do hoạt động kinh doanh của DNNVV có những đặc điểm riêng có
nên hoạt động tín dụng ngân hàng với DNNVV cũng có những đặc điểm
riêng sau:
Thứ nhất, do quy mơ hoạt động sản xuất kinh doanh khơng lớn, nên
hoạt động tín dụng ngân hàng với doanh nghiệp cũng có qui mơ nhỏ và
vừa, các khoản vay thường có giá trị thấp, nhỏ lẻ, thuộc thị trường bán lẻ
của các ngân hàng. Các khoản vay chủ yếu là để bổ sung nguồn vốn lưu
động tạm thời thiếu hụt của doanh nghiệp.
Thứ hai, các điều kiện vay vốn so với quy định hiện nay thường
không đầy đủ và mức độ tin cậy không cao. Xuất phát từ đặc điểm về qui
mô nhỏ nên, bộ máy tổ chức điều hành hoạt động kinh doanh của DNNVV
thường rất giản đơn, thiếu chặt chẽ, việc chấp hành các quy định nhà nước
về chế độ kế toán tài chính cịn nhiều bất cập, hơn thế năng lực, trình độ
quản lý cịn nhiều hạn chế, nên các thơng tin về tài chính, tình hình hoạt
- 19 -
động khơng đủ hoặc khơng có độ tin cậy để ngân hàng quyết định cho vay
hay không cho vay.
+ Cho vay theo hạn mức: Tổ chức tín dụng và khách hàng xác định và
thoả thuận một hạn mức tín dụng duy trì trong một khoảng thời gian nhất
định, phù hợp với tình hình hoạt động luân chuyển vốn của doanh nghiệp.
+ Cho vay theo dự án đầu tư: Tổ chức tín dụng cho khác hàng vay vốn
để thưc hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và
các dự án đầu tư phục vụ đời sống.
+ Cho vay hợp vốn: Một nhóm tổ chức tín dụng cùng cho vay đối với
một dự án vay vốn hoặc một phương án vay vốn cho khách hàng; trong đó
có một tổ chức tín dụng làm đầu mối dàn xếp, phối hợp với các tổ chức tín
dụng khác.
+ Cho vay theo hạn mức thấu chi: Là việc cho vay mà tổ chức tín
dụng thoả thuận bằng văn bản chấp thuận cho khách hàng chi vượt mức số
tiền có trên tài khoản thanh toán của khách hàng, với lãi suất, thời hạn
thanh tốn đã xác định trước.
+ Cho vay thơng qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng: Tổ
chức tín dụng chấp thuận cho khách hàng được sử dụng số vốn vay trong
phạm vi hạn mức tín dụng để thanh toán tiền mua hàng, dịch vụ, rút tiền
mặt tại máy rút tiền tự động hoặc các diểm thanh tốn thẻ hoặc đại lý của tổ
chức tín dụng.
- Bảo lãnh ngân hàng: Là cam kết bằng văn bản của tổ chức tín dụng
(bên bảo lãnh) với bên có quyền (bên nhận bảo lãnh) về việc thực hiện
nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng (bên được bảo lãnh) khi khách hàng
không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên
nhận bảo lãnh. Khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho tổ chức tín dụng
số tiền đã trả thay.
- 21 -
Bảo lãnh ngân hàng có nhiều hình thức như: Bảo lãnh vay vốn, Bảo
lãnh thanh toán hàng hoá dịch vụ, Bảo lãnh dự thầu, Bảo lãnh thực hiện
được vấn đề này là vô cùng cần thiết, nhất là khi cho vay đối với các
DNNVV, một đối tượng khách hàng có độ rủi ro cao.
1.2.2.3 Rủi ro trong quan hệ tín dụng ngân hàng đối với DNNVV.
DNNVV là các doanh nghiệp có quy mơ nhỏ tồn tại ở nhiều thành
phần kinh tế (Kinh tế tư nhân, kinh tế Nhà nước, kinh tế tập thể) nên việc
cho vay các doanh nghiệp này chắn chắn sẽ gặp nhiều rủi ro hơn so với các
doanh nghiệp lớn. Có thể nhận thấy một số rủi ro như:
Thứ nhất, rủi ro lớn nhất mà ngân hàng phải gánh chịu là cho vay
không thu hồi được nợ, sẽ gây mất vốn, giảm uy tín của ngân hàng. Nếu rủi
ro mất vốn lớn có thể gây phá sản ngân hàng.
Thứ hai, rủi ro do khách hàng không trả nợ đúng hạn, chậm trả gốc và
lãi tiền vay. Hoạt động theo nguyên tắc: Đi vay để cho vay, phần lớn nguồn
vốn ngân hàng dùng để cho vay doanh nghiệp là nguồn vốn ngân hàng huy
động từ nền kinh tế, với thời hạn, lãi suất đã được xác định, việc không thu
được nợ từ người vay sẽ khiến ngân hàng khơng có nguồn tiền để trả cho
người gửi tiền, gây mất lịng tín. Giảm uy tín của ngân hàng và phát sinh
nhiều chi phí khác cho ngân hàng, là nguyên nhân giảm lợi nhuận, yếu kém
của ngân hàng.
- 23 -
Thứ ba, rủi ro trong hoạt động ngân hàng rất lớn, bao gồm rủi ro từ phía
ngân hàng và từ phía doanh nghiệp, trong đó có những rủi ro bắt nguồn từ
những nguyên nhân chủ quan mà ngân hàng, doanh nghiệp có thể thẩm định,
đánh giá và ngăn ngừa được. Song có những rủi ro xuất phát từ những nguyên
nhân khách quan bất khả kháng mà các ngân hàng và doanh nghiệp phải chấp
nhận, như rủi ro về thiên tai động đất, mưa bão, hoả hoạn, các rủi ro về chính
trị… Do vậy, hoạt động cho vay của ngân hàng ln ln tiềm ẩn các rủi ro.
Bởi vì bản thân ngân hàng thương mại “ngại” cho các doanh nghiệp nhỏ
doanh được liên tục.
Tín dụng ngân hàng góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của
DNNVV:
Khi sử dụng vốn tín dụng ngân hàng, các doanh nghiệp phải tơn trọng
hợp đồng tín dụng, phải đảm bảo hoàn trả cả gốc và lãi đúng hạn và phải tôn
trọng các điều khoản của hợp đồng cho dù doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả
hay khơng. Ngồi ra, các ngân hàng chỉ cho vay khi các doanh nghiệp kinh
doanh có hiệu quả, khả năng tài chính lành mạnh đủ đảm bảo trả nợ. Do đó
địi hỏi các doanh nghiệp muốn có vốn tín dụng của ngân hàng phải có
phương án sản xuất khả thi. Khơng chỉ thu hồi đủ vốn, các doanh nghiệp phải
tìm cách sử dụng vốn có hiệu quả, tăng nhanh vịng quay vốn, đảm bảo tỷ suất
lợi nhuận phải lớn hơn lãi suất ngân hàng thì mới trả được nợ và kinh doanh
có lãi. Trong quá trình cho vay, ngân hàng thực hiện kiểm soát trước, trong và
sau khi giải ngân buộc doanh nghiệp phải sử dụng vốn đúng mục đích và có
hiệu quả.
Tín dụng ngân hàng góp phần hình thành cơ cấu vốn tối ƣu cho
DNNVV:
Trong nền kinh tế thị trường hiếm doanh nghiệp nào chỉ duy nhất dùng
vốn tự có để sản xuất kinh doanh. Nguồn vốn vay chính là cơng cụ đòn bẩy để
- 25 -
doanh nghiệp tối ưu hoá hiệu quả sử dụng vốn. Đối với các doanh nghiệp nhỏ
và vừa, do hạn chế về về vốn nên việc sử dụng vốn tự có để sản xuất là khó
khăn vì vốn hạn hẹp và nếu sử dụng thì giá vốn sẽ cao và sản phẩm sẽ khó
được thị trường chấp nhận. Để hiệu quả, doanh nghiệp phải có một cơ cấu vốn
tối ưu, kết cấu hợp lý nhất là nguồn vốn tự có và vốn vay nhằm tối đa hoá lợi
nhuận tại mức giá vốn bình qn rẻ nhất.
Tín dụng ngân hàng góp phần tập trung vốn sản xuất, nâng cao khả
năng cạnh tranh của các DNNVV:
định thị trường doanh nghiệp ngoài quốc doanh, thị trường cho vay bán lẻ
là thị trường mục tiêu lâu dài, thì đến nay các ngân hàng thương mại nhà
nước như Ngân hàng Ngoại thương, Ngân hàng Công thương, Ngân hàng
Đầu tư, Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn, trước đây chỉ xác
định những doanh nghiệp lớn, các tổng công ty là khách hàng của mình, thì
nay cũng đã hoạch địch chiến lược tăng trưởng tín dụng đối với DNNVV
như: Ngân hàng Ngoại thương đổi mới công nghệ, phát triển thị trường tín
dụng bán lẻ dành 3.000 tỷ để cho vay DNNVV; Ngân hàng Đầu tư và phát
triển cũng dành 3.200tỷ để cho vay DNNVV; Ngân hàng Công thương là
ngân hàng nhà nước đầu tiên đi tiên phong trong việc cho vay DNNVV và
cũng là ngân hàng gặt hái được nhiều thành công nhất, dư nợ cho vay
DNNVV chiếm tới 50% - 60% tổng dư nợ [7,8].
Uớc tính 80% lượng vốn cung ứng cho DNNVV là từ kênh ngân hàng,
trong hai năm gần đây (2005, 2006), số vốn mà các NHTM cho các
DNNVV vay chiếm bình quân 40% tổng dư nợ, tốc độ tăng trong tín dụng
cho khối DNNVV trong những năm gần đây cũng đã cho thấy tín hiệu khả
quan: năm 2003 là 37,1%, năm 2004 là 20,18% và năm 2005 khoảng 22%
[7,8].
- 27 -
Mặc dù hệ thống ngân hàng đã có chiến lược phát triển tín dụng cho
DNNVV và đã đạt kết quả bước đầu, nhưng nhìn chung việc tiếp cận nguồn
vốn từ ngân hàng vẫn cịn khơng khó khăn, với nhiều lý do khác nhau:
Bảng 1.2: Khả năng tiếp cận nguồn vốn ngân hàng
STT
Chỉ tiêu
phương án, dự án khả thi đem lại hiệu quả kinh tế; có uy tín trong quan hệ
giao dịch với ngân hàng.
Trên thực tế, rất ít DNNVV có thể đáp ứng các điều kiện trên, đặc biệt
các doanh nghiệp mới đi vào hoạt động hoặc doanh nghiệp đầu tư phát triển
sản phẩm mới, nên hiện nay các ngân hàng cho vay DNNVV đều có quy
định phải có tài sản bảo đảm.
Hơn nữa, cũng không phải tài sản nào cũng được ngân hàng nhận làm
tài sản bảo đảm, việc xác định giá trị tài sản thế chấp, cầm cố, bảo lãnh
- 28 -
cũng là khó khăn, thường thấp hơn giá trị thị trường (đặc biệt với máy móc
dây chuyền thiết bị đã qua sử dụng, các tài sản tự chế tạo, cải tạo) dẫn đến
việc từ chối cho vay của ngân hàng.
Thứ hai: Báo cáo tài chính của doanh nghiệp chưa có độ tin cậy trong
việc phản ánh trung thực tình hình tài chính doanh nghiệp, chưa thực hiện
chế độ kế tốn. Nhiều doanh nghiệp không thực hiện chế độ báo cáo tài
chính định kỳ, khơng thực hiện nghĩa vụ đăng ký, kê khai và nộp thuế. Một
số doanh nghiệp còn trốn thuế, mua bán hố đơn tài chính, sử dụng hố đơn
giả. Các hoạt động kinh doanh thu chi phần nhiều bằng tiền mặt, nên ngân
hàng không đủ cơ sở đánh giá nhận xét về tình hình tài chính doanh nghiệp.
Thứ ba: Thiếu căn cứ và các thông tin phục vụ đánh giá tính khả thi
của phương án, dự án vay vốn, hơn nữa việc giám sát khách hàng sử dụng
vốn vay đứng mục đích cũng là khó khăn cho ngân hàng.
Thứ tư: Về phía ngân hàng, trước những khó khăn và sự cạnh tranh
khốc liệt của doanh nghiệp trong quá trình hội nhập của nền kinh tế thế
giới, nhiều ngân hàng đánh giá nguy cơ rủi ro trong hoạt động tín dụng với
của DNNVV là lớn, chính vì vậy việc mở rộng tín dụng cần có sự thận
trọng là hết sức cần thiết.
Thứ năm: Vốn đối ứng của doanh nghiệp thấp, hoạt động kinh doanh
lợi cho phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nước phát triển.
Tín dụng Nhà nước: Là một trong những biện pháp hỗ trợ vốn trực
tiếp của Nhà nước cho doanh nghiệp, nguồn vốn này có ưu điểm là lãi suất
thấp, thời gian vay dài tới 15 năm đã tạo điều kiện giảm bớt khó khăn tài
chính cho doanh nghiệp, đồng thời tạo điều kiện để ngân hàng đầu tư cho
vay các đối tượng này.
Chính sách tiền tệ như lãi suất tái chiết khấu, tỷ giá, hoạt động trên thị
trường mở. Thông qua các công cụ trên, NHNN có thể điều chỉnh tăng tín
dụng hoặc giảm tín dụng của ngân hàng với nền kinh tế nói chung và với
DNNVV nói riêng.
- 30 -