BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
***
LÊ KIM HIỀN
TÁC ĐỘNG CỦA THAY ĐỔI TRONG
TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI ĐẾN CẦU XUẤT
KHẨU THỦY SẢN VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 10/2013 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
***
- Tên đề tài: “Tác động của thay đổi trong tỷ giá hối đoái đến cầu xuất
khẩu thủy sản của Việt Nam”.
- Giáo viên hướng dẫn: GS.TS.Trần Ngọc Thơ.
- Tên học viên: Lê Kim Hiền
- Số điện thoại liên lạc: 0908726872
- Ngày nộp luận văn: Tháng 10/2013
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của chính tác
giả, nội dung được đúc kết từ quá trình học tập và các kết quả nghiên cứu
thực tiễn trong thời gian qua, số liệu sử dụng trong nghiên cứu là trung thực
và đều có nguồn gốc trích dẫn rõ ràng.
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 08 tháng 10 năm 2013
Tác giả luận văn
LÊ KIM HIỀN
MỤC LỤC
Trang
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
Phụ lục 2 Danh mục nguồn cung cấp dữ liệu trong luận văn 57
Phụ lục 3 Bảng tính REER và EV – Và giá trị của các biến trong mô hình 60
Phụ lục 4 Kiểm định tính dừng của các biến trong mô hình 94
Phụ lục 5 Kiểm định độ trễ tối ưu cho mô hình 110
Phụ lục 6 Kiểm định đồng liên kết Johansen 112
Phụ lục 7 Kết quả chạy mô hình VECM cho hàm cầu xuất khẩu thủy sản 121
Phụ lục 8 Kiểm định mức ổn định của hàm hồi quy 127
DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ HÌNH
Bảng 2.1. Tổng hợp những nghiên cứu trước đây
Hình 3.1. Tỷ giá thực hiệu lực từ năm quý I/2001 đến quý I/2013
Bảng 4.1. Kết quả kiểm định ADF của các biến trong mô hình
Bảng 4.2. Kết quả kiểm định đồng liên kết theo phương pháp Johansen
Bảng 4.3 Kết quả hồi quy theo mô hình VECM đối với hàm cầu xuất khẩu
thủy sản theo tiêu chuẩn SITC năm chữ số
Bảng 4.4. Bảng kết quả hồi quy mối quan hệ trong ngắn hạn
SITC: Hệ thống phân loại thương mại tiêu chuẩn quốc tế - Standard
International Trade Classification
VECM: mô hình hiệu chỉnh sai số vector - Vector error correction model
THB: Đồng bath Thái Lan - Thai baht
ULC: chi phí đơn vị lao động – Unit labour cost
USD: Đô la Mỹ - United State Dollars
VND: Đồng Việt Nam – Việt Nam Đồng
WB: Ngân hàng thế giới – World Bank
WTO: Tổ chức thương mại thế giới - World Trade Organization
TÓM LƯỢC
Mục đích của nghiên cứu này nhằm để đánh giá tác động của thay đổi
trong tỷ giá hối đoái đến cầu xuất khẩu của ba mặt hàng thủy sản hàng đầu
Việt Nam được phân loại theo tiêu chuẩn SITC năm chữ số.
Với mục đích kiểm định mối quan hệ giữa thay đổi trong tỷ giá với cầu
xuất khẩu thủy sản Việt Nam trong ngắn hạn và cả dài hạn, trong khuôn khổ
nghiên cứu này tác giả đã sử dụng mô hình VECM để thực hiện nghiên cứu.
Với dữ liệu được thu thập theo quý trong khoảng thời gian từ quý
I/2001 đến quý I/2013. Bài nghiên cứu đã cho thấy thay đổi trong tỷ giá
không có tác động đến cầu xuất khẩu thủy sản trong ngắn hạn và có tác động
trong dài hạn, nhưng mức độ và chiều hướng tác động không đồng nhất cho
từng mặt hàng thủy sản xuất khẩu.
Kết quả của nghiên cứu có ý nghĩa trong việc giúp cho những nhà xuất
khẩu có thể thiết kế riêng cho công ty họ những kế hoạch cạnh tranh riêng
biệt nhằm cải thiện giá trị xuất khẩu. Bên cạnh đó kết quả của nghiên cứu
cũng giúp những nhà làm chính sách có thể thiết kế chính sách quản lý tỷ giá
và về giao dịch ngoại thương phù hợp để có thể gia tăng kim ngạch xuất khẩu.
đó là tỷ giá hối đoái. Không những thế, tỷ giá còn có tác động gián tiếp đến mặt
bằng giá cả trong nước, lạm phát, khả năng sản xuất, công ăn việc làm …
2
Trong xu thế hội nhập toàn cầu ngày càng cao, thì tỷ giá dần được xem
là một công cụ chính để điều tiết nền kinh tế. Sự vận động của tỷ giá sẽ dẫn
đến thay đổi khả năng cạnh tranh của hàng hóa trong nước đối với hàng hóa
nước ngoài, từ đó ảnh hưởng đến xuất nhập khẩu, cán cân thương mại, dự trữ
ngoại hối…
Do vai trò quan trọng của tỷ giá đối với tổng thể nền kinh tế , nên có rất
nhiều nhà kinh tế đã nghiên cứu sự thay đổi của tỷ giá tác động đến cán cân
thương mại nói chung hay là xuất/nhập khẩu nói riêng, nhưng nhìn chung
những ảnh hưởng của biến động tỷ giá đến cán cân thương mại hay đến xuất
nhập khẩu cũng vẫn còn gây ra nhiều tranh luận trong các nghiên cứu thực
nghiệm.
Mặc dù mối quan hệ giữa tỷ giá và cán cân thương mại, xuất nhập khẩu
được rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, nhưng nghiên cứu về tác động của
biến động trong tỷ giá hối đoái đến lượng cầu xuất khẩu của một số mặt hàng
xuất khẩu cụ thể vẫn còn rất ít trong số những nghiên cứu đã được thực hiện,
đặc biệt là tại Việt Nam. Đó cũng chính là lý do tác giả đã chọn nghiên cứu đề
tài “ Tác động của thay đổi trong tỷ giá hối đoái đến cầu xuất khẩu thủy
sản của Việt Nam”. Mục đích của bài nghiên cứu này là đánh giá tác động
của sự biến đổi trong tỷ giá hối đoái lên cầu xuất khẩu thủy sản ở Việt Nam.
Do đó kết quả cảu bài nghiên cứu này sẽ trả lời cho câu hỏi: “Có tồn tại mối
quan hệ trong ngắn hạn và trong dài hạn giữa biến động tỷ giá hối đoái với
cầu xuất khẩu thủy sản của Việt Nam hay không?”. Từ đó sẽ đưa ra những
gợi ý cho những nhà làm chính sách về chiến lược cải thiện xuất khẩu thủy
CHƯƠNG 2: CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY
2.1. Lý thuyết về tỷ giá hối đoái và tác động của tỷ giá hối đoái đến hoạt
động xuất khẩu
2.1.1 . Tỷ giá hối đoái:
Trong tài chính, tỷ giá hối đoái (còn được gọi là tỷ giá trao đổi ngoại tệ,
tỷ giá Forex, tỷ giá FX hoặc Agio) giữa hai loại tiền tệ là tỷ giá mà tại đó một
đồng tiền này sẽ được trao đổi cho một đồng tiền khác. Nó cũng được coi là
giá trị đồng tiền của một quốc gia so với đồng tiền của quốc gia khác.
Có rất nhiều loại tỷ giá hối đoái: tỷ giá danh nghĩa, tỷ giá thực, tỷ giá
thực song phương, tỷ giá thực đa phương…. Mỗi loại tỷ giá có cách định
nghĩa và tính toán khác nhau.
Tỷ giá danh nghĩa là tỷ giá hàng ngày được sử dụng giao dịch trên thị
trường. Tỷ giá này được công bố hàng ngày trên thị trường bởi các ngân hàng
ở các quốc gia.
Tỷ giá thực là tỷ giá danh nghĩa giữa đồng tiền của hai quốc gia nhưng
đã tính đến tương quan trong giá cả của hai nước.
Tỷ giá thực song phương là tỷ giá danh nghĩa đã được điều chỉnh theo
mức chênh lệch lạm phát giữa hai nước. Nó là chỉ số thể hiện sức mua của
đồng nội tệ so với đồng ngoại tệ. Tỷ giá này được xem như là thước đo sức
cạnh tranh của hai quốc gia với nhau.
5
2.2. Những nghiên cứu thực nghiệm gần đây:
2.2.1. Nghiên cứu tại nước ngoài:
Lý thuyết về thương mại bao gồm rất nhiều nghiên cứu thực nghiệm
tiến hành ước tính hàm cầu xuất khẩu của một quốc gia hay một nhóm các
quốc gia (B. Bhaskara Rao and Rup Singh, 2005; Saten Kumar, 2009;
Augustine C. Arize, 2001, Jamal G. Husein,2008……). Việc ước tính hàm
cầu xuất khẩu luôn được nhiều nhà kinh tế quan tâm vì tầm quan trọng của
nó trong việc thiết kế chính sách thương mại nhằm thúc đẩy tăng trưởng cán
cân thương mại của quốc gia. Những nghiên cứu này có thể chia thành hai
nhóm nghiên cứu như sau:
Thứ nhất là những nghiên cứu tập trung vào việc ước lượng hàm cầu
xuất khẩu truyền thống, những nghiên cứu này cho rằng lượng cầu xuất khẩu
sẽ phụ thuộc vào những yếu tố như: giá tương đối, thu nhập nước ngoài.
Những nghiên cứu tiêu biểu có thể thấy trong nhóm này là:
Augustine C. Arize (2001) đã ước tính hàm cầu xuất khẩu truyền thống
cho Singapore. Trong nghiên cứu này, tác giả đã cung cấp bằng chứng mới về
tính dừng trong các vecto đồng liên kết của xuất khẩu thực, thu nhập thực
nước ngoài và giá cả tương đối . Với mục đích này , tác giả đã sử dụng các
kiểm định tính dừng được đề xuất bởi Hansen và Johansen (1993) và Hansen
(1992a). Ngoài ra, tác giả đã sử dụng các dữ liệu được lấy theo quý, từ quý
II/1973 đến quý I/1997 để thực hiện nghiên cứu. Thứ hai, trong khi tính ổn
định trong mối quan hệ dài hạn của xuất khẩu được quan tâm, thì sự điều
chỉnh trong ngắn ngắn hạn của kim ngạch xuất khẩu thực tế với những thay
7
triển và đã phát triển để tiến hành nghiên cứu thực nghiệm ở Jordan. Nghiên
cứu này đã đóng góp vào lý thuyết hiện có về độ co giãn thương mại theo
năm cách. Đầu tiên, nó áp dụng những kỹ thuật hiện có trong nghiên cứu
chuỗi thời gian, trong đó sử dụng lý thuyết về đồng liên kết đa biến của
Johansen-Juselius (1990) và Saikkonen – Lutkepohl (2000abc). Thứ hai,
nghiên cứu này đã khắc phục vấn đề về kiểm định tính dừng, lựa chọn độ trễ
cho những kiểm định tính đồng liên kết như Johansen - Juselius. Thứ ba,
nghiên cứu sử dụng những dữ liệu mới nhất và một mẫu có quy mô tương đối
lớn để ước lượng mối quan hệ dài hạn giữa xuất khẩu và những nhân tố tác
động đến nó. Hiểu theo nghĩa hẹp trong nghiên cứu này trọng tâm là mối quan
hệ dài hạn giữa hàm cầu xuất khẩu tổng hợp của Jordan, đây là một vấn đề có
liên quan đến việc gợi ý chính sách. Thứ tư, mô hình kinh tế lượng được sử
dụng để ước lượng xuất khẩu của Jordan, có tính đến những yếu tố tác động
về phía cung bên cạnh những nhân tố truyền thống tức là mức cầu bên ngoài
và giá xuất khẩu tương đối, bao gồm cả GDP trong nước. Thành quả kinh tế
mạnh được đo lường bởi GDP quốc nội sẽ có tác động trực tiếp và đồng biến
lên xuất khẩu (một giả thuyết được duy trì bởi những nước dẫn đầu về tăng
trưởng xuất khẩu). Thứ năm, không giống như những nghiên cứu trước cho
những quốc gia đã và đang phát triển giả định vecto đồng liên kết là dừng,
nghiên cứu này kiểm định chính thức tính dừng của các biến số bằng cách sử
dụng kiểm định tính dừng của Hansen-Johansen(1999). Trong tính toán các
biến số dài hạn của hàm cầu xuất khẩu cho Jordan , nghiên cứu này sử dụng
các kỹ thuật kinh tế lượng gần đây nhất, tức là kiểm định đồng liên kết đa
biến Johansen - Juselius (1990) và Saikkonen - Lütkepohl ( 2000abc ) và sử
dụng dữ liệu hàng năm gần đây có sẵn (1970 - 2004). Để ước lượng cầu xuất
khẩu của thế giới đối với Jordan, những biến số của hàm cầu xuất khẩu dài
hạn truyền thống là lượng xuất khẩu của một quốc gia với sức mua từ thế
9
ngoài. Ngoài ra, nghiên cứu còn cho thấy GDP trong nước có mối quan hệ
đồng biến đáng kể với xuất khẩu tức là muốn gia tăng xuất khẩu thì việc cần
thiết có thể làm là gia tăng sản xuất trong nước. Cuối cùng, trong trường hợp
của Jordan thì điều kiện Marshall-Lerner được thỏa mãn vì độ co giãn theo
giá xuất khẩu lớn hơn 1, do đó phá giá có thể cải thiện cán cân thương mại
Jordan thông qua cắt giảm nhập khẩu và mở rộng xuất khẩu. Tuy nhiên, như
Arize (2004) chỉ ra, biện pháp giảm giá ở mức độ nhỏ và thường xuyên có thể
là một cách làm hợp lý để tránh bất kỳ tác dụng gây hỗn loạn khi mức độ phá
giá lớn và thường xuyên. Đồng thời, phá giá có thể đi kèm với các công cụ
chính sách thích hợp khác.
Saten Kumar (2009) đã ước lượng hàm cầu xuất khẩu của Trung Quốc
với các biến số như thu nhập thực, giá tương đối. Trong nghiên cứu này tác
giả đã sử dụng các kỹ thuật kiểm định về đặc tính chuỗi thời gian của các biến
trong mô hình. Dữ liệu được sử dụng trong mô hình là dữ liệu theo năm từ
năm 1974 -2004. Nghiên cứu đã sử dụng kỹ thuật phân tích đồng liên kết và
mô hình hiệu chỉnh sai số - ECM để khảo sát hàm cầu xuất khẩu của Trung
Quốc. Cụ thể, nghiên cứu áp dụng kiểm định nghiệm đơn vị Dickey - Fuller
mở rộng - ADF và kiểm định Elliot-Rothenberg-Stock -ERS để nắm bắt đặc
tính chuỗi thời gian của xuất khẩu thực, thu nhập thực tế và giá tương đối.
Tiếp theo nghiên cứu đã sử dụng kỹ thuật chuỗi thời gian General to Specific
- GETS và Johansen maximum likelihood - JML để xác định các mối quan
hệ dài hạn giữa xuất khẩu thực, thu nhập thực tế và giá cả tương đối. Tác giả
phát hiện ra rằng độ co giãn thu nhập dài hạn khoảng 1,3 và độ co giãn giá
tương đối là khoảng - 1.5. Độ co giãn của xuất khẩu theo thu nhập và giá cả
tương đối cao và có ý nghĩa. Dựa trên kết quả của tác giả có thể thấy rằng
xuất khẩu là động lực của tăng trưởng trong trường hợp của Trung Quốc. Các
11
của bài nghiên cứu cho thấy tồn tại mối quan hệ đồng liên kết trong dài hạn
giữa xuất khẩu thực, thu nhập thực của các đối tác thương mại và mức giá
tương đối. Kết quả ước lượng đối với độ co giãn của cầu xuất khẩu theo thu
nhập trong khoảng 1 đến 1.3 điều này cho thấy xuất khẩu nên được xem là
động lực chính cho sự tăng trưởng của những quốc gia đang phát triển của
Châu Á, và những chính sách thúc đấy xuất khẩu như là trợ cấp và giảm thuế
cần được khuyến khích. Độ co giãn theo giá tương đối giao động trong
khoảng -1 đến -1.4, điều này cho thấy rằng xuất khẩu của những nước đang
phát triển ở Châu Á có sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế và các quốc gia
này có thể lựa chọn chính sách giảm giá đồng nội tệ để nâng cao kim ngạch
xuất khẩu của mình. Mặc dù thực tế phá giá tiền tệ sẽ đẩy chi phí nhập khẩu
cao hơn, cuối cùng điều này thúc đẩy các doanh nghiệp trong nước thực hiện
các lựa chọn thay thế ví dụ, thay thế nhập khẩu. Kết quả kiểm định nhân quả
Granger hàm ý rằng giá tương đối, thu nhập có mối quan hệ nhân quả
Granger trong dài hạn đối với xuất khẩu. Với những kết quả này tác giả đã đề
xuất những quốc gia đang phát triển ở Châu Á có thể áp dụng một cách hữu
hiệu những chính sách tập trung vào gia tăng xuất khẩu thông qua sự gia tăng
trong thu nhập của các đối tác thương mại nước ngoài và sự sụt giảm trong
mức giá tương đối.
Nhóm thứ hai là những nghiên cứu bên cạnh những nhân tố truyền
thống như giá tương đối, thu nhập thực nước ngoài, cầu xuất khẩu còn bị tác
động bởi những thay đổi trong tỷ giá hối đoái. Và chiều hướng tác động của
tỷ giá hối đoái đến cầu xuất khẩu hàng hóa cũng được chia làm nhiều trường
phái khác nhau. Một số nhà nghiên cứu cho rằng biến động trong tỷ giá hối
đoái sẽ có tác động đồng biến đến cầu xuất khẩu. Một số khác lại cho rằng
ngược lại tức là biến động trong tỷ giá hối đoái có tác động nghịch biến đến
13
nhất) đại diện cho thu nhập thực nước ngoài. Tiếp đến biến thứ hai trong mô
hình là giá tương đối được xây dựng là tỷ số giá xuất khẩu của Ailen chia cho
giá xuất khẩu của những đối tác thương mại chính của Ailen, những đối tác
này đã được kể đến như ở trên. Biến này tượng trưng cho tính cạnh tranh của
Ailen. Cuối cùng là biến động của tỷ giá theo thời gian được xây dựng trên sự
biến động của độ lệch tiêu chuẩn tỷ giá thực hiệu lực REER. Phân tích đồng
liên kết được sử dụng để kiểm định cho hàm cầu xuất khẩu trong dài hạn. Đầu
tiên tác giả sử dụng kiểm định Dickey Fuller - DF và Augmented Dickkey
Fuller - ADF để kiểm định tính dừng của các biến trong mô hình. Sau đó, tác
giả sử dụng kiểm định đồng liên kết theo phương pháp Johansen để đánh giá
về tác động dài hạn của những biến trong mô hình lên cầu xuất khẩu của
Ailen. Kế tiếp, tác giả sử dụng mô hình ECM để phân tích mối quan hệ trong
ngắn hạn đối với cầu xuất khẩu. Kết quả cho thấy rằng biến động tỷ giá hối
đoái không ảnh hưởng đến khối lượng thương mại trong ngắn hạn nhưng tác
động tích cực đáng kể trong thời gian dài.
De Vita và Abbott (2004a) trong bài nghiên cứu này tác giả đã đi khảo
sát tác động của biến động tỷ giá hối đoái đối với xuất khẩu của Mỹ (đại diện
là lượng xuất khẩu của Mỹ sang năm đối tác thương mại lớn nhất là Canada,
Mexico, Nhật Bản, Đức và Anh). Tác giả sử dụng dữ liệu theo quý cho thời
kỳ mẫu từ 1987-2001, và phương trình đồng liên kết ARDL để thực hiện
nghiên cứu này. Với mô hình ARDL thì các biến hồi quy trong mô hình
không phân biệt là dừng hay không dừng. Bài nghiên cứu có ba kết luận
chính như sau: Đầu tiên, phương trình cầu xuất khẩu có chứa hỗn hợp các
biến hồi quy là dừng và không dừng, với chuỗi biến động của tỷ giá cho thấy
là dừng. Thứ hai, tất cả những phương trình kiểm định giới hạn đều cho thấy
mối quan hệ đồng liên kết giữa khối lượng xuất khẩu, giá tương đối, và thu
15
cũng như sự thay đổi trong sản lượng ngành sẽ cùng làm giảm khối lượng
thương mại. Kết quả đáng chú ý của bài nghiên cứu là mức độ thay đổi tỷ giá
tác động tiêu cực đến dòng thương mại nông nghiệp trong khi những ngành
khác dường như không bị tác động đáng kể.
Tang và Wong (2007), đã thực hiện một nghiên cứu nhằm khảo sát tác
động của biến động trong tỷ giá đến lượng cầu của năm loại hàng xuất khẩu
điện hàng đầu của Malaysia. Trong nghiên cứu này tác giả đã xây dựng hàm
cầu xuất khẩu là một hàm số phụ thuộc vào giá tương đối, thu nhập nước
ngoài và mức độ thay đổi của tỷ giá. Dữ liệu trong bài nghiên cứu là dữ liệu
phân tách của năm loại hàng điện tử xuất khẩu hàng đầu của Malaysia được
phân loại theo tiêu chuẩn SITC. Cũng giống như nghiên cứu của De Vita và
Abbott (2004a) nghiên cứu này sử dụng phương pháp ADRL để ước lượng
tác động của thay đổi tỷ giá lên nhu cầu xuất khẩu. Dữ liệu được lấy theo quý
trong giai đoạn từ 1990 - 2001. Kết quả thu được từ bài nghiên cứu cho thấy
thu nhập nước ngoài và giá là yếu tố quyết định quan trọng của nhu cầu xuất
khẩu cho tất cả năm loại hàng điện xuất khẩu, trong ngắn hạn và cả dài hạn.
Quan trọng bài viết này ủng hộ quan điểm là sự biến thiên trong tỷ giá hối
đoái có ảnh hưởng tiêu cực đến cầu xuất khẩu hàng điện của Malaysia.
Khedhiri và Bouazizi (2007) đã thực hiện nghiên cứu nhằm ước lượng
độ co giãn của cầu xuất khẩu tại Tuynidi so với những đối tác chính của nước
này với những quốc gia thuộc Châu Âu từ năm 1987-2004. Tác giả đã thu
thập dữ liệu xuất khẩu hàng quý của Tuynidi sang sáu nước Châu Âu bao
gồm: Pháp, Ý, Đức, Bỉ, Hà Lan và Tây Ban Nha. Năm cơ sở được chọn là
năm 1995. Nguồn dữ liệu được lấy từ cơ sở dữ liệu của IMF và nguồn thống
kê tài chính của Ngân hàng Trung ương Tuynidi. Phân tích thực nghiệm của
17