1
MỤC LỤC
GIỚI THIỆU .......................................................................................................................... 7
1.
Đặt vấn đề nghiên cứu .............................................................................................. 7
2.
Tình hình nghiên cứu liên quan đến nội dung luận án........................................ 12
3.
Mục tiêu nghiên cứu ............................................................................................... 15
4.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ......................................................................... 16
5.
Kết cấu của luận án ................................................................................................ 18
6.
Một số phát hiện và đóng góp lý luận của nghiên cứu ........................................ 18
CHƯƠNG 1 ......................................................................................................................... 20
TÁC ĐỘNG CỦA VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀ CÁC NHÂN TỐ
HẤP THỤ LÊN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ: KHUNG LÝ THUYẾT VÀ BẰNG
1.4.3. Các nghiên cứu thực nghiệm có kết quả kết luận đầu tư trực tiếp nước
ngoài có tác động ngược chiều đến tăng trưởng kinh tế ........................................ 44
1.4.4. Các nghiên cứu thực nghiệm về quan hệ hỗn hợp giữa đầu tư trực tiếp
nước ngoài và tăng trưởng kinh tế ........................................................................... 44
1.5. Các nghiên cứu thực nghiệm về các nhân tố hấp thụ tác động đến mối quan hệ
giữa FDI và tăng trưởng kinh tế................................................................................... 45
1.5.1.
Môi trường thể chế kinh tế.......................................................................... 47
2
1.5.2.
Về giáo dục ................................................................................................... 50
1.5.3.
Chất lượng cơ sở hạ tầng ............................................................................ 52
1.5.4.
Quá trình đô thị hóa .................................................................................... 52
1.5.5.
Môi trường kinh tế vĩ mô ............................................................................ 53
CHƯƠNG 2 ......................................................................................................................... 56
Tác động tiêu cực ......................................................................................... 72
CHƯƠNG 3 ......................................................................................................................... 74
MÔ HÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .............................................................. 74
3.1. Hồi quy với dữ liệu bảng ....................................................................................... 74
3.1.1.
Dữ liệu ........................................................................................................... 74
3.1.2.
Phương pháp Generalized Method of Moment ........................................ 77
3.2. Mô hình ................................................................................................................... 80
3.2.1.
Giới thiệu mô hình ....................................................................................... 80
3.2.2.
Mô tả biến ..................................................................................................... 81
3.2.3.
Nguồn dữ liệu các biến ................................................................................ 87
3.2.4.
Thống kê mô tả ............................................................................................. 88
Tác động của nhân tố cơ sở hạ tầng (INFRAS) ...................................... 103
CHƯƠNG 5 ....................................................................................................................... 106
KẾT LUẬN........................................................................................................................ 106
5.1 Kết luận và hàm ý chính sách ............................................................................. 106
5.2 Hạn chế và định hướng cho các nghiên cứu sau: .............................................. 109
4
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CHỮ
NỘI DUNG
VIẾT TẮT
OECD
Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế
FDI
Đầu tư trực tiếp nước ngoài
UNCTAD
Uỷ ban Liên Hiệp Quốc về Thương mại và Phát triển
IMF
2.
Bảng 2.2: Các hình thức FDI giai đoạn 1990 - 2014
57
3.
Bảng 3.1: Bảng tóm tắt nguồn dữ liệu các biến
84
4.
Bảng 3.2: Bảng thống kê mô tả các biến
85
5.
Bảng 3.3: Ma trận hệ số tương quan giữa các biến
86
6.
Bảng 3.4: Bảng tóm tắt kỳ vọng về dấu của các biến trong mô
87
97
6
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
STT
1.
NỘI DUNG
Biểu đồ 1: Dòng vốn Đầu tư FDI vào các nhóm nước, giai
TRANG
8
đoạn 1995-2014
2.
Biểu đồ 2: Dòng vốn Đầu tư FDI vào các nhóm nước hợp tác
9
kinh tế, trước và sau khủng hoảng kinh tế.
3.
Biểu đồ 3: Nguồn vốn FDI vào Đông Nam Á
10
4.
62
Việt Nam giai đoạn 2005-2014
9.
Biểu đồ 2.6: Vốn FDI thực hiện và GDP của Việt Nam giai
63
đoạn 1990-2014
10. Biểu đồ 2.7: Tỷ lệ đóng góp của các khu vực kinh tế trong
GDP của Việt Nam
64
giai đoạn 2005-2014
11. Biểu đồ 2.8: Tỷ lệ vốn của các khu vực kinh tế trong tổng vốn
64
Đầu tư phát triển tại Việt Nam giai đoạn 1990-2014
12. Biểu đồ 2.9: Giá trị đóng góp của của các khu vực kinh tế
trong GDP Việt Nam giai đoạn 2005-2014
66
7
gia ngày càng chảy nhiều hơn vào các nước công nghiệp hoá, thay vì các nước đang
phát triển như những năm trước đây. Nguyên nhân khiến dòng vốn FDI đang quay
trở lại các nước công nghiệp hóa phát triển, đó là các nước đang phát triển đã giảm
lợi thế về nhân công, trong khi các nước phát triển lại có nhiều lợi thế về cơ sở hạ
tầng, nhân công trình độ cao cũng như gắn với thị trường tiêu thụ. Bên cạnh đó, môi
trường chính sách kinh tế thiếu nhất quán và những bất ổn tiềm ẩn ở khu vực các
quốc gia đang phát triển có thể khiến tốc độ tăng trưởng FDI trong các năm tới bị
chậm lại.
Dòng vốn FDI của các quốc gia phát triển giảm 28 phần trăm (xuống mức
499 tỷ đôla). Dòng vốn FDI vào Mỹ giảm xuống mức 92 tỷ đôla (40% so với 2013).
Cơ cấu dòng vốn FDI theo khu vực các nhóm nước hợp tác kinh tế (OECD) cũng có
sự thay đổi đáng kể sau khủng hoảng tài chính 2008. Tỷ lệ FDI trong khu vực mậu
9
dịch thương mại tự do giữa Mỹ và Châu Âu (TTIP) đã giảm từ mức 56% trước
khủng hoảng xuống còn 26% vào năm 2014. Khu vực mậu dịch xuyên châu Á Thái
Bình Dương (TPP) có tỷ lệ nhận đầu tư FDI là 28% vào năm 2014, nhỏ hơn đáng kể
so với quy mô đóng góp vào GDP là 40% trên toàn cầu. Trong khi đó, Khu vực hợp
tác kinh tế toàn diện (RCEP) giữa các nước ASEAN và sáu đối tác thương mại FTA
đã vươn lên chiếm 30% trong tổng số dòng vốn đầu tư toàn cầu, tăng hơn gấp hai
lần so với trước khi có khủng hoảng kinh tế thế giới 2008-2009. Khu vực hợp tác
châu Á Thái Bình Dương (APEC) hiện là khu vực hợp tác kinh tế nhận FDI chiếm
tỷ trọng lớn nhất với tỷ lệ là 53% trên toàn cầu.
Biểu đồ 2: Dòng vốn Đầu tư FDI vào các nhóm nước hợp tác kinh tế, trước
và sau khủng hoảng kinh tế.
Các
nhóm
trên
thế
giới
(%)
59
52
37
24
56
13
11
19
53
28
28
30
4
2
trọng
21
14
xu tìm kiếm các địa điểm
m có chi phí thấp
th hơn để đặt nhà
máy, trong đó các nướ
ớc như Việt Nam và Philippines đượcc cho là những
nh
nước thay
thế hấp dẫnn và trong bối
b cảnh lĩnh vực sản xuất của Trung Quốcc đang
đ
mất đà do gặp
nhiều khó khăn,
n, các doanh nghiệp
nghi nước này sẽ tìm cách đầuu tư
t sang nước ngoài
nhằm cắt giảm
m chi phí hoạt
ho động và tìm kiếm các thị trường mớ
ới.
Biểu đồ 3: Nguồnn vốn
v FDI vào Đông Nam Á
Nguồnn World Bank
Trong khu vựcc Đông
Đ
Nam Á, FDI vào Indonesia tăng
ăng mạnh
m
nhất, đạt mức
66% kể từ năm
(tăng trên 24% so với năm 2013) và tổng số vốn đăng ký hơn 20 tỷ USD (tăng trên
40% so với năm 2013).
Khu vực này đã tạo ra trên 3 triệu lao động trực tiếp và khoảng 3-4 triệu lao
động gián tiếp, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và thay đổi cơ cấu lao động,
góp phần thúc đẩy việc chuyển giao công nghệ cả về máy móc, thiết bị, tri thức và
kinh nghiệm quản lý; thúc đẩy quá trình cải cách doanh nghiệp nhà nước; đổi mới
thủ tục hành chính và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường; xây dựng và hoàn thiện
đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước về đầu tư nước ngoài.
Các doanh nghiệp FDI đã góp phần làm thay đổi cơ cấu mặt hàng xuất khẩu
theo chiều hướng giảm tỷ trọng sản phẩm khai khoáng, mặt hàng sơ cấp, tăng dần tỷ
trọng hàng chế tạo. Cũng nhờ có khu vực này nên đã tác động tích cực tới việc mở
rộng thị trường xuất khẩu, nhất là sang Mỹ, EU, làm thay đổi đáng kể cơ cấu xuất
khẩu, đưa Mỹ trở thành thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam. Khu vực FDI
còn góp phần ổn định thị trường trong nước, hạn chế nhập siêu thông qua việc cung
cấp cho thị trường nội địa các sản phẩm chất lượng cao do doanh nghiệp trong nước
sản xuất, thay vì phải nhập khẩu như trước đây.
Bên cạnh những kết quả đạt được, khu vực FDI còn có những hạn chế, tồn
tại như hiệu quả tổng thể nguồn vốn đầu tư nước ngoài chưa cao, giá trị gia tăng tạo
12
ra tại Việt Nam và khả năng tham gia chuỗi giá trị thấp, định hướng thu hút đầu tư
nước ngoài theo ngành, đối tác còn hạn chế; mục tiêu thu hút công nghệ, chuyển
giao công nghệ chưa đạt yêu cầu; một số dự án chất lượng chưa cao, quy mô dự án
nhỏ, tỷ lệ giải ngân thấp so với yêu cầu…
Cụ thể, đầu tư nước ngoài thời gian qua hướng vào những ngành thâm dụng
lao động, sử dụng tài nguyên, tận dụng chính sách bảo hộ công nghiệp trong khi các
ngành sử dụng công nghệ cao, tạo ra nhiều giá trị gia tăng chưa nhiều. Đầu tư của
các nước phát triển vào Việt Nam còn khiêm tốn nếu so với đầu tư của các nước
tranh. Nguyễn Thị Hường và Bùi Huy Nhượng (2003) rút ra một số bài học cho
Việt Nam bằng cách so sánh chính sách thu hút FDI ở Trung Quốc và Việt Nam
trong thời kỳ 1979-2002. Đoàn Ngọc Phúc (2004) phân tích thực trạng của FDI
trong thời kỳ 1988-2003 và kết luận tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam phụ thuộc
nhiều vào khu vực có vốn FDI.
Xét về phương pháp luận, hầu hết các nghiên cứu về FDI ở Việt Nam sử
dụng phương pháp phân tích định tính, tổng kết tình hình FDI vào Việt Nam dựa
vào số liệu thống kê. Các kết luận về tác động của FDI đến tăng trưởng kinh tế chủ
yếu dựa vào tỷ trọng của FDI so với tổng đầu tư xã hội và đóng góp của khu vực có
vốn FDI vào GDP hoặc vào tốc độ tăng giá trị sản xuất của ngành – những nghiên
cứu này không trực quan, kết luận không đủ vững để thuyết phục. Các nghiên cứu
định lượng khác để kiểm định tác động tràn của FDI hầu như rất ít. Sự thiếu vắng
các nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích định lượng thông qua mô hình hóa
có thể là do thiếu các dữ liệu cần thiết. Nghiên cứu của Nguyễn Thị Phương Hoa
(2004) là một trong số rất ít nghiên cứu dùng cả hai phương pháp định tính và định
lượng. Tuy nhiên, nghiên cứu này chỉ lượng hóa được tác động của FDI tới tăng
trưởng của các tỉnh Việt Nam nhằm mục đích cuối cùng là tìm mối quan hệ giữa
FDI và xóa đói giảm nghèo. Không phải theo dõi yếu tố tác động và cơ chế của FDI
tác động lên GDP. Hầu như vẫn chưa có nghiên cứu nào thực sự đề cập đến các
nhân tố hấp thụ FDI và định lượng về vấn đề này. Bên cạnh đó, lý thuyết về sự
truyền dẫn này ở Việt Nam cũng chưa đề cập đến yếu tố về những cú sốc khủng
hoảng như để khẳng định cho tính bền vững của lý thuyết.
14
Tình hình nghiên cứu nước ngoài: Sự dịch chuyển các dòng vốn đầu tư,
đặc biệt là dòng vốn FDI, là một trong những nhân tố chính đẩy nhanh quá trình
toàn cầu hóa trên thế giới cũng như tiến trình hội nhập quốc tế của các quốc gia
đang phát triển.
quả rất yếu.
Do những kết quả không thống nhất và còn bỏ ngỏ này nên cần có sự thận
trọng khi đưa ra kết luận tổng quát về tác động của vốn FDI. Những chính sách dựa
trên giả định rằng FDI sẽ đem lại hiệu ứng lan tỏa tích cực trong mọi hoàn cảnh có
thể dẫn đến kết quả không như mong muốn.
Một số nghiên cứu – trong đó nổi bật nhất là của Lipsey và Sjöholm (2005) đã chỉ ra rằng kết quả thực nghiệm thu được khi nghiên cứu về mối quan hệ giữa
FDI và tăng trưởng nếu tiến hành trên các mẫu khác nhau thì cho ra kết quả khác
nhau, ngay cả khi áp dụng cùng một phương pháp hồi quy, cùng một mô hình trong
cùng một thời kỳ.
3. Mục tiêu nghiên cứu.
Mục tiêu nghiên cứu của luận án nhằm tiếp tục đóng góp vào những tranh
luận hiện nay về mối quan hệ giữa FDI và tăng trưởng kinh tế, góp phần lấp những
khoảng trống trong nghiên cứu tác động của FDI và những nhân tố hấp thụ lên tăng
trưởng kinh tế dựa theo tình hình nghiên cứu liên quan đến nội dung của luận án
như sử dụng yếu tố nội sinh trong phương pháp hồi quy mô hình, sử dụng các biến
số phù hợp và đa dạng với tình hình Việt Nam. Cung cấp bằng chứng thực nghiệm
về các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng hấp thụ FDI trong một nền kinh tế thu nhập
trung bình - thấp, bằng cách xây dựng mô hình thực nghiệm vừa trên cơ sở kế thừa
các nghiên cứu trước vừa khai thác những nhân tố phù hợp. Thông qua các bằng
chứng thực nghiệm có thể nhận diện vai trò của nguồn vốn FDI và vai trò của các
nhân tố hấp thụ trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam và các nước có
thu nhập trung bình – thấp. Từ kết quả của Lipsey và Sjöholm (2005), luận án tiến
hành nghiên cứu về vấn đề FDI trên các khía cạnh khác: tại sao nền kinh tế các quốc
gia lại có tác động khác nhau đối với FDI? Do đặc điểm riêng có hay trình độ phát
triển kinh tế đã ảnh hưởng đến việc hấp thụ FDI của các quốc gia? Những đặc điểm
16
riêng này được nhắc đến trong các nghiên cứu thực nghiệm về “khả năng hấp thụ”
một số biến kiểm soát nhằm xem xét tính vững trong khủng hoảng thể hiện qua các
nhân tố như tăng trưởng kinh tế, FDI, thể chế kinh tế, giáo dục, tự do kinh tế, cơ sở
hạ tầng, minh bạch chính phủ và tập hợp các biến kiểm soát có liên quan.
o Phạm vi nghiên cứu.
• Không gian nghiên cứu.
Dữ liệu được thu thập cho nghiên cứu gồm 33 quốc gia theo các tiêu chí: thứ
nhất, những quốc gia được Ngân hàng Thế giới phân loại vào nhóm quốc gia có thu
nhập trung bình hoặc thấp bao gồm các quốc gia có tổng thu nhập quốc gia trên đầu
người từ 876 đến 3.465 USD một năm. Thứ hai, các quốc gia có dân số vào năm
2014 trên 3,5 triệu người để bộ dữ liệu đồng bộ, tránh trường hợp những quốc gia
có dân số quá ít, có khả năng có GDP trên đầu người quá cao dẫn đến kết quả thống
kê bị lệch lạc. Thứ ba, những quốc gia được chọn trong mẫu nghiên cứu có thực
hiện chiến lược phát triển kinh tế hướng ngoại với trọng tâm là thu hút vốn FDI, căn
cứ theo mục tiêu hành động trong giai đoạn và chính sách thu hút đầu tư FDI của
các quốc gia đó. Ngoài ra, chọn lọc các quốc gia trong mẫu nghiên cứu trên có
nhiều điểm tương đồng với Việt Nam như cùng gắn liền với một số hiệp định
thương mại và lưu chuyển dòng vốn, cùng đặc điểm dân cư,… để có thể so sánh.
• Khoảng thời gian.
Dữ liệu về các biến trong mô hình được thu thập từ bộ dữ liệu World
Development Indicators (WDI) phát hành bởi Ngân hàng Thế giới (World Bank),
ngoại trừ chỉ số tự do kinh tế Index of economic freedom (IEF) do tổ chức The
Heritage Foundation và Wall Street Journal thu thập và tính toán, trong giai đoạn từ
năm 1995 đến năm 2014 (từ năm 1995, dữ liệu cho toàn bộ các quốc gia được chọn
nghiên cứu mới có sẵn).
Ngoài ra, các dữ liệu về thực trạng ở Việt Nam về tăng trưởng kinh tế, tình
hình đầu tư trực tiếp nước ngoài được thu thập chủ yếu chủ yếu từ Tổng cục Thống
kê Việt Nam và Cục Đầu tư nước ngoài trong giai đoạn 1988 -2014.
19
Nền kinh tế tự do (ECOFREE), có tác động cùng chiều lên sự phát triển kinh
tế tại nhóm nước trong mẫu nghiên cứu, thể hiện tác động tăng cường của
ECOFREE đến hiệu quả thúc đẩy tăng trưởng của FDI. Đối với Việt Nam, cần tiếp
tục mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế, tham gia các khu vực mậu dịch tự do với các
đối tác kinh tế - thương mại quan trọng nhằm mở rộng quan hệ ngoại thương, hỗ trợ
hoạt động xuất khẩu.
Chất lượng lao động (chỉ số phát triển con người – HDI), có tác động lên tăng
trưởng kinh tế trong hầu hết trường hợp. Kết quả cho thấy ở Việt Nam, việc phát
triển con người cao hơn sẽ góp phần nâng cao hiệu quả trong sử dụng nguồn vốn
FDI, giúp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Chính phủ Việt Nam cũng như từng địa
phương cần quan tâm đào tạo nguồn nhân lực vừa đảm bảo và không nên quá tập
trung vào số lượng để đảm bảo chất lượng phục vụ tăng trưởng kinh tế, hướng đến
những chuẩn mực của thế giới, nhất là khi Việt Nam hội nhập ngày càng sâu rộng
vào kinh tế khu vực và toàn cầu.
Về yếu tố Minh bạch chính phủ (chỉ số minh bạch chính phủ - TRANS). Kết
quả nghiên cứu của luận án cho thấy ở các quốc gia có thu nhập trung bình thấp nói
chung (trong đó có Việt Nam), thì hệ số của biến tương tác gặp phải nghịch lý. Tuy
nhiên, ở Việt Nam, hệ số tương tác (FDI*TRANS*VN) có ý nghĩa kinh tế rất cao
và có tương quan dương điều đó thể hiện trong những năm gần đây, khi Chính phủ
thực sự chú trọng đến việc tăng cường hiệu quả quản lý đã tạo được tác động tích
cực góp phần gia tăng hiệu quả của dòng vốn FDI vào GDP.
Cơ sở hạ tầng (INFRAS) thể hiện sự đổi mới công nghệ, đầu tư xây dựng cơ
bản của quốc gia có tác động cùng chiều và là nhân tố giúp hấp thụ FDI. Theo như
hệ số của biến tương tác thì khi Việt Nam xây dựng tốt cơ sở hạ tầng thì sẽ đón
nhận được hiệu quả lớn hơn từ FDI mang lại. Điều này dẫn đến khuyến nghị về việc
cần phải hoạch định xây dựng cơ sở hạ tầng hiện đại hoá trong tương lai.
tế tác động đến tăng trưởng kinh tế, về phía tổng cầu, bao gồm chi cho tiêu dùng cá
21
nhân, chi tiêu của Chính phủ, chi cho đầu tư và chi tiêu qua hoạt động xuất nhập
khẩu. Nhóm các nhân tố phi kinh tế bao gồm nhân tố chính trị, xã hội, thể chế …
Các nhân tố này góp phần tạo nên hành lang pháp lý và môi trường cho các nhà Đầu
tư, tạo điều kiện để đổi mới cơ cấu và công nghệ sản xuất phù hợp với những điều
kiện thực tế, làm gia tăng tốc độ tăng trưởng kinh tế.
1.1.2. Khái niệm Đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Theo tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD), Đầu tư trực tiếp nước
ngoài phản ánh những lợi ích khách quan lâu dài mà một thực thể kinh tế tại một
nước (nhà đầu tư) đạt được thông qua một cơ sở kinh tế tại một nền kinh tế khác.
Lợi ích lâu dài thể hiện ở chỗ sự tồn tại một mối quan hệ dài hạn giữa nhà đầu tư
với doanh nghiệp được đầu tư. Nhà đầu tư có được ảnh hưởng quan trọng và hiệu
quả trong việc quản lý doanh nghiệp đó. Đầu tư trực tiếp bao gồm việc thực hiện
những giao dịch từ đầu và tất cả những giao dịch vốn tiếp theo giữa hai thực thể và
các doanh nghiệp được liên kết một cách chặt chẽ. Như vậy, FDI là đầu tư vốn nước
ngoài có gắn liền với việc quản lý các hoạt động sản xuất kinh doanh đối với dự án,
doanh nghiệp tiếp nhận phần vốn đó và có thời hạn lâu dài.
Theo Uỷ ban Liên Hiệp Quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD), Đầu
tư trực tiếp nước ngoài là một khoản đầu tư bao gồm mối quan hệ trong dài hạn,
phản ánh lợi ích và quyền kiểm soát lâu dài của một thực thể thường trú ở một nền
kinh tế (nhà đầu tư nước ngoài hay công ty mẹ nước ngoài) trong một doanh nghiệp
thường trú ở một nền kinh tế khác với nền kinh tế của nhà đầu tư nước ngoài (doanh
nghiệp đầu tư nước ngoài trực tiếp, doanh nghiệp liên doanh hoặc chi nhánh nước
ngoài).
Theo Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF), Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc đầu tư
vốn được thực hiện ở các doanh nghiệp hoạt động ở nước ngoài nhằm thu về những
nhiều sự tương đồng với những điều Luật Đầu tư được nêu ra. Đồng thời, trong hầu
hết tất cả các nghiên cứu trước đây, cả trong và ngoài nước, thì UNCTAD luôn là
nguồn tài liệu tham khảo và số liệu thống kê để xem xét. Chính vì thế, định nghĩa từ
UNCTAD sẽ tạo ra sự thống nhất với các chuỗi nghiên cứu trước đây về FDI và
tăng trưởng kinh tế.
23
1.1.3. Các lý thuyết về vai trò của vốn Đầu tư lên tăng trưởng kinh tế.
Vai trò của vốn đầu tư lên tăng trưởng kinh tế đã và đang được đề cập ở rất
nhiều lý thuyết, mô hình kinh tế cũng như trong các nghiên cứu thực nghiệm. Để
một quốc gia có thể tăng trưởng và phát triển, một lượng vốn cần thiết phải được
tích lũy nhằm tạo ra các yếu tố cơ bản cho quá trình sản xuất. Một số lý thuyết kinh
tế cho thấy vai trò của vốn đầu tư như là một nhân tố quan trọng đối với tăng
trưởng.
1.3.1. Mô hình Lý thuyết tăng trưởng cổ điển.
Lý thuyết này cho rằng tăng trưởng kinh tế sẽ kết thúc bởi vì sự gia tăng dân
số và sự giới hạn nguồn tài nguyên trên trái đất. Những nhà kinh tế học cổ điển tin
rằng sự gia tăng tạm thời trong GDP thực trên đầu người sẽ gây ra sự bùng nổ dân
số và dẫn đến làm giảm GDP thực.
Adam Smith đã tạo ra mô hình tăng trưởng phía cung thông qua hàm sản
xuất:
Y = || f(L,K,N)
Trong đó L là lao động, K là vốn và N là đất. Kết quả đầu ra (gY) được tạo
ra bởi sự tăng trưởng dân số (gL), đầu tư (gK) và mở rộng đất (gN) và sự tăng
trưởng chung về năng suất lao động (gP).
gY = ϕ(gP gK, gN, gL)
David Ricardo (1772-1823) phát hiện những giới hạn của sự tăng trưởng
kinh tế do các nguồn tài nguyên thiên nhiên ngày càng khan hiếm. Trong tác phẩm
nguyên thiên nhiên giới hạn, nhất là đất đai, việc tăng giá để phục vụ cho số lượng
dân cư không ngừng tăng lên sẽ đẩy nền kinh tế tới trạng thái dừng, ở đó tỷ suất lợi
nhuận xuống thấp đến mức nhà tư bản không còn động cơ đầu tư thêm trong khi
mức lương thực tế của người lao động vẫn chỉ được duy trì ở mức đủ sống. Đây
chính là cơ chế nguồn lực đất đai giới hạn tăng trưởng kinh tế trong thời kỳ đầu
công nghiệp hóa và thường được gọi là cái bẫy Ricardo.
Về chính sách tăng trưởng, D. Ricardo cho rằng để thoát được cái bẫy này,
phải thực hiện chính sách tự do hóa nhập khẩu lương thực thực phẩm vì mặc dù
trong phạm vi nước Anh lượng đất đai màu mỡ là có hạn song trên phạm vi toàn thế
25
giới chúng lại vô hạn. Theo Ricardo, đất đai sản xuất nông nghiệp (R, Resources)
là nguồn gốc của tăng trưởng kinh tế. Nhưng đất sản xuất lại có giới hạn do đó
người sản xuất phải mở rộng diện tích trên đất xấu hơn để sản xuất, lợi nhuận của
chủ đất thu được ngày càng giảm dẫn đến chí phí sản xuất lương thực, thực phẩm
cao, giá bán hàng hóa nông phẩm tăng, tiền lương danh nghĩa tăng và lợi nhuận của
nhà tư bản công nghiệp giảm. Mà lợi nhuận là nguồn tích lũy để mở rộng đầu tư dẫn
đến tăng trưởng. Như vậy, do giới hạn đất nông nghiệp dẫn đến xu hướng giảm lợi
nhuận của cả người sản xuất nông nghiệp và công nghiệp và ảnh hưởng đến tăng
trưởng kinh tế. Nhưng thực tế mức tăng trưởng ngày càng tăng cho thấy mô hình
này không giải thích được nguồn gốc của tăng trưởng.
Còn theo Karl Marx, các yếu tố tác động đến tăng trưởng kinh tế là đất đai,
lao động, vốn, tiến bộ kĩ thuật. Marx đặc biệt quan tâm đến vai trò của lao động
trong quá trình tạo ra giá trị thặng dư. Theo Marx, sức lao động đối với nhà tư bản
là một loại hàng hoá đặc biệt. Trong quá trình nhà tư bản sử dụng lao động, hàng
hoá sức lao động tạo ra giá trị lớn hơn giá trị bản thân nó, giá trị đó bằng giá trị sức
lao động dành cho bản thân người lao động, cộng với giá trị thặng dư dành cho tư
bản và địa chủ.