BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
VAI TRÒ CỦA CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG
TRONG VIỆC HỖ TRỢ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG
CỦA MỘT SỐ DOANH NGHIỆP FDI TẠI VIỆT NAM
Ngành: Kinh doanh
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh
Mã số: 8340101
Họ và tên: Phạm Thanh Xuân
Người hướng dẫn khoa học: TS. Vương Thị Thảo Bình
Hà Nội - 2018
2
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài này được thực hiện dựa trên quá trình nghiên cứu trung thực
dưới sự cố vấn của người hướng dẫn khoa học. Đây là đề tài luận văn thạc sỹ kinh tế,
chuyên ngành Quản trị kinh doanh. Luận văn này chưa được ai công bố dưới bất kỳ hình
thức nào và tất cả các nguồn tài liệu tham khảo đều được trích dẫn đủ.
Hà Nội, ngày 30 tháng 03 năm 2018
Tác giả luận văn
PHẠM THANH XUÂN
ii
MỤC LỤC
iii
DANH MỤC KÝ HIỆU, VIẾT TẮT
vi
DANH MỤC BẢNG HIỆU
viii
DANH MỤC HÌNH VẼ
x
TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LUẬN VĂN
xi
LỜI MỞ ĐẦU
1
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA CHÍNH QUYỀN ĐỊA
PHƯƠNG TRONG VIỆC HỖ TRỢ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA MỘT SỐ
DOANH NGHIỆP FDI
PHƯƠNG ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP FDI GIAI
ĐOẠN 2011 – 2015
27
2.1. Sơ lược về tình hình FDI
27
2.2. Phân tích các yếu tố xác định tác động của chính quyền địa phương đến
hoạt động doanh nghiệp FDI tại Bắc Ninh, Quảng Ngãi, và Bình Dương
30
2.2.1. Chính sách kinh tế - xã hội
32
2.2.2. Luật pháp
35
2.2.3. Quyết định hành chính
38
2.2.4. Công sản
42
2.4.4. Đóng góp tạo việc làm khu vực
59
2.4.5. Đóng góp vào nền kinh tế
62
2.5. Bất cập trong những yếu tố xác định ảnh hưởng của chính quyền địa
phương lên hiệu quả hoạt động doanh nghiệp FDI
65
2.5.1.Bất cập trong yếu tố Công sản
65
2.5.2. Bất cập trong yếu tố Chi phí không chính thức
66
2.5.3. Bất cập trong yếu tố Dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp
67
2.5.4. Bất cập trong yếu tố công tác quản lý
67
2.5.5. Bất cập trong yếu tố đào tạo lao động
3.2.2. Thách thức
74
3.3. Giải pháp phát huy vài trò của chính quyền các địa phương nhằm góp
phần nâng cao hiệu quả FDI tại Việt Nam
77
3.3.1. Giải pháp cho yếu tố Công sản
77
3.3.2. Giải pháp cho yếu tố Chi phí không chính thức
78
6
3.3.3. Giải pháp cho yếu tố Dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp
79
3.3.4. Giải pháp cho yếu tố quản lý
81
3.3.5. Giải pháp cho yếu tố đào tạo lao động
DN
DNNN
Tiếng Việt
Doanh nghiệp
Doanh nghiệp Nhà nước
FDI
Đầu tư trực tiếp nước ngoài
GDP
Tổng sản phẩm nội địa
GRDP
Tổng sản phẩm trên địa bàn
HDND
Hội đồng nhân dân
ICOR
Hiệu suất sử dụng vốn đầu tư
KCN
8
UBND
Uỷ ban nhân dân
UBTV
Ủy ban Thường vụ
VCCI
Thương mại và Công nghiệp Việt Nam
XHCN
Xã hội Chủ nghĩa
9
DANH MỤC BẢNG HIỆU
Bảng 1: Sơ lược vốn đầu tư trên địa bàn từ khu vực FDI, số dự án được cấp phép,
tổng vốn đăng ký, và vốn pháp định tại ba tỉnh Bắc Ninh, Bình Dương, Quảng Ngãi,
và toàn quốc trong giai đoạn 2011 – 2015.
29
Bảng 2: Sơ lược về cơ sở hạ tầng bao gồm giao thông, bưu chính viễn thông, và y tế
sức khỏe tại ba tỉnh Bắc Ninh, Bình Dương, và Quảng Ngãi.
Bảng 8: Kim ngạch xuất khẩu từ DN, kim ngạch xuất khẩu từ khu vực FDI, và
Đóng góp của khu vực FDI vào giá trị xuất khẩu của DN tại ba tỉnh Bắc Ninh, Bình
Dương, Quảng Ngãi, và Toàn quốc trong giai đoạn 2011 – 2015
58
Bảng 9: Tỷ lệ doanh nghiệp nước ngoài, lao động trong khu vực FDI, và thu nhập
của lao động trong khối doanh nghiệp FDI tại ba tỉnh Bắc Ninh, Bình Dương,
Quảng Ngãi, và Toàn quốc trong giai đoạn 2011 – 2015
61
Bảng 10: Tỷ lệ GDP/ GRDP đóng góp từ khu vực FDI, cơ cấu vốn sản xuất địa
phương từ doanh nghiệp FDI, và Giá trị TSCĐ so với địa phương từ doanh nghiệp
FDI tại ba tỉnh Bắc Ninh, Bình Dương, Quảng Ngãi, và Toàn quốc trong giai đoạn
2011 – 2015
64
10
Bảng 11: Tổng kết mối liên quan có thể giữa mức hỗ trợ từ chính quyền các tỉnh
đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp FDI tại Bắc Ninh, Bình Dương, và Quảng
Ngãi
108
11
DANH MỤC HÌNH VẼ
40
Hình 7: Yếu tố “Tiếp cận đất đai và sự ổn định trong sử dụng đất”, “Dịch vụ hỗ trợ
doanh nghiệp, và ““Đào tạo lao động” trong chỉ số PCI tại Bắc Ninh, Bình Dương,
và Quảng Ngãi trong giai đoạn 2011 – 2015
46
12
TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LUẬN VĂN
Luận văn này tập trung vào việc tìm hiểu, phân tích, và đánh giá ảnh hưởng
của chính quyền địa phương lên hiệu quả hoạt động DN FDI tại ba tỉnh Bắc Ninh,
Quảng Ngãi, Bình Dương, là đại diện cho ba miền Bắc – Trung – Nam tại Việt
Nam. Trong luận văn này, các yếu tố được tác giả hệ thống hóa theo mô hình mối
quan hệ giữa các thực thể có liên quan đến các hoạt động kinh tế và quản lý kinh tế
của một nước (Hình 1). Dựa trên sự phân nhóm này, các yếu tố cụ thể được hình
thành và hỗ trợ tác giả thực hiện phân tích. Kết quả nghiên cứu cho thấy:
Cơ sở hạ tầng, bao gồm giao thông, y tế, và truyền thông, cùng với lợi thế tài
nguyên địa phương có tầm ảnh hưởng quan trọng đối với GRDP trên đầu lao động
tại khối FDI;
Cơ sở hạ tầng và dịch vụ hỗ trợ DN đóng góp đáng kể đến hiệu quả của DN
FDI trong việc đóng góp tạo việc làm trong khu vực;
Tuy nhiên, từ kết quả này cũng cho thấy tầm ảnh hưởng của chính quyền địa
phương lên hiệu quả hoạt động DN FDI, trừ yếu tố dịch vụ hỗ trợ DN, hiện là chưa
thực sự đáng kể và cần được cải thiện. Trong đó, một vài mặt mà chính quyền địa
phương có thể bắt đầu bao gồm việc đẩy mạnh việc tìm kiếm thông tin thị trường,
tư vấn về pháp luật, tìm đối tác kinh doanh, xúc tiến thương mại, đào tạo về kế toán
và tài chính, quản trị kinh doanh, và liên quan đến công nghệ cùng với thực hiện tốt
tục GDP tăng bình quân 7,43%. Đến năm 2016, quy mô nền kinh tế đã đạt khoảng
217 tỷ USD. Tính đến thời điểm này, Việt Nam đang đứng thứ 6 tại Đông Nam Á
và top 50 nền kinh tế quy mô nhất thế giới. Thu nhập bình quân đầu người đạt
khoảng 2.200 USD (tương đương 48,6 triệu đồng/năm), trở thành một nước có thu
nhập trung bình khá của thế giới. Đến thời điểm năm 2017 khép lại, cùng với xu thế
chung của kinh tế toàn cầu, kinh tế Việt Nam tiếp tục ổn định về mặt vĩ mô. Trong
đó, tăng trưởng GDP đạt 6,81%, chủ yếu đến từ sự đóng góp của xuất khẩu và tiêu
dùng trong nước (Tạp chí tài chính, 2018).
Trong suốt quá trình thay đổi không thể không kể đến vai trò của khu vực DN
FDI. Doanh nghiệp FDI là động lực để thúc đẩy các ngành thuộc công nghiệp chế
biến, chế tạo trong nước, làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực và
góp phần giải quyết có hiệu quả nhiều vấn đề xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế, trở
thành một bộ phận quan trọng của nền kinh tế, năm 2013 các DN FDI chiếm tới
45,4% tổng lợi nhuận và 30,5% tổng số nộp ngân sách nhà nước của toàn bộ khu
vực DN (Khổng Văn Thắng, 2014). Đồng thời, khu vực doanh nghiệp FDI còn
đóng góp tỷ trọng ngày càng vào GDP. Năm 1995 tỷ lệ đóng góp vào GDP của khu
vực FDI chỉ đạt 6,3%, tăng lên 15,2% năm 2000 và 19,6% năm 2013 (Tổng Cục Thống
Kê, 2014). Trong những năm gần đây, DN FDI tiếp tục đạt tăng trưởng doanh thu và
tổng lợi nhuận nhanh nhất toàn thị trường (25,47% trung bình so với 20,81% và 17,44%
của khu vực DNNN và khu vực DN ngoài nhà nước).
15
Tuy nhiên, cho đến nay, có một thực trạng đang xảy ra là Việt Nam dường
như chưa tận dụng được hết những lợi ích từ các dòng vốn FDI. Trong các vấn đề
mà Việt Nam đang gặp phải nằm ở khâu thủ tục hành chính. Theo một tài liệu tham
khảo về tiến trình cải thiện môi trường pháp lý của Việt Nam đối với DN trong năm
2016, chỉ 2% phản hồi cải thiện đáng kể; 21% ghi nhận cải thiện đôi chút; 18%
đánh giá có phần phức tạp; 14% cho rằng môi trường pháp lý của Việt Nam phức
16
theo một danh sách các chỉ số liên quan đến hoạt động của Chính quyền địa phương
(PCI, 2018). Tuy vậy, báo cáo này lại chỉ quan tâm đến đánh giá các hoạt động của
chính quyền địa phương chứ không màng đến việc ảnh hưởng đến kết quả hoạt
động của DN, đặc biệt là nhóm DN FDI, như thế nào.
Ứng dụng của chỉ số PCI vào nghiên cứu về các DN FDI có thể kể đến nghiên
cứu “Đánh giá tác động của chất lượng thể chế cấp tỉnh tới khả năng thu hút FDI
vào các địa phương tại Việt Nam” đăng tại Tạp chí Khoa học, Đại học Quốc gia Hà
Nội, chuyên mục Kinh tế và Kinh doanh vào năm 2014 của Nguyễn Quốc Việt, Chu
Thị Nhường, Trần Thị Giáng Quỳnh, và Phạm Thị Hiền. Trong nghiên cứu này, các
tác giả đã sử dụng phương pháp hồi quy và ứng dụng STATA để tìm ra mối quan hệ
giữa các yếu tố trong chỉ số PCI và khả năng thu hút FDI tại 20 tỉnh thành trên cả
nước từ năm 2006 đến năm 2009. Kết quả cho thấy dòng vốn FDI bình quân đầu
người tăng lên 99% khi chỉ số về tiếp cận đất đai tăng lên 1 điểm và tăng lên 46%
khi chỉ số tính minh bạch và tiếp cận thông tin tăng thêm 1 điểm. Trong khi đó, tăng
thêm 1 điểm chỉ số chi phí thời gian trong PCI làm cho luồng vốn FDI bình quân
đầu người vào các địa phương giảm đi 43% và tăng 1 điểm cho chi phí không chính
thức làm cho dòng vốn này bị giảm đi 137%.
Trong khi đó, về mặt hiệu quả hoạt động của các DN FDI, tại một vài nghiên
cứu và hội thảo về các yếu tố đánh giá hiệu quả của việc đầu tư trực tiếp nước ngoài
ở Việt Nam, bộ chỉ tiêu đánh giá hiệu quả của hoạt động, và tính cạnh tranh cấp tỉnh
trong việc hỗ trợ hoạt động của các DN. Trên thực tế, tại hội thảo "Xây dựng bộ chỉ
tiêu đánh giá hiệu quả đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) ở Việt Nam" vào sáng 18
tháng 04 năm 2012, nhiều ý kiến đánh giá việc nghiên cứu xây dựng bộ chỉ tiêu
đánh giá hiệu quả FDI ở Việt Nam là thực sự cần thiết, phù hợp, giúp các nhà hoạch
định chính sách có cái nhìn rõ hơn và cụ thể đối với dòng vốn này, từ đó có các giải
pháp, biện pháp quản lý, sử dụng hiệu quả hơn. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có
một thước đo đánh giá nào được đặt làm tiêu chuẩn về hiệu quả hoạt động của các
phương và sự thay đổi hiệu quả đó.
Ngoài ra, theo nghiên cứu “Phân tích yếu tố ảnh hưởng đến FDI của các tỉnh
thành Việt Nam bằng mô hình kinh tế lượng không gian” của Lê Văn Thắng và
Nguyễn Lưu Bảo Đoan đăng trên Tạp chí Phát triển Kinh tế vào năm 2017, cấp
chính quyền địa phương nên tăng cường chỉ đạo các cơ quan có thẩm quyền thực
hiện thủ tục thu hồi đất và cấp Giấy chứng nhận đầu tư cho các dự án đầu tư nước
ngoài không có khả năng triển khai hoặc có kế hoạch sử dụng đất đầy đủ đã được
18
giao để chuyển giao cho các dự án đầu tư mới hiệu quả hơn. Đồng thời, cấp chính
quyền địa phương, trong phạm vi thẩm quyền của mình, nên chủ trương tổ chức rà
phá đất đai và giao đất cho nhà đầu tư theo cam kết, đặc biệt là các dự án có quy mô
lớn mà nhà đầu tư sẵn sàng giải ngân cho dự án. Ngoài ra, cấp chính quyền địa
phương còn có thể đề xuất ý kiến với Bộ Kế hoạch và Đầu tư để xử lý những vướng
mắc phát sinh trong quá trình thực hiện dự án ngoài thẩm quyền để báo cáo Thủ
tướng Chính phủ.
Cuối cùng, trong nghiên cứu xoay quanh bộ chỉ tiêu đánh giá hiệu quả của
hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tới nền kinh tế Việt Nam, viện VCCI
chỉ ra rằng các địa phương Đồng Nai, Bình Dương, Hà Nội, Bắc Ninh rơi vào nhóm
cuối đặc biệt trong giai đoạn chuyển giao từ 2000 - 2004 sang giai đoạn 2005 –
2009. Điều này cho thấy, những điều chỉnh trong chiến lược sản xuất, kinh doanh
của khu vực FDI theo hướng tạo ra tác động tiêu cực nhiều hơn đối với các địa
phương nói riêng, nền kinh tế Việt Nam nói chung. Bản thân báo cáo của Tổng Cục
Thống Kê cũng thấy được yếu kém tại một vài địa phương như Quảng Ngãi. Tại
đây, các DN FDI trong cả năm 2010 lẫn năm 2014 đều báo cáo lợi nhuận trước thuế
âm. Những bằng chứng này chứng tỏ có sự khác biệt về hiệu quả hoạt động của các DN
FDI tại các tỉnh mà trong đó chính quyền địa phương có thể đã có sự tác động nhất định.
Tóm lại các nghiên cứu hay báo cáo trên chỉ tập trung hoặc là vào hiệu quả
trong giai đoạn này gắn chặt với giới hạn về khả năng truy cập những số liệu mới
hơn của tác giả, trong đó đặc biệt là Niên giám thống kê hàng năm của hai năm trở
lại đây.
Phạm vi về nội dung: Tập trung vào các yếu tố xác định vai trò của địa
phương trong việc hỗ trợ hoạt động của DN FDI.
Phương pháp nghiên cứu
Trong nghiên cứu khoa học này, phương pháp nghiên cứu tài liệu sẽ là phương
pháp chính được sử dụng với sự bổ trợ của phương pháp thống kê toán học.
Trong đó, bài nghiên cứu này sẽ tham khảo những tại liệu nghiên cứu khác về
FDI, về DN FDI trên lãnh thổ Việt Nam, các yếu tố ảnh hưởng, và các tài liệu khác
về đề tài này, tổng hợp, và hệ thống hoá các dữ liệu.
20
Kết cấu của luận văn
Trong luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu nghiên cứu,
luận văn kết cấu theo 3 chương:
Chương 1: Tổng quan cơ sở lý luận về vai trò của chính quyền địa phương
trong việc hỗ trợ hiệu quả hoạt động của các DN FDI.
Chương 2: Thực trạng ảnh hưởng chính quyền địa phương tại Bắc Ninh,
Bình Dương, và Quảng ngãi đến hiệu quả hoạt động của những DN FDI giai
đoạn 2011 – 2015
Chương 3: Giải pháp phát huy vai trò của chính quyền các địa phương nhằm
góp phần nâng cao hiệu quả doanh nghiệp FDI tại Việt Nam
21
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA CHÍNH QUYỀN ĐỊA
Hình 1: Các thực thể có liên quan đến các hoạt động kinh tế và quản lý
kinh tế của một nước
Nguồn: Đỗ Hoàng Toàn và Mai Văn Bưu (2005)
Hay nói cách khác, hoạt động của các chủ thể tham gia kinh tế trong lãnh thổ
Việt Nam, trong đó bao gồm cả các DN FDI, đều bị ảnh hưởng bởi chính quyền địa
phương. FDI là một lĩnh vực mới mẻ và phức tạp của hoạt động kinh tế đối ngoại ở
Việt Nam, nên ngay từ đầu, Nhà nước đã đứng ra chịu trách nhiệm quản lý toàn bộ
quá trình hoạt động của đầu tư trực tiếp nước ngoài. Mục tiêu chung của công tác
quản lý hoạt động FDI là thực hiện mục tiêu chung của Nhà nước trong quan hệ hợp
tác với nước ngoài, tranh thủ mọi nguồn lực có thể có của thế giới về vốn, công
nghệ, kinh nghiệm quản lý, thị trường và sự phân công lao động quốc tế, khai thác
có hiệu quả tiềm năng về lao động, tài nguyên của đất nước để phát triển sản xuất,
đẩy mạnh xuất khẩu, tăng tích luỹ, cải thiện đời sống nhân dân, từng bước công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Mục tiêu cụ thể của công tác quản lý FDI là giúp
các nhà đầu tư thực hiện một cách tốt nhất, hiệu quả nhất Luật đầu tư nước ngoài ở
Việt Nam, tạo môi trường hoạt động thông thoáng, giải quyết, xử lý và điều chỉnh
những phát sinh trong quá trình đầu tư, bảo đảm phát triển kinh tế - xã hội một cách
bền vững.
Trên thực tế, theo mô hình trên (Hình 1) thì các DN FDI thuộc nhóm (2) Các chủ
thể tham gia các hoạt động kinh tế bao gồm các DN, các hợp tác xã, các hộ gia đình,
23
các nhóm liên kết hoạt động kinh tế và các cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế.
Cũng theo hình biểu đồ này thì nhóm (2) sẽ nhận tác động từ hai đối tượng chính
bao gồm các cơ quan quyền lực nhà nước tham gia quản lý kinh tế và các thiết chế
xã hội khác ngoài kinh tế cùng với hai yếu tố chung là môi trường nhiên nhiên và
công nghệ toàn cầu, và tài nguyên đất nước. Ngoài ra, bản thân nhóm (1) Các cơ
quan quyền lực nhà nước tham gia quản lý kinh tế cũng có thể tác động đến nhóm
nước có thẩm quyền chuyên môn) vừa phụ thuộc vào cơ quan hành chính nhà nước
có thẩm quyền chuyên môn cấp trên vừa phụ thuộc vào UBND cùng cấp (cơ quan
hành chính nhà nước có thẩm quyền chung cùng cấp). Ở đây, UBND được xác định
là cơ quan quản lý hành chính nhà nước ở địa phương, có trách nhiệm trực tiếp quản
lý tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng... trên địa bàn
địa phương. Đồng thời, UBND “chủ động đề xuất các định hướng phát triển kinh tế
- xã hội để Hội đồng nhân dân xem xét”.
UBND có các cơ quan chuyên môn trực thuộc, quản lý các ngành, lĩnh vực ở
địa phương đảm bảo nguyên tắc kết hợp quản lý theo ngành và lãnh thổ. Các địa
phương được quyền tự chủ rất lớn về quy hoạch phát triển, phân cấp đất, quyền
quyết định xây dựng hạ tầng trong tỉnh. Mặc dù phần lớn các dự án đầu tư công có
nguồn vốn ngân sách do Trung ương bố trí và quyết định, các dự án vẫn được giao
cho chính quyền địa phương quản lý. Theo Hiến pháp 2013, vốn có tiền đề từ Hiến
pháp 1992, và Luật tổ chức chính quyền địa phương 2015, thì chính quyền địa
phương có quyền quyết định biện pháp thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội
hàng năm, kế hoạch sử dụng lao động công ích hàng năm, biện pháp thực hiện
chương trình khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư, khuyến công và chuyển đổi cơ
cấu kinh tế, cây trồng, vật nuôi theo quy hoạch chung, quyết định dự toán thu ngân
sách nhà nước trên địa bàn, dự toán thu, chi ngân sách địa phương và phân bổ dự
toán ngân sách cấp địa phương, phê chuẩn quyết toán ngân sách địa phương; các
chủ trương, biện pháp để triển khai thực hiện ngân sách địa phương và điều chỉnh
dự toán ngân sách địa phương theo quy định của pháp luật; giám sát việc thực hiện
ngân sách đã được Hội đồng nhân dân quyết định, quyết định biện pháp quản lý và
sử dụng hợp lý, có hiệu quả quỹ đất được để lại nhằm phục vụ các nhu cầu công ích
của địa phương, quyết định biện pháp quản lý cơ sở hạ tầng và nguồn nước.
Như vậy, chính quyền địa phương có thể ảnh hưởng tới hoạt động của DN
thông qua phương án thực hiện chương trình khuyến công và chuyển đổi cơ cấu
kinh tế, phân bổ dự toán ngân sách, phương án quản lý quỹ đất, tài nguyên nước, và
khuyến khích và tạo điều kiện để các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào Việt Nam,
thể hiện ý chí và nguyện vọng của nhân dân Việt Nam nhằm tăng cường hợp tác