Nghiên cứu tính kháng thuốc ở một số loài muỗi truyền bệnh tại Việt Nam (luận văn thạc sĩ) - Pdf 40

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
----------

HỒ VIẾT HIẾU

NGHIÊN CỨU TÍNH KHÁNG THUỐC Ở MỘT SỐ LOÀI
MUỖI TRUYỀN BỆNH TẠI VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

Hà Nội - 2011

1


MỞ ĐẦU
Nghiên cứu về bệnh sốt rét và phòng chống bệnh sốt rét đã có quá trình
lịch sử lâu đời. Bệnh sốt rét vẫn còn là một bệnh nguy hiểm và là gánh nặng
bệnh tật đối với nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Hàng năm, trên
thế giới có khoảng 300-500 triệu ca mắc bệnh sốt rét và ít nhất một triệu trong số
đó tử vong. Mặc dù đã có những nỗ lực lớn trong công tác điều trị và trong
phòng chống véc tơ, trong vòng 30 năm nay tỷ lệ nhiễm mới vẫn tăng lên, do
điều kiện kinh tế - xã hội, ký sinh trùng kháng thuốc và côn trùng kháng hóa
chất.
Tại Việt Nam, năm 2000, số ca mắc bệnh sốt rét là 293.016 ca trong đó có
148 ca tử vong. Đến năm 2008, số ca sốt rét đã giảm xuống còn 19.485 ca trong
đó có 14 ca tử vong. Để thu được thành quả này có sự đóng góp đáng kể của
hoạt động nghiên cứu và phòng chống véc tơ sốt rét. Hiện nay, ở Việt Nam cũng
như nhiều nước trên thế giới, chương trình phòng chống sốt rét đang sử dụng
một số hóa chất thuộc nhóm pyrethroid tổng hợp để phòng chống véc tơ sốt rét

như tình trạng kháng hóa chất và biện pháp đối phó. Trong những năm gần đây,
việc sản xuất các loại hóa chất mới có giảm sút đi vì lý do công nghiệp và giá chi
phí đặc biệt khi áp dụng trên phạm vi rộng lớn.
Việc xác định tính kháng của véc tơ sốt rét tại Việt Nam chủ yếu thực hiện
bằng phương pháp thử sinh học tại thực địa. Phương pháp thử sinh học là để phát
hiện kháng hóa chất ở cá thể côn trùng bằng đo lường sự thay đổi trong một
khoảng thời gian yêu cầu cần thiết cho một loại hóa chất để đạt được mục tiêu và
hiệu quả, phương pháp này có độ tin cậy cao, kỹ thuật đơn giản, kinh tế.

3


Trong bối cảnh đó, chúng tôi tiến hành đề tài:
“Nghiên cứu tính kháng thuốc ở một số loài muỗi truyền bệnh tại Việt Nam”.

Mục tiêu của đề tài:
- Xác định thành phần loài tại các điểm nghiên cứu.
- Xác định mức độ kháng hóa chất của véc tơ sốt rét.
Kết quả xác định kháng hóa chất của các véc tơ sốt rét đóng góp đáng kể
cho chương trình phòng chống sốt rét Quốc gia trong việc lựa chọn hóa chất diệt
muỗi thích hợp cho từng vùng địa lý khác nhau tại Việt Nam.

4


Chƣơng 1- TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Tình hình sốt rét trên thế giới
Hàng trăm năm qua bệnh sốt rét có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển kinh
tế - xã hội trên thế giới với khoảng một nửa dân số thế giới nằm trong vùng có
nguy cơ mắc bệnh sốt rét, đặc biệt ở những nước có thu nhập thấp như châu Phi.

sundaicus) [2]. Trong đó An.dirus là loài véc tơ nguy hiểm ở phạm vi toàn cầu
nhưng chỉ giới hạn ở sinh cảnh rừng rậm. Sốt rét ảnh hưởng chủ yếu đến những
nhóm người có các hoạt động liên quan đến rừng. Trong đó quan trọng là các
nhóm dân tộc thiểu số và dân di cư [14].
Sau hơn 10 năm thực hiện chương trình tiêu diệt sốt rét toàn cầu, sốt rét đã
được thanh toán ở các nước phát triển và một loạt các khu vực rộng lớn ở các
nước châu Á, châu Mỹ nhiệt đới và cận nhiệt đới vào năm 1967. Giữa những
năm 1955 và năm 1967, số dân thoát khỏi nguy cơ sốt rét đã tăng từ 220 triệu
người đến 953 triệu, tỷ lệ tử vong từ sốt rét giảm xuống dưới 1 triệu người và
hầu hết là ở các nước nhiệt đới châu Phi [50].
Sự thành công của chương trình tiêu diệt sốt rét toàn cầu đã bị ảnh hưởng
sâu sắc do những thay đổi sinh học của kí sinh trùng sốt rét và véc tơ truyền
bệnh. Đến năm 1970, gần 20% trong tổng số các vùng sốt rét lưu hành đã thấy
có sự kháng DDT của các véc tơ sốt rét hay kháng với chloroquine của kí sinh
trùng sốt rét, thậm chí ở một số nơi có mặt cả hai loại kháng này [31].
Hiệu quả giảm sút trong hoạt động chống sốt rét do các vấn đề về kĩ thuật,
sự xuống cấp của các hệ thống y tế cộng đồng, các nguồn tài chính hạn hẹp đã
làm cho vấn đề sốt rét bắt đầu từ từ, thậm chí nhanh chóng quay lại ở rất nhiều

6


nơi trên thế giới. Sự trỗi dậy trên quy mô rộng lớn của sốt rét trong những năm
1970 đã thúc đẩy sự quan tâm tới căn bệnh này, và nhận thấy sự cần thiết phải
phát triển các chương trình phòng chống sốt rét quốc gia phù hợp với tình hình
dịch tễ học, năng lực tài chính và nguồn lực con người của mỗi nước [43]. Vào
năm 1978, WHO đã thay đổi chiến lược từ tiêu diệt sốt rét sang phòng chống sốt
rét.
Trước tình hình này, hội nghị các Bộ trưởng bàn về vấn đề sốt rét đã được
tổ chức tại Amsterdam năm 1992. Chiến lược phòng chống sốt rét toàn cầu (The


50EC

500mg/m2

Etonfenprox

10EW

200mg/m2

Lambdacyhalothrin

2.5CS

30mg/m2

Alphacypermethrin

10SC

25mg/m2

Deltamethrin

1SC

20mg/m2

Cyfluthrin

Tuy nhiên, cũng như nhiều nước khác trên thế giới, tình trạng kháng thuốc
của kí sinh trùng cũng như kháng hoá chất diệt côn trùng của véc tơ sốt rét đang
đặt ra đòi hỏi phải phát triển các nghiên cứu trong tương lai, cung cấp các công
cụ mới trong phòng chống sốt rét ở Việt Nam.
Bảng 2: Hóa chất sử dụng tẩm màn và phun tồn lưu ở Việt Nam
Năm

2002-2006

Tên hóa chất

Dạng hóa chất Nồng độ

ứng dụng

Alphacypermethrin

SC

100 g/l

Tẩm màn + phun tồn lưu

Lambdacyhalothrin

WP

100 g/l

Phun tồn lưu + tẩm màn


Phun tồn lưu + tẩm màn

Lambdacyhalothrin

CS

25 g/l

Phun tồn lưu + tẩm màn

2007- 2010

1.3. Tình trạng kháng hóa chất diệt của véc tơ truyền bệnh
Véc tơ là một động vật chân khớp hút máu, bảo đảm sự truyền sinh học
tích cực tác nhân gây bệnh từ động vật này sang động vật khác (theo F.Rodhain
và C.Peres, 1985).

9


Véc tơ chính đóng vai trò truyền bệnh chủ yếu trong mọi hoàn cảnh,
quanh năm mà điều kiện cho phép. Véc tơ phụ cùng với véc tơ chính duy trì lan
truyền sốt rét ở địa phương và vai trò truyền bệnh hạn chế nếu không có vector
chính. Theo Mac Donald (1957) thì một loài Anopheles được xác định véc tơ sốt
rét: Có thoa trùng trong tuyến nước bọt; ái tính với máu người (ưa đốt người);
tần số đốt người cao, tuổi thọ đủ dài; mật độ cao ở mùa sốt rét.
Theo Trần Đức Hinh, Nguyễn Đức Mạnh và CTV (2001), các véc tơ sốt
rét chính và phụ ở Việt Nam bao gồm:
-Véc tơ chính vùng rừng núi toàn quốc: An. minimus

cá thể kháng sẽ trội lên trong quần thể [54]. Kết quả là quần thể không phục hồi
trở lại được tính mẫn cảm của hóa chất đó. Do vậy, giám sát và phát hiện ngay từ
những dấu hiệu đầu tiên là quan trọng để kịp thời có một chương trình quản lý
tính kháng.
1. 5. Các loại cơ chế kháng của côn trùng
Các hóa chất có thể xâm nhập vào cơ thể muỗi bằng nhiều cách và ảnh
hưởng đến sự sống sót của chúng ở mức độ khác nhau. Dựa vào khả năng hóa
chất bị phân giải trực tiếp hay không khi tác động lên cơ thể muỗi để chia ra các
loại cơ chế:

11


1.5.1. Kháng do giảm tính thẩm thấu
Là cơ chế mà trong đó hóa chất diệt không bị phân hủy trực tiếp, song tính
kháng hình thành là do giảm khả năng thấm. Nhiều loại hoá chất diệt côn trùng
thâm nhập vào cơ thể côn trùng qua lớp biểu bì. Những thay đổi của lớp biểu bì
của côn trùng làm giảm tốc độ thẩm thấu của hoá chất diệt côn trùng gây nên sự
kháng đối với một số hoá chất diệt. Đơn thuần tính thấm giảm chỉ gây ra sự
kháng ở mức độ thấp [46]. Cơ chế này hiếm khi được đề cập tới, nó thường được
coi là thứ yếu thậm chí không được nhắc tới ở muỗi. Tuy nhiên, nếu phối hợp
với các cơ chế kháng khác, nó có thể tạo nên sự kháng cao. Cơ chế này hầu hết
được phát hiện qua các nghiên cứu tính thấm sử dụng hoá chất diệt đánh dấu.
1.5.2. Kháng tập tính (behaviouristic resistance)
Đó là sự thay đổi của côn trùng trong tập tính né tránh được liều chết của
hóa chất. Những thay đổi bao gồm sự giảm xu hướng bay vào vùng sử dụng hoá
chất hay tránh xa khỏi bề mặt có hoá chất. Tuy nhiên, sự kháng này cũng hiếm
khi được đề cập đến và giống như hậu quả thay đổi gây ra trực tiếp bởi sự có mặt
của hoá chất diệt côn trùng hoặc do những con muỗi sống trong nhà của quần thể
muỗi bị tiêu diệt.

Cl

Cl

DDT độc với muỗi

DDE không độc với muỗi

Cơ chế này tạo ra một mức độ kháng mạnh mẽ nhất của muỗi đối với từng loại
hóa chất. Sự kháng là kết quả của sự thay đổi về mặt cấu trúc enzym làm tăng
khả năng giải độc của nó hoặc tăng số lượng enzym dẫn đến tăng sự đào thải độc
tố hoá chất diệt côn trùng ra khỏi cơ thể chúng. [28].

Hình 1: các ví dụ về các cơ chế kháng hóa sinh ở cấp độ phân tử
A. Đột biến ở một axit amin trong vùng trải trên màng IIS6 của gen kênh vận chuyển Na+ đã
tạo ra tính kháng DDT – pyrethroid ở Anopheles gambiae. Cũng codon bị đột biến đó đã tạo
ra tính kháng rất phong phú ở côn trùng.

13


B. Nhân tố điều hòa (phía trên trình tự mã hóa) còn gọi là ―hộp Barbie‖ cho phép cảm ứng các
gen kháng mã hóa Esterase và Oxidase phân hủy thuốc diệt côn trùng. Nhiều các nhân tố điều
hòa giả thiết này đã được tìm ra là có liên quan đến các ezyme kháng ở véc tơ.
C. Đơn vị siêu sao chép A2-B2 Esterase. Các gen Esterase kháng này nằm ở đầu 5’ tới đầu 5’
trong cùng một đơn vị khuyếch đại. Hơn 100 bản sao của đơn vị siêu sao chép này có thể xuất
hiện trong cùng một con muỗi. Đây chỉ là một ví dụ của một họ các gen Esterase được
khuyếch đại.

1.5.4. Kháng do biến đổi vị trí đích nhạy cảm

với DDT và pyrethroid là một chỉ thị của sự kháng kdr, khi mà cơ chế kháng
trao đổi chất với các hoá chất diệt côn trùng này không quan sát thấy. Sự kháng
dạng kdr thường có tính lặn di truyền.
Tính đa kháng (có hai hoặc nhiều cơ chế kháng trong cùng một cá thể côn
trùng_Multiresistance) đang phát triển rất nhanh do các chương trình phòng
chống véc tơ tạo ra khi sử dụng liên tiếp lớp hoá chất này sau lớp hoá chất kia.

15


Hình 3: Những cơ chế kháng chính ở muỗi (WHO, 2006)
Metabolic: enzyme liên quan tính kháng ở muỗi là: esterases, monooxygenases, GSH STransferases.
Target-site: hai cơ chế kháng vị trí đích
Kdr (kháng hạ gục): đột biến trên gen kdr
MACE: enzyme acetylcholinesterase đã bị biến đổi tầm quan trọng tương ứng của mỗi
một cơ chế kháng đã được biểu thị bởi kích thước của những chấm tròn.

16


1.6. Tình trạng đáp ứng với hóa chất diệt của một số loài Anopheles tại Việt
Nam.
Hóa chất diệt áp dụng trong phun tồn lưu và tẩm màn là biện pháp chính
để diệt muỗi có tập tính đốt máu người và trú đậu trong nhà. Tuy nhiên sau thời
gian dài tiếp xúc của nhiều thế hệ muỗi, giống như các loài côn trùng khác muỗi
có thể trở nên kháng hóa chất. Tính kháng của một số loài muỗi đã được thông
báo sau khi các hóa chất này được đưa vào sử dụng một vài năm. Đã có khoảng
125 loài muỗi kháng với một hay nhiều loại hóa chất. Kháng hóa chất phun là
một trở ngại chính trong chương trình thanh toán sốt rét toàn cầu. Quyết định
đúng đắn trong việc lựa chọn hóa chất có thể làm giảm mức độ và phạm vi

côn trùng ở các véc tơ truyền bệnh có thể giúp đề ra các chiến lược phù hợp để
đấu tranh với chúng [27,47].
Tuy vậy, phòng chống véc tơ bằng hoá chất diệt côn trùng chỉ bị tác động
khi mức độ kháng đủ lớn để tác động rõ ràng đến hiệu lực của hoá chất và sự lan
truyền bệnh. Trong nhiều trường hợp, việc phòng chống véc tơ có thể không bị
ảnh hưởng bởi mức độ kháng. Chẳng hạn hoạt động phòng chống kiểm soát
được 75% quần thể véc tơ trong khi mức độ kháng thấp hơn 10% thì tính kháng
sẽ không ảnh hưởng đến hiệu quả phòng chống véc tơ. Trong trường hợp này,
tăng cường kiểm tra, giám sát tần số kháng là đủ và không cần thay đổi phương
pháp phòng chống véc tơ [27,48]. Mặc dù vậy, nhìn chung các điều tra giám sát
kháng hoá chất là cần thiết bởi: - Hoạt động này cung cấp dữ liệu cơ bản cho
việc lập chương trình và chọn lọc các hoá chất diệt côn trùng thích hợp trước khi
thực hiện công việc phòng chống véc tơ.

18


- Phát hiện kháng hoá chất ở giai đoạn sớm nhằm thực hiện kịp thời các
biện pháp quản lý. Tuy nhiên, trong những trường này, bất cứ một biện pháp
phòng chống nào trừ khi thay thế hoá chất diệt côn trùng đều khó có thể thực
hiện.
Hiện nay, các hoá chất thuộc nhóm pyrethroid (alphacypermethrin,
lambdacyhalothrin, deltamethrin, permethrin, Etofenprox…) đang được sử dụng
rộng rãi trong chương trình phòng chống sốt rét ở nhiều nước trên thế giới trong
đó có Việt Nam. Vì vậy, sự phát triển tính kháng của véc tơ sốt rét với các hoá
chất này có thể gây trở ngại cho sự thành công của hoạt động phòng chống sốt
rét.
Pyrethroid là dẫn xuất của este cacboxylat (còn gọi là este pyrethrum hoặc
este pyrethrin) có nguồn gốc tự nhiên từ cây hoa cúc họ Chrysanthemum
cinerariefolium và C. roseum, chứa nhiều hoạt chất pyrethrin có độc tính cao với

cẳng và bàn có một băng trắng rộng rõ rệt. Cánh muỗi có nhiều đốm đen, trắng .
Costa có trên 4 điểm đen, gốc Costa gián đoạn, điểm đen Presector trên L1 kéo
dài về phía gốc cánh hơn điểm đen Presector trên Costa. Muỗi An. dirus trú ẩn
tiêu máu ngoài nhà nhưng có xu hướng vào nhà đốt máu người, tấn công người
cả trong và ngoài nhà. Muỗi vào nhà đốt người vào thời điểm sớm trong đêm.
Sau 12 giờ đêm số lượng muỗi vào nhà giảm dần. An. dirus có thời gian đậu nghỉ
ngắn trước khi đốt mồi. Vào mùa khô mật độ muỗi ở khu vực nhà rẫy tăng cao
do đó làm tăng nguy cơ lan truyền. Bọ gậy An. dirus thường sống trong các ổ
nước tự nhiên hoặc nhân tạo, nước sạch, không chảy, dưới tán cây rừng, ít ánh
sáng chiếu rọi trực tiếp. Những ổ nước đó thường là nước mưa trên nên muỗi

20


phát triển mạnh vào mùa mưa. Do mùa mưa ở ba miền khác nhau nên đỉnh phát
triển của An. dirus cũng khác nhau tùy theo vùng địa lý tự nhiên. An. dirus nhạy
với các hóa chất đang được sử dụng trong chương trình phòng chống sốt rét quốc
gia như: permethrin, lambdacyhalothrin, deltamethrin... An. dirus có khả năng
truyền bệnh sốt rét cao ở Việt Nam, tỉ lệ nhiễm thoa trùng từ 2,5 – 4%. Muỗi có
đặc tính hoang dại, ít trú trong nhà tiêu máu, nên biện pháp phòng chống muỗi
là phun hóa chất mặt trong và ngoài nhà [4].
1.6.2. Anopheles minimus
An. minimus phân bố rộng ở các nước vùng Đông phương trải dài từ đông
Ấn Độ đến Nam Nhật Bản, từ Nam Trung Quốc đến Bắc Malaysia. Chính xác
hơn, dải phân bố của chúng dọc theo các nước Bangladesh, Campuchia, ấn Độ
(Andhra Pradesh, Assam), Nhật Bản (quần đảo Ryukyu, Miyako, Yaeyama
Gunto), Lào, Malaysia (Perlis), Myanmar, Nepal, Trung Quốc, Đài Loan, Thái
Lan và Việt Nam [36,39].
Tại Việt Nam, An. minimus có mặt ở vùng rừng núi, cao nguyên, trung du
trong cả nước. Nó chủ yếu có mặt ở những nơi có độ cao từ 200m đến 800m và

Lan. Tại Việt Nam, An. minimus là véc tơ sốt rét chính ở vùng rừng núi. Cho
đến nay, tỷ lệ nhiễm kí sinh trùng sốt rét ở muỗi An. minimus cao nhất ở miền
Bắc (1,1%) được ghi nhận vào đầu những năm 1960 tại tỉnh Thanh Hoá. An.
minimus nhiễm kí sinh trùng sốt rét với tỷ lệ cao tại miền Trung Việt Nam. Tại
một địa phương ở Khánh Hoà, 3,6%, An. minimus nhiễm kí sinh trùng sốt rét
trong giai đoạn 1993-1995. An. minimus cũng được coi là véc tơ truyền sốt rét

22


gây ra các vụ dịch sốt rét ở một số địa phương thuộc đồng bằng Châu thổ sông
Hồng vào những năm cuối thập kỉ 1950 [8].
Theo Lê Khánh Thuận, Trương Văn Có nghiên cứu ở khu vực Miền Trung Tây Nguyên (1997): Anopheles minimus phát triển quanh năm, phân bố rộng từ
vùng bìa rừng, phát tán ra vùng savan cỏ bụi, véc tơ này có ưu thế ở vùng bìa
rừng, mật độ giảm ở vùng rừng và rừng rậm. Anopheles minimus hoạt động đốt
máu suốt đêm và có mật độ cao nhất từ 22 giờ đến 4 giờ sáng. Tỉ lệ Anopheles
minimus nhiễm thoa trùng tại xã Iakor, huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai năm 1994 là
2,58% [20].
Trong những năm trước đây, việc sử dụng DDT phun tồn lưu trong nhà đã
đem lại hiệu quả rõ rệt trong việc phòng chống An. minimus. Tại Thái Lan, sau
một vài năm sử dụng DDT, An. minimus giảm rõ rệt ở các bán đảo và gần như bị
loại trừ ở các vùng đồng bằng trung tâm. An. minimus cũng bị loại trừ sau việc
sử dụng DDT ở Perlis thuộc Malaysia, ở Nepal trong những năm 1960 [24]. Tại
miền Bắc Việt Nam, sau ba năm liên tiếp (1962-1964) sử dụng DDT phun tồn
lưu trong nhà, đã không tìm thấy An. minimus ở phần lớn các địa điểm phun.
Tuy nhiên, đáp ứng với DDT của An. minimus là không đồng nhất về mặt địa lý.
Chẳng hạn như ở Thái Lan là một ví dụ, sau một số năm phun DDT, An.
minimus được loại trừ ở vùng đồng bằng trung tâm lớn song vẫn xuất hiện nhiều
ở vùng rừng núi.
Dưới áp lực của DDT, những thay đổi tập tính xuất hiện ở An. minimus.


24


Có ít nhất một loài trong nhóm (An. maculatus s.s) có khả năng truyền hai
loại ký sinh trùng sốt rét P. falciparum và P. vivax với tỉ lệ nhiễm thoa trùng
0.58% (P. falciparum : 0,29% ; P. vivax : 0, 29%), khẳng định vai trò véc tơ thứ
yếu của An. maculatus s.l. [1].

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status