TÀI LIỆU ÔN TẬP NGỮ VĂN 9 ÔN THI VÀO 10 (THEO CT GIẢM TẢI MỚI CỦA BỘ) - Pdf 40

PHẦN I: ÔN TÂÂP VĂN HỌC TRUNG ĐẠI
Bảng hê thống các tác giả, tác phẩm văn học trung đại đã học ở lớp 9.
TT

Tên tp
đ. trich

Tác giả, hoàn cảnh ra đời tp.

ND, NT chủ yếu

1

ChuyêÂn
người
con gái
Nam
Xương
(trích
"Truyền ki
mạn lục).

-Nguyễn Dư (chưa rõ năm sinh năm mất), quê
ở Hải Dương. Ông sống vào nửa đầu TK XVI,
là thời ki triều đinh nhà Lê đã bắt đầu khủng
hoảng, các tââp đoàn PK Lê, Mạc, Trịnh tranh
giành quyền lực, gây ra những cuôâc nôâi chiến
kéo dài.
- Ông học rôâng, tài cao nhưng chỉ làm quan
môât năm rồi cáo về, sống ẩn dâât ở vùng núi
Thanh Hóa. Đó là cách phản kháng của nhiều

Du(1772 - 1840) làm quan dưới triều Nguyễn.
- Tp viết bằng chữ Hán, ghi chép về sự thống
nhất của vương triều nhà Lê vào thời điểm Tây
Sơn diêât Trịnh, trả lại Bắc Hà cho vua Lê.Có
thể coi đây là cuốn tiểu thuyết lịch sử viết theo
lối chương hồi. Nó tái hiêân môât giai đoạn lịch
sử đầy biến đôâng của XHPKVN 30 năm cuối
TK 18- đầu TK 19.
- Cuốn tiểu thuyết có 17 hồi, đoạn trích thuôâc
hồi 14, viết về sự kiêân vua Quang Trung đại
phá quân Thanh.

- Hinh ảnh người anh hùng dân tôâc
Quang Trung với cuôâc hành quân
thần tốc, chiến thắng vĩ đại, đại phá
quân Thanh mùa xuân năm 1798.
- Sự thất bại thảm hại của quân tướng
Tôn Sĩ Nghị và số phâân bi đát của vua
tôi Lê Chiêu Thống phản nước hại
dân.
- Tiểu thuyết lịch sử chương hồi viết
bằng chữ Hán.
- Cách kể chuyêân nhanh gọn, chọn lọc
sự viêâc, khắc họa nhân vâât chủ yếu
qua hành đôâng và lời nói.

4

TruyêÂn
Kiều


Cảnh

Nguyễn Du.

- Bức tranh thiên nhiên, lễ hôâi mùa

1


ngày
xuân

xuân tươi đẹp, trong sáng.
- Tả cảnh bằng tự ngữ, hinh ảnh giàu
chất tạo hinh.

8

Kiều
ở Nguyễn Du
lầu
Ngưng
Bich

- Cảnh ngôâ cô đơn buồn tủi và tấm
lòng thủy chung, hiếu thảo rất đáng
thương, đáng trân trọng của Kiều.
- Miêu tả nôâi tâm nhân vâât ; bút pháp
tả cảnh ngụ tinh.

1. Giá trị nội dung:
a) Giá trị hiện thực:
* Truyện phản ảnh hiện thực XHPK bất công với chế độ nam quyền, chà đạp lên số phận
người phụ nư.
+ cuôâc hôn nhân không binh đẳng giữa Trương Sinh và Vũ Nương (T. Sinh đem trăm lạng
bạc cưới Vũ Nương về).
+ tính cách của TS khó đảm bảo cho môât cuôâc sống vợ chồng hạnh phúc: TS có tính đa
nghi, đối với vợ phòng ngừa quá sức.
+Cách cư xử hồ đồ, đôâc đoán của TS khi găâp tinh huống bất ngờ là lời nói của bé Đản đã
chứa đựng đầy những dữ kiêân đáng ngờ. Hành đôâng vũ phu của TS đã bức tử VN phải chết môât
cách bi thảm.
--> Nhân vâ ât TS là hiê ân thân của chế đô â PK bất công. Sự đô âc đoán, chuyên quyền đã làm tê
liê ât lí trí, đã giết chết tình người và dẫn đến bi kịch.
* Phản ánh số phận con người chủ yếu qua số phận người phụ nư: chịu nhiều oan khuất và
bế tắc.
+ Hạnh phúc mà VN được hưởng mong manh như ây khói, còn những ngang trái, đau
thương luôn đè năâng lên cuôâc đời nàng. Nàng phải chịu nỗi oan khuất, bị chồng nghi ngờ là thất
tiết và phải chết môât cách oan uổng, đau đớn.
+ Cái chết của VN là sự đầu hàng số phâân nhưng lại là điều tất yếu:
# Mong ước duy nhất của VN là thú vui nghi gia nghi thất nhưng hạnh phúc đã tan
vỡ, chồng ruồng rẫy, nàng đã mất tất cả nên cuôâc sống với nàng chẳng còn y nghĩa gi.
# VN không có chỗ dung thân, bị dồn vào bước đường cùng, đức hạnh trong trắng
thủy chung của nàng đã bị nghi ngờ, không giải thích, không minh oan được, nàng đã gă âng hỏi, đã
phân trần thanh minh bằng những lời rớm máu... nhưng TS không tin, nàng đành phải chấp nhâ ân
số phân sau mọi cố gắng không thành.
# VN vốn là người trọng danh tiết, giờ đây lại bị vu oan, mô ât nỗi oan tày trời.Nỗi oan
ấy chính là nỗi nhục không bày tỏ được nên phải tim đến cái chết để giải oan. Với nàng, danh dự
còn lớn hơn cả mạng sống thi không thể chung sống với những điều tiếng nhơ nhuốc... nỗi đau
khổ của nàng đã lên đến tôât cùng. Hành đôâng tự trẫm minh là hành đôâng quyết liêât để bảo toàn
danh dự, có nỗi tuyêât vọng đắng cay nhưng cũng có sự chỉ đạo của lí trí (d/c: chi tiết "tắm gô iâ chay
Bi kịch của VN là mô ât lời tố cáo XHPK xem trọng quyền uy của kẻ giàu và của người đàn
ông trong gia đình, đồng thời bày tỏ niềm cảm thương của tg đối với số phâ ân oan nghiê ât của người
phụ nữ.
* Phản ánh XHPK với nhưng cuộc c/tranh phi nghĩa liên miên, làm cho cuộc sống của người
dân càng rơi vào bế tắc.
b) Giá trị nhân đạo:
* Ca ngợi nhưng phẩm chất tốt đẹp của người phụ nư VN thông qua nv Vũ Nương.
- Là người con gái thuỳ mị, nết na, tư dung tốt đẹp.
- Là người vợ thuỷ chung:

3


+ Mới về nhà chồng: hiểu T.Sinh có tính đa nghi, nàng luôn giữ gin khuôn phép.
+ Khi tiễn chồng đi lính: nàng chỉ tha thiết mong ngày trở về mang theo hai chữ binh
yên.
+ Khi chồng đi lính: nhớ chồng da diết, chỉ bóng minh trên tường (nói là cha Đản) để
vơi đi nỗi nhớ chồng.
+ Khi bị nghi oan: tim mọi cách để xoá bỏ ngờ vực trong lòng T.Sinh, cố tim mọi cách
để hàn gắn tinh cảm vợ chồng.
+ Sống dưới thuỷ cung: vẫn nặng tinh với quê hương, với chồng con.
- Là người con dâu hiếu thảo:
+ Thay chồng chăm sóc mẹ.

* Sử dụng yếu tố kì ảo làm nổi bâ êt giá trị nhân đạo của tác phẩm.
* Kết hợp các phương thưc biểu đạt: tự sự + biểu cảm.

BÀI 3: HOÀNG LÊ NHẤT THỐNG CHI
(Hồi thư 14)
Ngô Gia Văn Phái
I. TÁC GIẢ, TÁC PHẨM:

4


1. Tác giả: Do môât số người cùng trong dòng họ Ngô Thi ở huyêân Thanh Oai - Hà Tây viết. Có 2
tg chính:
- Ngô Thi Chí (1753-1788), em ruôât Ngô Thi Nhââm. làm quan thời Lê Chiêu Thống viết 7 hồi
đầu.
- Ngô Thi Du (1722- 1840) làm quan triều Nguyễn viết 7 hồi tiếp theo.
2. Tác phẩm: viết bằng chữ Hán. Tp có 17 hồi.
a) Nhan đê: ghi chép về sự thống nhất của vương triều nhàLê vào thời điểm Tây Sơn diê ât
Trịnh, trả lại Bắc Hà cho vua Lê.(Tp còn tái hiêân môât gia đoạn lịch sử đầy biến đôâng của XHPK VN
vào 30 năm cuối TK 18 và mấy năm đầu TK 19).
b) Thể loại: chí: môât lối văn ghi chép sự vâât, sự viêâc. Được coi là cuốn tiểu thuyết lịch sử
viết theo kiểu chương hồi. Phương thức biểu đạt: tự sự.
c) Đại y: Chiến thắng lừng lẫy của vua Quang Trung, sự thảm bại của quân tướng nhà
Thanh và số phâân lũ vua quan phản nước, hại dân.
d) Bố cục:
- P1: từ đầu... ngày 25 tháng chạp năm Mââu Thân 1788: Được tin cấp báo quân Thanh đã
chiếm Thăng Long, Nguyễn Huê â lên ngôi hoàng đế, thân chinh cầm quân ra Bắc dẹp giă âc.
- P2: Vua Quang Trung ... kéo vào thành: Cuô âc hành quân thần tốc và chiến thắng lừng
lẫy của vua Quang Trung.
- P3: Còn lại: Sự thảm bại của quân Thanh và bọn vua tôi bán nước Lê Chiêu Thống.

c) Ý chi quyết thắng và tầm nhìn xa trông rôÂng:
- Thể hiêân ở kế sách vừa tiến quân vừa tuyển binh sĩ, tạo nên cuôâc hành quân thần tốc
khiến cho kẻ địch không thể ngờ được mà đối phó. Vừa mới khở binh đánh giă câ , chưa giành được
tấc đất nào, vâây mà vua QT đã nói chắc như đinh đóng côât "phương lược tiến đánh đã có tính
sẵn","chẳng qua hơn mười ngày có thể đuổi được giăâc Thanh".
- Biết trước kẻ thù "lớn gấp mười nước mình", "bị thua mô ât trâ ân ắt lấy làm thẹn mà lo mưu
báo thù khiến viê âc binh đao không bao giờ dứt" nên vua QT còn tính sẵn cả kế hoạch ngoại giao
sau chiến thắng để có thời gian "yên ổn mà nuôi dưỡng lực lượng" làm cho nước giàu dân mạnh .
d) Là vị tướng có tài thao lược, dụng binh như thần:
- Cuôâc hành quân thần tốc do QT chỉ huy đến nay vẫn còn làm cho chúng ta kinh ngạc. Vừa
hành quân, vừa đánh giăâc mà vua QT định kế hoạch từ 25 tháng chạp đến mùng 7 tháng giêng se
vào ăn tết ở Thăng Long. Trong thực tế đã vượt mức 2 ngày.
- Hành quân xa, liên tục như vâây nhưng đôâi quân vẫn chỉnh tề cũng do tài tổ chức của
người cầm quân.
e) Oai phong, lẫm liêÂt trong chiến trâÂn:
- Hoàng đế QT là môât vị tổng chỉ huy, thân chinh cầm quân ra trâân, vừa hoạch định chiến
lược, sách lược, vừa trực tiếp tổ chức quân sĩ bài binh bố trâân, vừa tự minh thống lĩnh môât mũi
tiến công, cưỡi voi đi đốc thúc, xông pha nơi trâân tiền.
- Đôâi quân của vua QT không phải toàn là lính thiêân chiến, lại vừa phải trải qua nưhngx ngày
hành quân cấp tốc, không có thi giờ nghỉ ngơi, vâây mà dưới sự lãnh đạo tài tinh của vị tổng chỉ huy
này đã đánh những trâân thâât đẹp, thắng áp đảo đối phương (bắt sống hết quân do thám của địch ở
Phú Xuyên, giữ được bí mâ ât để tạo thế bất ngờ, vây kín làng Hà Hồi, công phá đồn Ngọc Hồi). Khí
thế của đôâi quân này làm cho kẻ thù phải khiếp vía (tưởng như "tướng ở trên trời xuống, quân chui
dưới đất lên".
- Hinh ảnh người anh hùng QT được khắc họa thâât lẫm liêât (trong cảnh khói tỏa mù trời,
cách gang tấc không thấy gi, nổi bâât hinh vảnh nhà vua "cưỡi voi đi đốc thúc").

6



BÀI 4: TRUYÊÂN KIỀU
Nguyễn Du
I. TÁC GIẢ NGUYỄN DU (1765- 1820):
- Tên là Tố Như, hiêâu: Thanh Hiên, quê ở làng Tiên Điền, huyêân Nghi Xuân, Hà Tĩnh.
- Là đại thi hào dân tôâc, danh nhân văn hóa TG, đỉnh cao nhất của VHTĐ VN.
- Sáng tác nhiều tp chữ Hán và chữ Nôm. 3 tââp thơ chữ Hán gồm 243 bài. Tp chữ Nôm xuất sắc
nhất là "Đoạn trường tân thanh" còn gọi là Truyêân Kiều.
1. Thời đại:
ND sinh trưởng trong 1 thời đại có nhiều biến đôâng dữ dôâi: XHPK VN bước vào thời ki
khủng hoảng trầm trọng, phong trào khởi nghĩa nông dân nổ ra liên tục mà đỉnh cao là cuô âc khởi
nghĩa Tây Sơn đánh đổ tââp đoàn Lê- Trịnh, quét sạch hai mươi chín vạn quân Thanh xâm lược.
Sau đó, phong trào Tây Sơn thất bại, chế đôâ PK triều Nguyễn được thiết lââp.
=> Những thay đổi kinh thiên đô âng địa ấy đã tác đô âng mạnh tới tình cảm, nhâ ân thức của ND để
ông hướng ngòi bút của mình vào hiê ân thực.
2. Gia đình:
Thuôâc dòng dõi quy tôâc PK, nhiều đời làm quan và có truyền thống về văn học (danh vọng
vào bââc nhất đương thời). Cha đỗ tiến sĩ từng làm tể tướng, anh cùng cha khác mẹ từng làm quan
to trong triều Lê và là người say mê nghêâ thuâât. => Hoàn cảnh gia đình đã ảnh hưởng lớn đến sự
nảy nở thiên tài ND. Ông tiếp thu được nhiều điều trong đó có truyền thống sáng tác văn chương,
ông cũng nhâ ân thức được nhiều điều về thế giới quan lại đương thời.

7


3. CuôÂc đời:
- ND là người thông minh, tài trí, hiểu biết sâu rôâng về văn hóa dân tôâc và văn chương
Trung Quốc.
- Mồ côi cha năm 9 tuổi, mồ côi mẹ năm 12 tuổi. Trong những biến đôâng dữ dôâi của lịch sử,
nhà thơ đã sống nhiều năm lưu lạc, tiếp xúc với nhiều cảnh đời, những con người, những số phâ n
â

a) Giá trị hiêÂn thực:
a1) TruyêÂn Kiều phản ánh bô măÂt tàn bạo của tầng lớp thống trị và nhưng thế lực hắc ám
chà đạp lên quyền sống của con người.
* Bọn quan lại:
- Viên quan xử kiêân vụ án Vương ông vi tiền chứ không vi le phải.
- Quan tổng đốc trọng thần Hồ Tôn Hiến là kẻ bất bài, nham hiểm, bỉ ổi và trâng tráo.
* Thế lực hắc ám:
- MGS, Sở Khanh, Tú Bà ... là những kẻ táng tâân lương tâm. Vi tiền, chúng sẵn sàng chà
đạp lên nhân phẩm và số phâân người lương thiêân.
--> Tác giả lên tiếng tố cáo bôâ măât xấu xa bỉ ổi của chúng.
a2) TruyêÂn Kiều phơi bày nỗi khổ đau của nhưng con người bị áp bưc, đă Âc biêÂt là người
phụ nư.
- Vương Ông bị mắc oan, cha con bị đánh đạp dã man, gia đinh tan nát.

8


- Đạm Tiên, Thúy Kiều là những người phụ nữ đẹp, tài năng, vâ ây mà kẻ thi chết trẻ, người
thi bị đọa đầy, lưu lạc suốt 15 năm.
--> Truyêân Kiều là tiếng kêu thương của những người lương thiêân bị áp bưc, đọa đầy.
b) Giá trị nhân đạo:
- Viết Truyêân Kiều, Nguyễn Du bôâc lôâ niềm thương cảm sâu sắc trước những đau khổ của
con người. Ông xót thương cho Thúy Kiều, môât người con gái tài sắc mà phải lâm vào cảnh bị đầy
đọa "Thanh lâu hai lượt thanh y hai lần".
- Là tiếng nói ngợi ca những giá trị, phẩm chất cao đẹp của con người như nhan sắc, tài
hoa, trí dũng, lòng hiếu thảo, trái tim nhân hââu, vị tha...
- Trân trọng, đề cao vẻ đẹp, ước mơ và khát vọng chân chính của con người: tinh yêu,
hạnh phúc, công lí, tự do...
- Tố cáo các thế lực bạo tàn chà đạp lên quyền sống của những con người lương thiêân
khiến họ phải khổ sở, điêu đứng.

- 4 câu cuối: nhận xét chung về cuộc sống của 2 chị em TK.
--> Kết cấu chặt che, thể hiện cách miêu tả nhân vật tinh tế của Nguyễn Du: Từ ấn tượng chung về
vẻ đẹp của hai chị em, nhà thơ gợi tả vẻ đẹp của TV làm nền để tả vẻ đẹp của TK.
3, Nội dung, NT:
- ND: Khắc h ọa rõ nét chân dung tuyệt mĩ của hai chị em TK, ca ngợi vẻ đẹp, tài năng và dự cảm
về kiếp người tài hoa bạc mệnh của TK là biểu hiện của cảm hứng nhân văn ở NDu.

9


- NT: + NT ước lệ: lấy vẻ đẹp của thiên nhiên để miêu tả vẻ đẹp của con người.
+ không miêu tả cụ thể mà chủ yếu là gợi tả. Sử dụng NT đòn bẩy để làm nổi bật hinh ảnh
TK.
4. Phương thưc biểu đạt: tự sự + miêu tả, biểu cảm.
5. Sáng tạo của NDu:
- Ở "Kim Vân Kiều truyện": Thanh Tâm tài nhân chủ yếu kẻ về hai chị em Kiều, còn NDu thiên về
gợi tả sắc đẹp của Thúy Vân, tài sắc của Thúy Kiều.
- Thanh Tâm Tài Nhân kể về Kiều trước, Vân sau, còn NDu lại gợi tả vẻ đẹp của TV trước để làm
nền tôn lên vẻ đẹp của TK.
II. PHÂN TICH ĐOẠN TRICH:
1. Bốn câu đầu: Giới thiệu chung về hai chị em:
- Giới thiệu ngắn gọn mà đầy đủ bằng bút pháp ước lệ: hai người con gái họ Vương đều đẹp (hai
ả tố nga), chị là Thúy Kiều, em là Thúy Vân. Cốt cách duyên dáng, thanh cao như mai, tinh thần
trong trắng như tuyết. Cả hai đều đến độ hoàn mĩ "mười phân vẹn mười" nhưng mỗi người có một
vẻ đẹp riêng.
2. Chân dung Thúy Vân: 4 câu tiếp
- Câu thơ đầu vừa giới thiệu, vừa khái quát vẻ đẹp của TV: "trang trọng" gợi vẻ đẹp cao sang,
quy phái.
- Những câu thơ tiếp theo lần lượt miêu tả từng nét đẹp của TV một cách cụ thể. Bằng bút pháp
ước lệ, trong thiên nhiên có bao nhiêu cái đẹp, NDu chọn những cái đẹp nhất để so sánh với vẻ

vẻ đẹp tâm hồn. Cung đàn "bạc mệnh" mà Kiều tự sáng tác ghi lại chân thực tiếng lòng của một
trái tim đa sầu đa cảm.

10


--> Vẻ đẹp của Kiều là sự kết hợp cả sắc- tài - tinh.
- Chân dung của TK cũng là chân dung mang tính cách và số phận: vẻ đẹp của Kiều khiến cho
tạo hóa phải ghen ghét, đố kị, tài hoa trí tuệ thiên bẩm, và cả cái tâm đa sầu đa cảm khiến Kiều
không thể tránh khỏi định mệnh nghiệt ngã, số phận éo le, ngang trái "Chữ tài liền với chữ tai một
vần" "Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen". Cuộc đời Kiều hẳn là cuộc đời hồng nhan bạc
mệnh.
- NDu rất tinh tế khi miêu tả TK: Miêu tả chân dung TV trước để làm nổi bật chân dung TK. Ca
ngợi cả hai nhưng đậm nhạt khác nhau: tác giả chỉ dành 4 câu thơ để tả Vân song lại dành tới 12
câu để tả Kiều. Tả vân, NDu chỉ tả nhan sắc; Kiều: cả sắc, tài, tinh đều được đực tả --> thủ pháp
đòn bẩy.
4. Nhận xét chung về cuộc sống của hai chị em (4 câu cuối):
- Họ sống phong lưu, khuôn phép, đức hạnh theo đúng khuôn khổ của lễ giáo phong kiến. Tuy cả
hai đều đã đến tuổi búi tóc cài trâm (tuổi cập kê) nhưng vẫn "trưởng rủ màn che, tường đông ong
bướm đi về mặc ai. Hai câu cuối trong sáng, đằm thắm như chở che, bao bọc cho hai chị em, hai
bông hoa vẫn còn phong nhụy.
--------------------------------------------------------------------------------------------------------

BÀI 6: CẢNH NGÀY XUÂN
I. TÌM HIỂU CHUNG:
1. Vị tri đoạn trich: đoạn trích nằm trong phần đầu của tp: gặp gỡ và đính ước. Sau khi giới thiệu
gia cảnh Vương viên ngoại, miêu tả chị em TK, tg tả cảnhngayf xuân, chị em TK đi chơi xuân.
2. Kết cấu đoạn trich: theo trinh tự thời gian của cuộc du xuân.
- 4 câu đầu: khung cảnh ngày xuân.
- 8 câu tiếp: khung cảnh lễ hội trong tiết thanh minh.

- Hai câu thơ tả cảnh thiên hiên của NDu quả là tuyệt bút! Hinh ảnh thơ giàu chất tạo hinh, ngôn
ngữ biểu cảm, gợi tả. Tg đã rất thành công trong bút pháp NT kết hợp giữa tả và gợi. Qua đó, ta
thấy tâm hồn con người tươi vui, phấn chấn qua cái nhin thiên nhiên trong trẻo, tươi tắn, hồn
nhiên, nhạy cảm tha thiết với vẻ đẹp thiên nhiên.
2. Khung cảnh lễ hội trong tiết thanh minh :
- NDu đã rất tài tinh khi tách từ "lễ hội" ra làm đôi để gợi tả hai hoạt động diễn ra cùng một lúc: lễ
tảo mộ - đi viếng mộ, quét tước, sửa sang phần mộ của người thân; hội đạp thanh- đi chơi xuân ở
chốn đồng quê.
- Không khí lễ hội được gợi tả qua một hệ thống từ ngữ giàu sức biểu đạt.
+ Gần xa, nô nức: là tính từ gợi tâm trạng náo nức của người đi hội.
+ Những danh từ ghép là danh từ như: yến anh, chị em, tài tử, giai nhân: gợi tả sự đông vui.
+ Những từ ghép là động từ: sắm sửa, dập dìu: gợi tả không khí rộn ràng, náo nhiệt của
người đi hội.
+ Cụm từ "nô nức yến anh " là một ẩn dụ gợi lên hinh ảnh đoàn nam thanh nữ tú nô nức đi
chơi xuân như những đàn chim én, chim oanh bay ríu rít.
+ Những so sánh "ngựa xe như nước áo quần như nêm" gợi tả sự đông vui.
+ Trong lễ tảo mộ, người ta rắc những thoi vàng tiềng giấy hàng mã để tưởng nhớ người đã
khuất nên mới có cảnh "thoi vàng vó rắc tro tiền giấy bay".
--> Một lễ hội đông vui náo nhiệt mang sắc thái điển hinh của lễ hội tháng 3. Qua cuộc du xuân của
chị em TK, tg đã làm sống lại một không khí của truyền thống văn hóa lễ hội xa xưa. Điều đó
chứng tỏ nhà thơ rất yêu quy, trân trọng vẻ đẹp và giá trị truyền thống văn hóa dân tộc.
3. Cảnh chị em TK du xuân trở về.
- Cảnh vẫn mang nét thanh tao, trong trẻo của mùa xuân, rất êm dịu: ánh nắng nhạt, khe nước
nhỏ, nhịp cầu nho nhỏ bắc ngang .Mọi chuyển động đều rất nhẹ nhàng: mặt trời từ từ ngả bóng về
tây, bước chân người thơ thẩn, dòng nước uốn quanh. Một bức tranh thật đẹp, thanh khiết.
- Nhưng cảnh đã có sự thay đổi về không gian và thời gian. Không còn bát ngát, trong sáng,
không còn cái không khí đông vui náo nhiệt của lễ hội, tất cả đang nhạt dần, lặng dần.
- Cảnh vẫn đẹp, vẫn thanh nhưng đã nhuốm màu tâm trạng. Đây không chỉ là hoàng hôn của
cảnh vật mà dường như con người cũng chim trong cảm giác bâng khuâng khó tả. Những từ láy
"tà tà,thanh thanh, nao nao" không chỉ biểu đạt sắc thái cảnh vật mà còn bộc lộ tâm trạng con

- Nàng trơ trọi giữa không gian mênh mông, hoang vắng. Cảnh "non xa, trăng gần" như gợi lên
hinh ảnh lầu Ngưng Bích chơi vơi giữa mênh mang trời nước. Từ lầu NB nhin ra chỉ thấy những
dãy núi mờ xa, những cồn cát bụi bay mịt mù. Cái lầu chơi vơi ấy giam một thân phận trơ trọi,
không một bóng người, không sự giao lưu.
- Hinh ảnh "non xa, trăng gần, cát vàng, bụi hồng" có thể có thể là cảnh thực mà cũng có thể là
hinh ảnh mang tính ước lệ để gợi sự mênh mông, rợn ngợp của không gian, qua đó diễn tả tâm
trạng cô đơn của Kiều.
- Cụm từ "mây sớm đèn khuya" gợi thời gian tuần hoàn khép kín. Thời gian cũng như không gian
giam hãm con người. Sớm và khuya, ngày và đêm, Kiều "thui thủi quê người một thân". Nàng chỉ
còn biết làm bạn với "mây sớm đèn khuya". Đối diện với mây đèn, càng thấm thía cái "be bàng"
của thân phận (Be bang là sự tủi thẹn). Cảnh ấy, tinh ấy làm lòng TK tan nát. Nàng rơi vào hoàn
cảnh cô đơn tuyệt đối.
2. Nỗi nhớ người yêu và cha mẹ của TK qua ngôn ngư độc thoại nội tâm.
- Kiều nhớ Kim Trọng trước, nhớ cha mẹ sau. Mới đọc, người đọc có thể cảm thấy như vậy là
không hợp lí nhưng thực ra điều này là hoàn toàn hợp lí bởi nó phù hợp với quy luật tâm lí của
nhân vật, vừa thể hiện sự tinh tế của ngòi bút NDu. Kiều bán minh cứu cha và em, như vậy cũng
có thể coi phần nào nàng đã đền đáp công ơn sinh thành của cha mẹ, phần nào thực hiện đạo hiếu
của kẻ làm con. Còn với Kim Trọng, Kiều cảm thấy minh như một kẻ phụ tinh, phụ tấm lòng người
yêu, nên nàng day dứt khôn nguôi.
- Cùng là nỗi nhớ nhưng cách nhớ khác nhau với những lí do khác nhau nên cách thể hiện cũng
khác nhau.
* Nhớ Kim Trọng:
+ Kiều "tưởng" như thấy lại kỉ niệm thiêng liêng đêm thề nguyền, đính ước. Nàng nhớ lời
thề lứa đôi "Tưởng người dưới nguyệt chén đồng". Vừa mới hôm nào, nàng và chàng cùng uống
chén rượu thề nguyền sắt son, hẹn ước trăm năm dưới trăng vằng bặc, mà nay, mỗi người một
ngả, mối duyên tinh ấy đã bị cắt đứt một cách đột ngột.
+ Nàng xót xa ân hận như một kẻ phụ tinh khi hinh dung cảnh người yêu ở chốn Liêu
Dương xa xôi vẫn mòn mỏi hướng về minh, đêm ngày đau đáu chờ tin mà uổng công vô ích "Tin
sương luống những rày trông mai chờ". Lời thơ như có nhịp thổ thức của một trái tim yêu thương
nhỏ máu. Niềm thương nhớ KT pha lẫn tâm trạng đau đớn "Tấm son gột rửa bao giờ cho phai". Có

nhỏ nhoi, đơn độc giữa biển nước mênh mông trong ánh sáng le lói cuối cùng của mặt trời sắp tắt
gợi thân phận nhỏ bé, chim nổi vô định, gợi nỗi nhớ nhà, nhớ quê hương . Con thuyền nhỏ nhoi
lênh đênh trên mặt biển ấy biết bao giờ mới tim được nến bờ neo đậu, cũng như Kiều còn lênh
đênh giữa dòng đời, biết bao giờ mới được trở về sum họp, đoàn tụ với gia đinh.
+ Hinh ảnh " hoa trôi man mác" trên "ngọn nước mới sa" gợi nỗi buồn về thân phận trôi nổi
lênh đênh vô định giữa sóng nước cuộc đời. Rồi đây, cuộc đời nàng không biết se trôi dạt về đi
đâu, se bị vùi dập ra sao.
+ Tiếp đến là hinh ảnh "nội cỏ rầu rầu", một màu "xanh xanh" nhạt nhòa trải từ chân mây
đến mặt đất gợi cho Kiều một nỗi chán ngán, vô vọng về những chuỗi ngày vô vị, tẻ nhạt không
biết kéo dài đến bao giờ, về một tương lai mịt mờ không lối thoát.
+ Nhin ra phía này thấy buồn, ngoảnh mặt sang phía khác lại càng buồn hơn, và dường như
nỗi buồn càng lúc càng tăng, càng dồn dập. Âm thanh dữ dội của thiên nhiên với "gió cuốn mặt
duềnh", với tiếng sóng "ầm ầm" chính là âm thanh dữ dội của cuộc đời phong ba bão táp đã, đang
ập đổ xuống đời nàng. Tất cả như những đợt sóng đang gầm thét, gào rít trong lòng nàng. Hinh
ảnh, âm thanh gợi tâm trạng lo sợ, hãi hùng của Kiều trước những tai họa cuộc đời đang rinh rập.
Nỗi buồn ấy đã dâng đến tột đỉnh, khiến Kiều thực sự tuyệt vọng.
* NT:
- Bốn bức tranh, bốn nỗi buồn đều được tg khắc họa qua điệp ngữ "buồn trông" và ngôn
ngữ độc thoại nội tâm. "Buồn trông" có nghĩa là buồn mà trông ra bốn phía, trông ngóng một cái gi
mơ hồ, nhưng trông mà vô vọng. "Buồn trông" có cái thảng thốt lo âu, có cả dự cảm hãi hùng của
người con gái ngây thơ lần đầu lạc bước giữa cuộc đời nhiều ngang trái. Điệp ngữ kết hợp với các
hinh ảnh đứng sau diễn tả nỗi buồn với nhiều sắc độ khác nhau.Điệp ngữ tạo nên nhịp điệu chậm
rãi, âm hưởng trầm lắng, như khắc sâu nỗi buồn dằng dặc, triền miên, chồng chất kéo dài như
những lớp sóng trào đang dồn dập, tới tấp xô đến cuộc đời Kiều. --> tạo thành ca khúc nội tâm có
sức vang vọng vào lòng người đọc .
- Điệp ngữ + các từ láy, chủ yếu là những từ láy tượng hinh đồn dập, chỉ có một từ láy
tượng thanh ở cuối đoạn góp phần thể hiện các cập độ tăng dần của tâm trạng nv.
- Cảnh được miêu tả từ xa đến gần, màu sắc từ nhạt đến đậm, âm thanh từ tĩnh đến động
diễn tả nỗi buồn từ man mác, mông lung đến lo âu, kinh sợ hãi hùng. Đoạn thơ như dự báo về
chuỗi ngày khủng khiếp, đau thương đang chờ đợi Kiều ở phía trước.

+ VT gặp nạn và được cứu giúp.
+ KNN gặp nạn mà vẫn giữ lòng chung thủy.
+ VT và KNN gặp lại nhau.
II. GIÁ TRỊ TÁC PHẨM:
1. Giá trị nội dung:
* Giá trị hiện thực: Vạch trần cái ác, cái xấu trong XH. Lên án thói gian ác, bất công, lên án
những kẻ tráo trở, bội bạc, phản phúc như cha con Võ Công, những kẻ bất nghĩa, bất nhân như
Trịnh Hâm, Bùi Kiệm, bọn người làm ăn bất lương chuyên nghề lừa bịp.
* Giá trị nhân đạo:
- Đề cao đạo lí làm người. Xem trọng tinh nghĩa giữa con người với con người trong XH:
tinh cha con, mẹ con, nghĩa vợ chồng, tinh bè bạn, tinh yêu thương cưu mang những người gặp
cơn hoạn nạn.
- Đề cao tinh thần nghĩa hiệp, sẵn sàng cứu người hoạn nạn. LVT là trang nam nhi giàu
nghĩa khí, cao thượng, dũng cảm, cứu người không màng trả ơn. Hớn Minh, Vương Tử Trực là
những người trung trực, ngay thẳng, nghĩa hiệp, dũng cảm bảo vệ dân, diệt trừ kẻ ác.
- Thể hiện khát vọng của nhân dân hướng tới le công bằng và những điều tốt đẹp trong
cuộc đời (kết thúc có hậu, thiện thắng ác, chính nghĩa thắng gian tà)
--> "Lục Vân Tiên" là một tiếng chửi, một lời ca, một ước mơ - Hoài Thanh
2. Giá trị NT:
- Tp là một truyện thơ Nôm mang tính chất một truyện kể dân gian: chú y đến cốt truyện, còn
nhân vật chủ yếu thể hiện bằng hành động hơn là miêu tả nội tâm. Nhân vật của NĐC còn là hóa
thân cho lí tưởng hoặc thái độ yêu ghét của ông.
- Truyện mang màu sắc Nam Bộ cả về tính cách con người, cả về ngôn ngữ địa phương.
---------------------------------------------------------------

ĐOẠN TRICH: LỤC VÂN TIÊN CỨU KIỀU NGUYỆT NGA
I. TÌM HIỂU CHUNG:
1. Vị tri: Đoạn trích nằm ở phần đầu của truyện "LVT". Trên đường trở về thăm cha mẹ trước khi
lên kinh độ, gặp bọn cướp hoành hành, VT đã một minh một gậy xông vào đánh tan bọn cướp,
cứu KNN và cô hầu Kim Liên.

lời mời về thăm nhà KNN để cha nàng đền đáp. Với VT, làm việc nghĩa là một bổn phận, một le tự
nhiên của con người chân chính "Nhớ câu kiến nghĩa bất vi - Làm người thế ấy cũng phi anh
hùng". Lời VT chắc nịch vừa để đối chứng, phê phán những kẻ tầm thường, vừa khẳng định việc
làm của minh là hiển nhiên, là le sống của minh.
--> VT là hinh ảnh đẹp, hinh ảnh lí tưởng mà mà N ĐC gửi gắm niềm tin và ước vọng của minh.
2. Hình ảnh Kiều Nguyệt Nga:
- KNN cũng là nhân vật lí tưởng thể hiện quan điểm của tác giả về hinh mẫu một người phụ nữ
với nhiều nét đẹp tâm hồn:
+ Một cô gái thùy mị, nết na, có học thức, cách xưng hô khiêm nhường (quân tử - tiện
thiếp), cách nói năng mực thước, khuôn phép (Làm con đâu dám cãi cha... chút tôi liễu yếu đào
tơ), cách trinh bày vấn đề rõ ràng, khúc triết vừa đáp ứng đầy đủ những lời hỏi thăm ân cần của
Vân Tiên, vừa bộc lộ chân thành niềm cảm kích, xúc động của minh.
+ Một con người đằm thắm, ân tinh, cư xử có trước, có sau. Với nàng, Vân Tiên không chỉ
cứu mạng mà còn cứu cả cuộc đời trong trắng của nàng (Lâm nguy chẳng gặp giải nguy- Tiết trăm
năm cũng bỏ đi một hồi). Nàng coi đó là ơn trọng và áy náy, băn khoăn tim cách trả ơn dù biết rằng
có đền đáp bao nhiêu cũng chưa đủ: "Lấy chi cho phỉ tấm lòng cùng ngươi". Bởi thế, cuối cùng
nàng đã tự nguyện gắn bó cuộc đời với chàng trai hào hiệp ấy, dám liều minh để giữ trọn ân tinh
thủy chung với chàng.
III. Nghệ thuật xây dựng nhân vật, ngôn ngư, giọng điệu đoạn trich:
- Xây dựng nhân vật qua hành động, cử chỉ, lời nói, ít khắc họa ngoại hinh, ít đi sâu vào nội
tâm. Tác giả chỉ kể về nhân vật để nhân vật tự bộc lộ tính cách --> chiếm tinh cảm yêu - ghét nơi
người đọc.
- Ngôn ngữ mộc mạc, binh dị gần với lời nói thông thường và mang màu sắc Nam Bộ. Nó
có phần nào thiếu chau chuốt, uyển chuyển nhưng phù hợp với ngôn ngữ người kể chuyện, rất tự
nhiên, dễ đi vào quần chúng. Ngôn ngữ đa dạng, phù hợp với diễn biến tinh tiết.
- Giọng điệu: thay đổi linh hoạt, phù hợp với tinh tiết truyện và tính cách nhân vật: Đoạn
đầu : tên tướng cướp kiêu căng, hống hách, giọng LVT đanh thép, căm giận; đoạn sau LVT ân cần,
KNN mềm mỏng, ân tinh.
----------------------------------------------------------------


Đắc, quê ở huyêân Can Lôâ, Hà
Tĩnh.
- 1946, ông gia nhââp Trung
đoàn thủ đô và hoạt đôâng
trong quân đôâi suốt 2 cuôâc k/c
chống Pháp và Mĩ. Ông làm
thơ từ 1947, hẫu như chỉ viết
về người lính và chiến tranh.
Thơ ông không nhiều nhưng
có những bài đăâc sắc, cảm
xúc dồn nén, ng ngữ , h/ả
chọn lọc, hàm súc. Ông được
nhà nước trao tăâng Giải
thưởng HCM về VHNT năm
2000.

NôÂi dung

Nghê thuâÂt

tự
do

- Tinh đồng chí
của những người
lính dựa trên cơ
sở cùng chung
cảnh ngôâ và lí
tưởng chiến đấu
được thể hiêân

Thọ. Sau khi tốt nghiêâp ĐHSP
kinh.
Hà Nôâi, 1964, ông gia nhââp
quân đôâi, hoạt đôâng trên tuyến
đường Trường Sơn và trở
thành môât trong những gương
măât tiêu biểu của thế hêâ các
nhà thơ trẻ thời chống Mĩ.
- Thơ PTD tââp trung thể hiêân
h/ả thể hêâ trong cuôâc k/c
chống Mĩ qua hinh tượng
người lính và cô TNXP trên
tuyến đường T.Sơn. Thơ ông
có giọng điêâu sôi nổi, trẻ trung,
hồn nhiên, tinh nghịch mà sâu
sắc.

1969
Tự
- được viết do
trong thời ki ác
liêât nhất của
cuôâc
k.chiến
chống Mĩ.
- được tăâng giải
nhất cuôâc thi
thơ của báo
Văn nghêâ năm
1969 và được

trường.
- Ngôn ngữ,
giọng điêâu
giàu
tính
khẩu ngữ,
tự
nhiên,
khỏe khoắn.

3 Đoàn
thuyền
đánh cá

1958
Thất
- Trong chuyến ngôn
đi thực tế dài
ngày ở vùng
mỏ
Quảng
Ninh.

- Khắc họa nhiều
h.ả đẹp tráng lêâ,
thể hiêân sự hài
hòa giữ thiên
nhiên và con
người lao đôâng,
bôâc lôâ niềm vui,

- tên là Cù Huy Câân, quê ở
làng Ân Phú, huyêân Vụ
Quang, Hà Tĩnh.
- Nổi tiếng trong phong trào
Thơ mới với tââp thơ "Lửa
thiêng".
- Tham gia CM từ trước 1945,
sau CMT8, ông từng giữ nhiều
trọng trách chính trong chính
quyền CM.
- Là môât trong những nhà thơ
tiêu biểu của nền thơ hiêân đại
VN.Được nhà nước trao tăâng
giải thưởng HCM về VHNT
(1996).

H. cảnh
ra đời tp
1948

Thể
thơ

- bt được sáng
tác đầu năm
1948, sau khi
tác giả cùng
đồng đôâi tham
gia chiến đấu
trong chiến dịch

năm
chữ

- Bt là lời nhắc
nhở về những
năm tháng gian
lao đã qua của
cuôâc đời người
lính gắn bó với
thiên nhiên, đất
nước binh dị,
hiền hââu.
- Từ đó gợi nhắc
người đọc thái đôâ
sống ân nghĩa
thủy chung cùng
quá khứ.

- Giọng điêâu
tâm tinh tự
nhiên, hinh
ảnh
giàu
tính
biểu
cảm,
tính
biểu tượng.
- Biểu cảm +
tự sự.


- Nhạc điệu
trong sáng,
tha
thiết,
gắn với dân
ca. H/ả đẹp
giản
dị,
những
so
sánh, ẩn dụ
sáng tạo.

8 Viếng
lăng Bác

Viễn Phương
- tên: Phan Thanh Viễn, sinh
1928, quê ỏ tỉnh An Giang.
- Trong k/c chống Pháp và Mĩ,
ông hoạt động ỏ Nam Bộ và là
một trong những cây bút có
mặt sớm nhất của lực lượng
văn nghệ giải phóng ở miền
Nam thời chống Mĩ.

1976
Tám
sau khi đất chữ


Hữu Thỉnh
- tên: Nguyễn Hữu Thỉnh, sinh

sau 1975
Năm
(gần cuối 1977, chữ

- Biến chuyển của - H/ả thiên
thiên nhiên lúc nhiên được
giao mùa từ hạ gợi tả bằng

tại TP HCM, 3
năm sau ngày
miền Nam hoàn
toàn giải phóng,
thống nhất đất
nước.
- nằm trong tââp
"ánh trăng" (giải
A của Hôâi nhà
văn VN 1984)

18


1942, quê ở huyện Tam in lần đầu trên
Dương, tỉnh Vĩnh Phúc.
báo Văn nghệ.
- 1963, nhập ngũ, vào binh

nhạy, ngôn
ngữ chính
xác,
gợi
cảm.

Tự
do

Bằng
lời
trò
chuyện với con,
bài thơ thể hiện
sự gắn bó, niềm
tự hào về quê
hương và đạo lí
sống của dân tộc.

- Cách nói
giàu
hinh
ảnh, vừa cụ
thể,
gợi
cảm,
vừa
gợi y nghĩa
sâu xa.


chi tiết cụ thể, thấm thía tinh đồng chí và sức mạnh của nó.
3 dòng thơ cuối được tg tách ra thành một đoạn, kết động lại và ngân rung với hinh ảnh đặc
sắc "đầu súng trăng treo" như là một biểu tượng giàu chất thơ về người lính.
* Bố cục: 3 phần
+ 7 câu đầu: Cơ sở hinh thành tinh đồng chí của những người lính.
+ 10 câu tiếp: những biểu hiện và sức mạnh của tinh đồng chí, đồng đội.
+ 3 câu cuối: Biểu tượng đẹp về tinh đồng chí.
B. PHÂN TICH:
1. Cơ sở hình thành tình đồng chi:
- Tinh đồng chí bắt nguồn từ sự tương đồng về cảnh ngộ xuất thân của những người lính" "Quê
hương anh ... sỏi đá". Hai câu thơ đối nhau rất chỉnh với cách nói hoán dụ đã giới thiệu thật giản dị
xuất thân của người lính: họ đều là con em của những người nông dân từ các miền quê nghèo hội
tụ về đây trong quân ngũ. Chính sự tương đồng về cảnh ngộ xuất thân nghèo khó là cơ sở sự
đồng cảm giai cấp của những người lính CM.
- "Anh với tôi ... quen nhau". Cuộc gặp gỡ của những người lính bất ngờ mà tất yếu: nước mất
thi nhà tan. Muốn thoát cảnh vất vả gian nan nghèo khó, trong bối cảnh lịch sử lúc này không thể
không cầm lấy vũ khí trong tay mà cứu nước. Từ "đôi" chỉ 2 người, 2 đối tượng chẳng thể tách rời
nhau kết hợp với từ "xa lạ" làm cho y thơ được nhấn mạnh hơn. Tuy là những người xa lạ nhưng
họ cùng tham gia chiến đấu nên giữa họ đã nảy nở một thứ tinh cảm cao đẹp: tinh đồng chí. Tinh
cảm ấy không phải chỉ là cùng cảnh ngộ mà còn là sự gắn kết trọn vẹn cả về lí trí lẫn ly tưởng, mục
đích cao cả: chiến đấu giành độc lập tự do cho tổ quốc. "Súng bên súng" là cách nói hàm súc, hinh
tượng. Phép điệp từ "súng, đầu, bên" tạo nên âm điệu khỏe, chắc, nhấn mạnh sự gắn kết, cùng
chung lí tưởng, chung nhiệm vụ.
- Tinh đồng chí còn được nảy nở và trở nên bền chặt trong sự chan hòa chia sẻ mọi gian lao
cũng như niềm vui, nỗi buồn. Đó là mối tinh tri kỉ của những người bạn chí cốt được biểu hiện
bằng hinh ảnh cụ thể, giạn dị mà hết sức gợi cảm "Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ". "Chung
chăn" có nghĩa là chung cái khắc nghiệt, khó khăn của cuộc đời người lính, chung hơi ấm để vượt
qua cái lạnh. Câu thơ thật cảm động, đầy ắp kỉ niệm của một thời gian khổ thiếu thốn và ấm áp tinh
đồng chí đồng đội. Chính sự chia ngọt sẻ bùi ấy đã trở thành niềm vui, thắt chặt tinh cảm của
những người động đội thành "đôi tri kỉ" - đôi bạn thân thiết, hiểu bạn như hiểu minh.

"Anh với tôi .... không giày"
+ Những gian lao, thiếu thốn trong cuộc sống của người lính những năm đầu kháng chiến
chống Pháp hiện lên thật cụ thể, chân thực, cô động và gợi cảm biết bao: áo rách, quần vá, chân
không giày, và cả những cơn sốt rét rừng ghê gớm mà hầu như người lính nào cũng phải trải qua .
Viết về điều này, Chính Hữu muốn diễn tả sâu sắc sự gắn bó đồng cam cộng khổ của các anh,
giúp các anh vượt qua mọi thiếu thốn gian truân cực nhọc của đời người lính. Điều đáng chú y ở
đây là người lính bao giờ cũng nhin bạn, nói về bạn trước khi nói về minh, chữ "anh" bao giờ cũng
đứng trước chữ "tôi". Cách nói ấy phải chăng thể hiện nét đẹp trong tinh cảm thương người như
thể thương thân, trọng người hơn trọng minh.
- Họ truyên cho nhau hơi ấm của tình đồng chí đồng đọi để cùng nhau vượt qua gian
khổ:
+ H/ả thơ "miệng cười buốt giá" thể hiện sâu sắc tinh thần lạc quan của người lính. Nụ cười
tuy thấm thía gian khổ, thiếu thốn mà vẫn hồn nhiên bởi họ có hơi ấm và niềm vui của tinh đồng
đội. Chính tinh đồng đội đã làm ấm lòng những người lính để họ vẫn cười trong buốt giá và vượt
lên trên buốt giá.
+ H/ả thơ "Thương nhau tay nắm lấy bàn tay" thật cảm động. Hành động giản dị, mộc mạc
mà thấm thía tinh cảm chân thành. Bàn tay giao cảm thay cho lời nói. Bàn tay nói lời im lặng của
sự đoàn kết, sự gắn bó, cảm thông, như tiếp cho nhau thêm sức mạnh. Hơi ấm ở bàn tay, ở tấm
lòng đã giúp người lính chiến thắng cái lạnh "chân không giày", chiến thắng cái thời tiết "buốt giá"
của những đêm "sương muối", chống chọi với những cơn "sốt run người". --> Trong đoạn thơ,
"anh" và "tôi" luôn đi đôi với nhau, có khi đứng chung trong câu thơ, có khi đi sóng đôi trong từng
cặp câu liền nhau. Cấu trúc ấy diễn tả sự gắn bó, chia sẻ của những người đồng đội. Vượt qua
những cơn lạnh thấu xương chỉ có thể bằng nghị lực, bản thân, bằng sự nâng đỡ của tinh người,
tinh đồng chí.
--> Trong suốt cuộc kháng chiến trường kì đầy gian lao vất vả ấy, tình cảm đồng chí đã đi vào chiều
sâu của sự sống và tâm hồn người chiến sĩ để trở thành những kỉ niệm không bao giờ quên.
=> Bài thơ "Đồng chí" không rực rỡ chiến công mà rực rỡ tinh đồng đội ấm nóng khiến họ có thể
sống và làm nên bao chiến công hiển hách.
3. Biểu tượng đẹp, giàu chất thơ nhất về tình đồng chi, đồng đội cao đẹp:
- Bài thơ kết thúc bằng hinh ảnh rất đặc sắc: "Đêm nay ... trăng treo"

C. TỔNG KẾT:
1. ND: Tinh đồng chí của người lính dựa trên những cơ sở cùng chung cảnh ngộ và lí tưởng chiến đấu được thể hiện
thật tự nhiê, binh dị mà sâu sắc trong mọi hoàn cảnh, nó góp phần quan trọng tạo nên sức mạnh và vẻ đẹp tinh thần
của người lính CM.
2, NT: NGôn ngữ cô đọng giàu sức biểu cảm, hinh ảnh chân thực, có sức khái quát cao, giọng thơ sâu lắng...

BÀI 2: BÀI THƠ VỀ TIỂU ĐỘI XE KHÔNG KINH
Phạm Tiến Duật
A. TÌM HIỂU CHUNG:
I. Tác giả: 1941`- 2007.quê ở tỉnh Phú Thọ.
- Sau khi tốt nghiệp ĐHSPHN, năm 1964, ông gia nhập quân đội, hoạt động trên tuyến đường TS
và trở thành một trong những gương mặt của thế hệ các nhà thơ trẻ thời chống Mĩ.
- Thơ ông tập trung thể hiện hinh ảnh thế hệ trẻ trong cuộc k/c chống Mĩ qua các hinh tượng
người lính và cô TNXP trên tuyến đường TS. Giọng điệu thơ sôi nổi, trẻ trung, hồn nhiên, tinh
nghịch mà sâu sắc.
- Một số tp tiêu biểu: Tập "Vầng trăng - quầng lửa" (1970), Thơ một chặng đường ( 1971),
Trường Sơn đông - Trường Sơn Tây, Gửi em cô TNXP.
II. Tác phẩm:
1. Hoàn cảnh sáng tác: bt viết năm 1969, thời ki cuộc k/c chống Mĩ diễn ra rất ác liệt trên con
đường chiến lược TS. Bt được tặng giải nhất cuộc thi thơ của báo Văn nghệ năm 1969, được đưa
vào tập thơ "Vầng trăng- quầng lửa".
2. Nhưng nét khác lạ, độc đáo của bài thơ:
a) Nhan đề:
- dài, tưởng như có chỗ thừa nhưng thu hút người đọc ở cái vẻ lạ độc đáo của nó.
- Làm nổi bật hinh ảnh toàn bài: h/ả những chiếc xe không kính.
- Hai chữ "Bài thơ" được thêm vào cho thấy rõ hơn cách nhin, cách khai thác hiện thực của
tg: không chỉ viết về hiện thực khốc liệt thời chiến tranh mà chủ yếu khai thác chất thơ vút lên từ
hiện thực ấy, chất thơ của tuổi trẻ VN hiên ngang dũng cảm, vượt lên những thiếu thốn, gian khổ
hiểm nguy của thời chiến.
b) Hình ảnh nhưng chiếc xe không kinh: độc đáo. Đó là chất liệu hiện thực sinh động của đời

động đội gắn bó:
+ Sự khốc liệt của cuộc chiến tranh đã tạo nên những tiểu đội xe không kính. Trên con
đường tiến vào miền Nam, càng đi, họ càng có thêm nhiều bạn "Gặp bạn bè suốt dọc đường đi
tới". Họ có thể "bắt tay nhau qua cửa kính vỡ rồi" mà không cần mở cửa xe một cách thoải mái, tự

23


hòa và thắm tinh đồng đội. Cái bắt tay là biểu hiện đẹp đe, ấm lòng của tinh đồng chí, đồng đội
mộc mạc nhưng thấm thía. Cái bắt tay thay cho lời nói, truyền cho nhau hơi ấm tinh cảm, giúp cho
con người xích lịa gần nhua trong những cái chung: chung bát đũa, chung nắm cơm, chung bếp
lửa, chung hoàn cảnh sống, chung con đường với vô vàn thách thức hiểm nguy phía trước.
+ Khi hành quân, các anh động viên, chào hỏi nhau trong cảnh ngộ độc đáo. Lúc nghỉ
ngơi, các anh trò chuyện, ăn uống nhường nhịn nhau như anh em ruột thịt. Tinh cảm gia đinh
người lính thật binh dị, ấm áp thân thương tạo nên sức mạnh, nâng bước chân người lính để rồi
các anh lại tiếp tục hành quân: "Lại đi lại đi trời xanh thêm". Điệp ngữ "lại đi" khẳng định đoàn xe
không ngừng tiến tới. Hinh ảnh "trời xanh thêm" gợi lên tâm hồn chan chứa hi vọng, niềm lạc quan
yêu đời của người lính.
c) Ý chi chiến đấu giải phóng miền Nam thống nhất đất nước:
- Khổ thơ cuối vẫn giọng thơ mộc mạc mà nhạc điệu, hinh ảnh rất đẹp, rất thơ, cảm hứng và
suy tưởng vừa bay bổng, vừa sâu sắc để hoàn thiện bức chân dung tuyệt vời của những chiến sĩ
vận tải Trường Sơn.
+ Kết cấu đối lập, bất ngờ, sâu sắc: đối lập giữa 2 phương diện vật chất và tinh thần, giữa
vẻ bên ngoài và bên trong của chiếc xe. Trải qua mưa bom bão đạn, những chiếc xe ban đầu đã
không có kính, nay lại càng trở nên hư hại hơn "không kính, không mui, không đèn, thùng xe có
xước". Điệp ngữ không có nhắc lại 3 lần cùng phép liệt kê như nhấn mạnh sự thiếu thống đến trần
trụi của những chiếc xe, đồng thời cho thấy mức độ ác liệt của chiến trường.
+ Nhưng không có gi có thể cản trở được sự chuyển động ki diệu của những chiếc xe
không kính ấy. Xe vẫn băng băng ra chiến trường. Tg lí giải điều đó rất tự nhiên: "Chỉ cần trong xe
có một trái tim". Mọi thứ có thể không còn nguyên vẹn, chỉ cần vẹn nguyên trái tim người lính thi

24


A. TÌM HIỂU CHUNG:
1. Tác giả: Cù Huy Cận (1919 - 2005), quê ở Hà Tĩnh. Là cây bút nổi tiếng trong phong trào Thơ
mới với tập "Lửa thiêng". Ông tham gia CM từ trước 1945. Sau CM t8, ông giữ nhiều trọng trách
trong chính quền CM, đồng thời là một trong những nhà thơ tiêu biểu của nền thơ hiện đại VN.
Ông được nhà nước trao tặng giải thưởng HCM về VHNT năm 1996.
2. Tác phẩm:
a) Hoàn cảnh sáng tác: Bt được viết năm 1958, trong chuyến đi thực tế tại vùng biển Hồng Gia,
Quảng Ninh và được in trong tập thơ "Trời mỗi ngày lai sáng".
b) Bố cục: Bt được bố cục theo trinh tự thời gian, không gian chuyến ra khơi của đoàn thuyền.
- P1 (2 khổ đầu): Cảnh đoàng thuyền ra khơi lúc hoàng hôn.
- P2 (4 khổ tiếp): Cảnh đoàn thuyền đánh cá trên biển đêm.
- P3 (khổ cuối): Cảnh đoàn thuyền trở về trong ánh binh minh.
* Trong bt có 2 nguồn cảm hứng bao trùm và hài hòa nhau: cảm hứng về lao động và cmar hứng
về thiên nhiên vũ trụ, vốn là một nét nổi bật của hồn thơ Huyy Cận.
B. PHÂN TICH:
1. Cảnh đoàn thuyền đánh cá ra khơi lúc hoàng hôn: (2 khổ đầu)
Âm hưởng bài ca lao động ngân vang khỏe khoắn trong cảnh đoàn thuyền ra khơi.
- Đó là cảnh ra khơi trong buổi hoàng hôn thật huy hoàng, tráng lệ, đầy sức sống:
"Mặt trời xuống... sập cửa"
Câu thơ thể hiện sự cảm nhận độc đáo của tg về hinh ảnh mặt trời, sóng, đêm qua biện pháp so
sánh và nhân hóa đặc sắc. Nhà thơ đã miêu tả rất thực sự chuyển đổi thời khắc giữa ngày và đêm
khiến cảnh biển vào đêm thật đẹp, ki vĩ, tráng lệ như thần thoại, đồng thời gợi sự gần gũi như ngôi
nhà thân quen, gợi sự binh yên đối với người dân chài.
- Màn đêm đã khép lại không gian của một ngày. Giữa lúc vũ trụ, đất trời như chuyển sang trạng
thái nghỉ ngơi thi ngược lại, con người bắt đầu hành trinh lao động "Đoàn thuyền đánh cá lại... gió
khơi"
+ Câu thơ khiến ta hinh dung được cả một đoàn thuyền, chứ không phải là một con thuyền
mong muốn công việc đánh cá thu được kết quả tốt đẹp. Từ "ta" vang lên đầy tự
hào, không còn cái "tôi" cô đơn nhỏ bé.
=> Cảnh ra khơi huy hoàng đầy khí thế, hứa hẹn ngày thắng lợi.
2. Bốn khổ tiếp theo: miêu tả cảnh đoàn thuyền đánh cá trên biển đêm bao la hùng vĩ.
(Tiếp theo là niềm cảm hưng say sưa, bài ca lao động vẫn vang lên khỏe khoắn, ngợi ca
cảnh đánh cá trên biển dưới trời trăng sao).
- Khổ 3: Hình ảnh con thuyền đang băng băng lướt đi trên sóng.
+ Hinh ảnh nói quá cho thấy: con thuyền đánh cá vốn nhỏ bé trước biển cả bao la, giờ đây
qua cái nhin của nhà thơ, chợt trở nên lớn lao, ki vĩ và ngang tầm vũ trụ "Thuyền ta lái gió... biển
bằng". Một con thuyền đặc biệt :có gió là người cầm lái, còn trăng là cánh buồm -> gợi sự hòa
quyện nhịp nhàng của đoàn thuyền với biển trời.
+ Con thuyền băng băng lướt sóng ra khơi để "dò bụng biển". Công việc đánh cá được dàn
đan như một thế trận hòa hùng -> gợi sự khéo léo như nghệ sĩ của người dân chài và tâm hồn
phóng khoáng, dũng cảm, đầy quyết tâm chinh phục biển khơi.

25



Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status