BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO
TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
---------------------------
NGUYỄN THỊ MINH PHƯƠNG
ðÁNH GIÁ CÁC GIỐNG BỐ MẸ VÀ CON LAI
PHỤC VỤ CÔNG TÁC CHỌN TẠO GIỐNG CHÈ
CHẤT LƯỢNG CAO Ở VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NÔNG NGHIỆP
Chuyên ngành: DI TRUYỀN VÀ CHỌN GIỐNG CÂY TRỒNG
Mã số: 62.62.05.01
Người hướng dẫn khoa học:
1. TS. ðỖ VĂN NGỌC
2. PGS.TS. NGUYỄN HỒNG MINH
HÀ NỘI - 2012
i
LỜI CAM ðOAN
Tôi xin cam ñoan số liệu và kết quả nghiên cứu trình bày trong luận án
này là trung thực và chưa ñược sử dụng ñể bảo vệ luận án nào.
Tôi cũng xin cam ñoan, mọi sự giúp ñỡ cho việc thực hiện luận án này
ñã ñược cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận án ñều ñã ñược ghi rõ
nguồn gốc.
Tác giả luận văn
MỤC LỤC
Lời cam ñoan
i
Lời cảm ơn
ii
Mục lục
iii
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt
vi
Danh mục các bảng
vii
Danh mục hình
x
MỞ ðẦU
1
1
Thời gian nghiên cứu
5
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
1.1.
Nguồn gốc, phân loại và sự phân bố của cây chè
6
6
1.1.1
Nguồn gốc
6
1.1.2
Phân loại cây chè
7
1.1.3
Sự phân bố của cây chè
1.2.
Vật liệu nghiên cứu
40
2.2
Nội dung nghiên cứu
41
2.3
Phương pháp nghiên cứu
41
iv
2.3.1
ðánh giá tập ñoàn các mẫu giống chè ở Việt Nam.
41
2.3.2
Hoàn thiện quy trình lai tạo giống chè
45
3.1.1
ðánh giá các ñặc ñiểm về hình thái
3.1.2
Một số ñặc ñiểm nông - sinh học chính, chất lượng của các giống
chè nghiên cứu
3.1.2
3.2.
52
53
53
65
ðánh giá mức ña dạng di truyền của các giống chè chính trong
tập ñoàn các giống chè ở Phú Hộ
72
Hoàn thiện quy trình lai tạo giống chè
76
3.2.1
3.3.1
ðánh giá biến ñộng các tính trạng ở các quần thể con lai
3.3.2
Ước lượng hiệu quả chọn lọc tính trạng ở quần thể con lai
3.3.3
Mối quan hệ ña dạng di truyền của nguồn bố mẹ với ước lượng
hiệu quả chọn lọc các dòng chè mới
3.4
ðánh giá các dòng triển vọng ñược chọn lọc từ các quần thể con lai
86
91
91
100
105
107
3.4.1
Kết quả chọn lọc sơ bộ các cây ñầu dòng
108
Danh mục công trình ñã công bố có liên quan ñến luận án
144
Tài liệu tham khảo
145
Phụ lục
157
1
MỞ ðẦU
1
Tính cấp thiết của ñề tài
Cây chè (Camellia Sinensis) vốn là cây hoang dại, ñược loài người phát hiện
cách ñây trên bốn nghìn năm. Buổi ban ñầu con người sử dụng các sản phẩm chè
như một thứ dược liệu. Cùng với sự phát triển của loài người và nền sản xuất nông
nghiệp, cây chè cũng ñược chú ý khai thác, trở thành một ngành sản xuất với hệ
thống trồng trọt và chế biến ngày một hoàn thiện hơn.
Việt Nam là một trong những nước có ưu thế về ñiều kiện tự nhiên thích hợp
cho sinh trưởng và phát triển của cây chè. Chè trồng tập trung chủ yếu ở vùng núi,
trung du phía Bắc, khu Bốn cũ và các tỉnh Tây Nguyên (Chu Xuân Ái, 1998)[2],
(Nguyễn Kim Phong, 1989)[40].
thụ cao của khách hàng cộng với lợi thế về giá, Hiệp hội chè dự báo kim ngạch xuất
khẩu năm 2011 sẽ tiếp tục tăng khoảng 20% so với năm 2010 lên trên 200 triệu
USD, sản lượng sẽ ổn ñịnh quanh mức 135 nghìn tấn (Hiệp hội chè Việt Nam,
2008)[12], (ðỗ Ngọc Quỹ, Lê Tất Khương, 2000) [44]. Hiện nay Việt Nam là quốc
gia có sản lượng và xuất khẩu chè lớn thứ 5 trên thế giới chỉ sau Ấn ðộ, Trung
Quốc, Kenya, Srilanka và ngang hàng với Indonesia.
Song do chất lượng chè chưa cao, công tác quản lý chất lượng chè còn nhiều
hạn chế, ñặc biệt là khâu vệ sinh an toàn thực phẩm, dẫn ñến giá trị xuất khẩu chè
của Việt Nam trên thị trường thế giới còn thấp (Nguyễn Văn Hùng, Nguyễn Văn
Tạo, 2006) [13], (ðỗ Ngọc Quỹ, Lê Tất Khương, 2000)[44], (Nguyễn Văn Tạo,
2005)[47].
Hai vấn ñề ñược ñặt ra ñối với sản xuất chè của nước ta :
- So với thế giới, năng suất chè bình quân của Việt Nam bằng 90% (Việt
Nam ñạt 1,4 tấn chè khô/ha, thế giới ñạt 1,5 tấn chè khô/ha).
- Chất lượng chè xuất khẩu thấp, giá chè của Việt Nam chỉ bằng 70% giá
bình quân thế giới (Việt Nam ñạt 1,4 USD/kg, thế giới 1,8 USD/kg). So với các
nước tiên tiến về sản xuất chè như Srilanka và Ấn ðộ, giá chè của Việt Nam chỉ
bằng 50% (Hiệp hội chè Việt Nam, 2008) [12], (ðỗ Văn Ngọc, 2005) [34], (ðỗ Văn
Ngọc, 2006) [35].
3
Một trong những nguyên nhân dẫn ñến thực trạng trên là cơ cấu giống chè
của nước ta còn chưa phù hợp. Trước năm 1986, ngành chè Việt Nam chỉ có 3
giống chè hạt chưa chọn lọc trong sản xuất là Trung Du, Shan, Ấn ðộ và 1 dòng
chè PH1 giâm cành thích ứng làm chè ñen (Trần Thị Lư, Nguyễn Văn Toàn,
1994)[28]. Thời kỳ sau 1987, công tác nghiên cứu và chọn tạo giống chè ñược ñẩy
mạnh thêm một bước, một số giống chè mới chọn lọc, ñược Bộ Nông nghiệp và
Phát triển nông thôn cho phép áp dụng trong sản xuất như giống chè 1A, TH3,
Mục tiêu nghiên cứu
- ðánh giá ñược những ñặc ñiểm cơ bản của tập ñoàn giống chè nghiên cứu,
mức ña dạng di truyền từ ñó chọn ra ñược các dạng bố, mẹ có giá trị làm vật liệu
chọn giống.
- Sử dụng vật liệu trong tập ñoàn ñể lai tạo và chọn lọc một số giống chè có
năng suất, chất lượng và thích nghi phục vụ cho công tác phát triển chè ở Việt Nam.
3
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của ñề tài
3.1
Ý nghĩa khoa học
- ðây là công trình ñầu tiên nghiên cứu một cách hệ thống và toàn diện về
nguồn vật liệu, về quy trình lai giúp ñịnh hướng kỹ thuật cho các cán bộ làm công
tác nghiên cứu chọn tạo giống chè bằng phương pháp lai hữu tính ở Việt Nam.
- ðưa ra ñược một số thông số về ñộ xa cách di truyền và giá trị ước lượng
hiệu quả chọn lọc phục vụ cho chọn các cây ñầu dòng triển vọng từ các quần thể lai.
3.2
Ý nghĩa thực tiến
- Tạo ra các dòng chè ưu tú, giống chè mới có năng suất cao và chất lượng
tốt góp phần làm phong phú thêm cơ cấu giống chè của Việt Nam.
4
Những ñóng góp mới của luận án
- ðã phát hiện ra các mẫu giống trong tập ñoàn các giống chè có một số ñặc
nhân sơ bộ từ giai ñoạn 1998 ñến nay.
- Thu hạt trong nghiên cứu dùng làm nguồn vật liệu ñể chọn tạo giống chè
chế biến chè xanh, chè ñen có chất lượng cao ở nước ta.
6
Thời gian nghiên cứu
ðề tài luận án ñược tiến hành kế thừa các kết quả nghiên cứu từ 1998
ñến nay.
6
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
1.1.
Nguồn gốc, phân loại và sự phân bố của cây chè
1.1.1 Nguồn gốc
Theo công bố của hai nhà thực vật học Condolk và Vavilov trên thế giới có 7
Trung tâm chính phát sinh và phát triển cây trồng, trong ñó có 3 Trung tâm ở châu Á,
2 Trung tâm ở châu Mỹ và 1 Trung tâm ở châu Phi. Riêng về cây trồng làm chất kích
thích như cà phê có nguồn gốc từ châu Phi, cây ca cao có nguồn gốc từ châu Mỹ, còn
cây chè có nguồn gốc từ châu Á (ðỗ Văn Ngọc, Trịnh Văn Loan, 2008)[36], (ðỗ
Văn Ngọc, 2009)[37], (ðỗ Ngọc Quỹ, ðỗ Thị Kim Oanh, 2011)[45].
ðến nay việc xác ñịnh nguồn gốc của cây chè vẫn còn tồn tại nhiều quan
ñiểm khác nhau dựa trên những cơ sở lịch sử hay khảo cổ học, thực vật học. Nhưng
nhìn chung những quan ñiểm ñược nhiều người công nhận ñó là:
• Cây chè có nguồn gốc từ Vân Nam, Trung Quốc. Theo Darasegia các nhà
ñi lên phía Bắc, trung tâm là vùng Vân Nam – Trung Quốc. ðiều kiện khí hậu ở ñây
rất lý tưởng cho cây chè sinh trưởng quanh năm (Lê Quốc Doanh, 2006)[8],
(Nguyễn Ngọc Kính, 1979)[19], (Nguyễn Hữu La, ðỗ Văn Ngọc, 1988) [20],
(Nguyễn Hữu La, 2011) [23], (Trần Thị Lư, Nguyễn Văn Toàn, 1994)[29],
(ChuY.Y., 1988) [78].
1.1.2 Phân loại cây chè
Tên khoa học của cây chè lần ñầu tiên ñược nhà khoa học Thụy ðiển Linne
ñặt là Thea sinensis vào năm 1753 sau ñó có nhiều cách ñặt tên khác nhau cho cây
chè. ðến nay, tên khoa học của cây chè ñược nhiều người công nhận nhất là
Camellia sinensis (L) Okuntze (Nguyễn Ngọc Kính, 1979)[19], (Nguyễn Hữu La,
ðỗ Văn Ngọc, 2002)[21].
Trong hệ thống phân loại thực vật chè ñược xếp loại như sau:
- Ngành hạt kín
: Angiosepermae
- Bộ chè
: Theales
- Họ chè
: Theaceae
- Chi chè
: Camellia (Thea)
- Loài
(3), Chè Shan (Camellia sinensis var Shan)
Chè Shan có ñặc ñiểm thân gỗ, phân cành thưa, trong ñiều kiện tự nhiên có
thể cao từ 6 - 10m, lá to dài, có nhiều răng cưa sâu ñều, ñầu lá nhọn, búp to, có
nhiều lông tơ trắng mịn, trông như tuyết cho nên chè Shan còn ñược gọi là chè
9
Tuyết. Chè Shan có thể cho năng suất cao, chất lượng tốt, thích hợp cho cả chế biến
chè xanh và chè ñen. Chè Shan ít hoa, quả hơn chè Trung Quốc lá to, phân bố ở ñịa
hình núi cao, ẩm, mát.
Nguyên sản của chè Shan là Vân Nam (Trung Quốc), Mianma, Việt Nam chè
Shan có nhiều ở vùng núi phía Bắc, ở cao nguyên Lâm ðồng với nhiều tên gọi khác
nhau như chè Shan Mộc Châu, Shan Tham Vè, Shan Trấn Ninh…
(4), Chè Ấn ðộ (Camellia sinensis var Assamica)
Là loại chè có dạng thân gỗ cao, to, lá to mặt lá gồ ghề, nhiều gợn sóng, dạng
lá bầu dục, búp to, có khả năng cho năng suất cao, chất lượng tốt, thích hợp cho chế
biến chè ñen và chè xanh. Chè Ấn ðộ ít hoa, quả, chịu rét kém, ñược trồng nhiều ở
Ấn ðộ, Mianma,Vân Nam (Trung Quốc).
Ở Việt Nam giống chè có nguồn gốc Ấn ðộ ñược trồng nhiều ở Phú Thọ,
Yên Bái, Tuyên Quang, Thái Nguyên… từ chè Ấn ðộ các nhà khoa học Việt Nam
ñã chọn ra giống PH1, giống có tiềm năng cho năng suất cao. Năm 2010, Viện Khoa
học kỹ thuật Nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc ñã tuyển chọn ñược giống chè
PH11 có nguồn gốc Ấn ðộ có năng suất cao, chế biến chè xanh, chè ñen chất lượng
tốt, hiện nay giống PH11 ñang ñược phát triển mạnh ở các vùng Trung du miền núi
phía Bắc ñể chế biến chè ñen theo công nghệ CTC (ðỗ Văn Ngọc và cs, 2009) [37].
Ngoài bốn thứ chè trên, Việt Nam còn có rất nhiều dạng chè trung gian giữa
chè Trung Quốc lá to và chè Trung Quốc lá nhỏ, Trung Quốc lá to với chè
Shan…Các giống chè lai ñã tỏ rõ ưu thế trong sản xuất vì chúng ñược tích hợp bởi
nhiều gen quý của cả bố lẫn mẹ và ngược lại ñã khắc phục ñược những nhược ñiểm
chủ yếu vẫn tập trung ở các nước châu Á: Trung Quốc, Ấn ðộ, Nhật Bản, Sirilanca,
Indonexia, Việt Nam … và các nước châu Phi: Kênia, Malawi, Tanzania…
Sự phân bố theo ñộ cao khác nhau của cây chè: Ở những ñộ cao khác nhau
cũng có sự khác biệt giữa các giống và khác biệt về chất lượng chè. Các nhà khoa
học trên thế giới và Việt Nam ñều khẳng ñịnh rằng: những giống chè sinh trưởng tốt
ở nơi có ñộ cao lớn so với mực nước biển, ñều có chất lượng chè nguyên liệu và chè
thành phẩm tốt hơn những giống chè ñược trồng ở vùng thấp (Chu Xuân Ái, 1998)
[1], (Lê Tất Khương, 1997)[17], (Min- Jer Lu a, b, Chinshuh Chen b*, 2007)[93].
Những vùng chè nổi tiếng trên thế giới như Hồng Sơn (An Huy - Trung
Quốc), Sư Tử Phong (Triết Giang - Trung Quốc), Daejilinh (Ấn ðộ) ñều nằm ở ñộ
cao lớn so với mực nước biển (ðỗ Ngọc quỹ, Lê Tất Khương, 2000)[44], (Nicholas
11
I.D., 1988) [94].
Ở Việt Nam, sự phân bố các giống chè ở những ñộ cao khác nhau có sự khác
nhau rất rõ: Những vùng núi cao trên 500m so với mực nước biển, có ñiều kiện khí hậu
phù hợp với yêu cầu sinh thái của giống chè Shan (như Shan Chất Tiền, Shan Tham
Vè, Shan Ba Vì, Shan Lũng Phìn…), một số giống chè có chất lượng tốt, ñặc biệt là
khi chế biến chè xanh. Ở những vùng núi cao, do có biên ñộ nhiệt ñộ ngày ñêm lớn,
ánh sáng yếu, thời gian chiếu sáng trong ngày thường ngắn, khí hậu ẩm và có nhiều
mây mù nên ñã tạo ra trong chè hàm lượng chất thơm cao hơn ở vùng thấp, do vậy
chúng ñã ảnh hưởng tích cực ñến chất lượng chè nguyên liệu và chè thành phẩm (Chu
Xuân Ái, 1998) [1].
Có những vùng chè nổi tiếng như: Hoàng Su Phì, Vị Xuyên (Hà Giang), Tà
Xùa (Sơn La), Suối Giàng - (Yên Bái), Mộc Châu (Sơn La), Tủa Chùa (Lai Châu),
Bằng Phúc (Bắc Kạn), Bảo Lộc (Lâm ðồng), Mẫu Sơn (Lạng Sơn) ñều nằm ở ñộ cao
lớn hơn so với mực nước biển trên 500m, ñược trồng bằng các giống chè có chất lượng
cao: các giống chè Shan, các giống chè thuộc biến chủng Trung Quốc lá nhỏ có chất
giống trồng bằng cây con ñược nhân giống bằng phương pháp giâm cành (ðỗ Văn
Ngọc, 2005) [34], (ðặng Văn Thư, 2010)[51].
Công tác chọn dòng trên thứ chè Assamica ñược Ấn ðộ ñẩy mạnh, trong ñó
ñã chú trọng chọn ra những giống chè thích nghi cho những vùng có ñộ cao, ñộ ẩm
khác nhau.
ðánh giá về triển vọng của việc chọn dòng chè ở Ấn ðộ Eden (1958)[82],
Subramani (2010)[103], Kerkadзe I.G (1980)[121], cho rằng: Những giống chè ở
Trung Quốc, Ấn ðộ có nhiều dạng hình khác nhau, có khả năng sinh trưởng và cho
năng suất khác nhau, quan sát 200 cây chè trên nương chè, có những cây cho sản
lượng cao gấp 3 lần so với năng suất trung bình và gấp tới 20 lần so với cây cho sản
lượng thấp nhất. Do vậy chọn dòng từ những cây chè tốt có ý nghĩa quan trọng trong
việc nâng cao năng suất vườn chè. H.P. Banioh (1986) tại Trạm thực nghiệm Tocklai,
ñã ñề ra phương pháp ñơn giản ñánh giá sản lượng của cây chè và tiềm năng chất
lượng của các dòng riêng biệt trong vườn ươm và trên nương chè, phương pháp này
gồm các giai ñoạn sau:
Giai ñoạn 1: Quan sát chọn ra những cây chè tốt.
Giai ñoạn 2: ðánh giá khả năng ra rễ khi giâm cành của các dòng (yêu cầu
ñạt trên 80%).
Giai ñoạn 3: ðánh giá sản lượng, chất lượng nguyên liệu và chất lượng sản
phẩm chế biến.
Theo ðỗ Ngọc Quỹ, Lê Tất Khương (2000)[44], L. Rajanna and M.
13
Ramakrishnan1 (2010) [87] và S.M.Kamunya (2009)[101], Ấn ðộ, Nhật Bản,
Srilanca, Trung Quốc, Gruria…ñã sử dụng công nghệ sinh học trong chọn giống chè
tốt, dùng phôi non, phôi hom bồi dưỡng thành cây chè hoàn chỉnh. Sử dụng phương
pháp lai, sử dụng ưu thế lai ñể tạo ra giống chất lượng cao phục vụ cho sản xuất.
Bằng phương pháp công nghệ sinh học năm 1990 Ấn ðộ ñã chọn ra dòng
trở lại ñây, ñã tiến hành 525 tổ hợp lai tạo thụ phấn nhân tạo và thu ñược một số
giống chè mới có triển vọng (Trịnh Khởi Khôn, Trang Tuyết Phong, 1997)[16],
(Nguyễn Văn Toàn, Nguyễn Thị Minh Phương, 2004)[59], (Chen.Liang & cs,
2007)[74], (GAO3 and X.Q.Huang1, 2011)[85].
Hiện nay công tác giống chè ở Trung Quốc ñược ñặc biệt quan tâm, chủ yếu
chọn giống chè theo hướng chất lượng cao ñể tạo ra những sản phẩm chè ñặc biệt,
nổi tiếng trong nước và thế giới, (Chen Rong Bing, 1995)[75].
Ngoài những giống nổi tiếng từ lâu ñời, Trung Quốc hiện có nhiều giống chè
cho năng suất cao, chất lượng rất tốt cho cả chế biến chè xanh và chè ñen như: Phúc
Vân Tiên (1957 - 1971), Hoa Nhật Kim, Hùng ðỉnh Bạch (Phúc Kiến), Phú Thọ 10
(Vân Nam), Long Vân 2000 (Triết Giang), các giống chè có chất lượng nổi tiếng
như ðại Bạch Trà, Thiết Quan Âm, Long Tỉnh…Ngày nay trong chọn tạo giống chè
Trung Quốc ñã sử dụng các phương pháp: nhập nội giống, chọn lọc cá thể, ñặc biệt
phương pháp lai hữu tính ñã ñược áp dụng rộng rãi và thu ñược nhiều thành tựu.
Tại Srilanca
Năm 1824, SriLanca nhập hạt chè Trung Quốc gieo trồng tại vườn Bách thảo
Hoàng Gia Peradeniya (Kandy). Năm 1839, lại nhập hạt chè Assamica từ Ấn ðộ
cũng trồng tại vườn bách thảo trên. Vào năm 1867, toàn bộ các ñồn ñiền cà phê bị
nấm rỉ sắt phá hại, họ ñã chuyển sang trồng chè (trồng ñược 24 vạn ha). Năm 1958
bắt ñầu trồng 40 dòng chè mới Sêri chọn lọc 2020 (phổ biến các giống như: TRI
2023, TRI 2025, TRI 2026, TRI 2043…), có năng suất cao, chất lượng tốt (Trần Thị
Lư, Nguyễn Văn Toàn, 1994) [29]. Sau ñó là Sêri 3013 ñến 3020, ngoài ra còn sử
dụng chè hạt lai giữa 2023/2026 (Trần Thị Lư, Nguyễn Văn Niệm, 1998) [30] và
các tác giả (ðỗ Ngọc Quỹ, ðỗ Kim Phong, 1997)[43], (Nguyễn Văn Toàn và cs,
1994)[57], (Trại Thí nghiệm chè Phú Hộ, 1980)[62], (Bautista & cs, 1994) [70],
(Pau S, Wachina FN, et. at.,1997)[95]. Từ những năm 1960 trở lại ñây ñã chọn ra
các dòng chè triển vọng như TRI14, DT, DN, DP và DV (ðỗ Ngọc Quỹ, Lê Tất
15
16
Nhật Bản là nước ñầu tiên nhập giống chè từ Trung Quốc, vào thế kỷ 19, chè
ñược trồng tập trung ở giữa 350 - 380 vĩ ñộ Bắc, chủ yếu trồng trên ñất bằng, ñộ cao
không quá 60 - 100m so với mực nước biển (Lê Tất Khương, Hoàng Văn Chung,
1999) [18].
Bắt ñầu từ những năm 1952, Nhật Bản ñã xây dựng chế ñộ ñăng ký các
giống chè tốt, các Sở Nông lâm các tỉnh ñã ñăng ký 33 giống tốt, trong ñó chủ lực là
giống Yabukita. Năm 1968, giống mới chiếm 22,4% và ngày nay, giống mới ñã chiếm
trên 65,2% diện tích chè (ðỗ Ngọc Quỹ, Lê Tất Khương, 2000)[44].
Năm 1990 năng suất chè bình quân của cả nước ñã ñạt 1.725kg chè khô/ ha.
Năng suất chè cao là do nhà nước coi trọng ñầu tư vào nông nghiệp ñặc biệt là khâu
giống tốt và các biện pháp quản lý, chăm sóc vườn cây. Theo Satoshi Yamagushi,
Jitanaka giống chè chủ yếu ở Nhật Bản là giống chè lá nhỏ, phù hợp cho chế biến
chè xanh (Lê Tất Khương, Hoàng Văn Chung, 1999) [18], (Banerjee, B, 1992 a)
[68], (Banerjee, B, 1992 b) [69], (Carr M. K.V, and Stephen W (1992)[73].
Công tác chọn dòng cũng ñược ñặc biệt chú ý, nhiều giống chè mới ñã ñược
ñưa vào sản xuất như: Merioku, Saemidori, Asanoka, Asatsuyu, Yutaka midori và
ñặc biệt ñã chọn ñược giống Yabukita có chất lượng chè xanh rất tốt hiện nay giống
này ñã chiếm 70% diện tích chè ở Nhật Bản ( Lê Tất Khương, Hoàng Văn Chung,
1999)[18], (L. Rajanna and M. Ramakrishnan1* (2010)[87], (Wight W (1959)[112],
(Willson, K.C. & Clifford, M.N., 1992)[113].
Tại Grudia
Grudia bắt ñầu chọn giống từ năm 1943, từ ñó lần lượt chọn ra các giống
chè Grudia số 1 ñến Gudia số 20, trong ñó giống Grudia số 1 và Grudia số 2 cho
năng suất cao hơn ðại Bạch Trà 25 – 40% (Nguyễn Văn Toàn và cs, 1994)[57].
ðặc biệt các giống chè mới có khả năng chịu rét tốt, trong ñiều kiện - 80C ñến -150C
có khả năng qua ñông an toàn. Năm 1970 -1971 các tác giả M.V. Koleleisvili,
Nhờ sự chọn giống trên, các nhà chọn giống Grudia ñã chọn ra nhiều giống
có khả năng cho năng suất cao, chất lượng tốt, có khả năng chịu rét tốt.
Bakhơtadze К.Е (1948) [116] nghiên cứu quan hệ giữa lá chè và năng suất
ñã ñề ra các chỉ tiêu về lá làm căn cứ chọn giống chè như: mầu sắc, kích thước lá,
cấu tạo giải phẫu lá.
Sau khi nghiên cứu mối quan hệ giữa màu sắc lá với chất lượng chè tác giả
18
kết luận: dạng lá chè có màu vàng là ñặc trưng và tương quan có lợi cho các chỉ tiêu
sinh hoá, sự khác nhau về màu sắc lá là do có sự khác nhau của hàm lượng
Chlorophyll, Tanin và một số chỉ tiêu khác. Lá có mầu cà phê sáng ñặc trưng có lợi
cho các chỉ tiêu sinh lý. Từ những kết quả nghiên cứu trên ñã làm cơ sở ñịnh hướng
cho các nhà chọn tạo giống chè có thể ñi theo các hướng khác nhau ñể tạo ra những
giống chè cho sản phẩm phù hợp với thị trường. Và nhờ những ñịnh hướng ñó có
thể rút ngắn ñược thời gian chọn tạo giống theo những mục tiêu ñịnh trước.
Viện sĩ Bakhơtadze К.Е (1948)[116] khi nghiên cứu kích thước lá chè ñã ñi
ñến kết luận: kích thước lá chè biến ñộng theo giống chè và tuổi của cây chè, trong
ñó những giống chè Ấn ðộ thường có kích thước lá lớn nhất và kích thước lá của
những giống chè Nhật Bản thường nhỏ nhất.
Nghiên cứu tương quan giữa số búp/tán và năng suất búp của nương chè tác giả
ñưa ra kết luận: tương quan giữa số lượng búp và năng suất chè là 0,956 ± 0,064.
Nghiên cứu về quan hệ giữa lá chè với năng suất chất lượng chè Bakhơtadze
К.Е (1971) [117] cho rằng: góc lá tối ưu cho quang hợp của cây chè là 450, lá chè
màu vàng là ñặc trưng có lợi cho các chỉ tiêu sinh hoá búp chè.
Kết quả nghiên cứu của Hadfiel.W (1974)[86] về chỉ số diện tích lá của các
giống chè là: chỉ số diện tích lá của những giống chè có thế lá ngang là 3-4 và của
những giống chè có thế lá ñứng là 5-7. Trong ñiều kiện ánh sáng ñầy ñủ giống chè
Trung Quốc có chỉ số diện tích lá, khả năng sinh trưởng và cho năng suất cao hơn
năm lạnh hơn Munaze 20C, chu kỳ hái búp dài hơn từ 15-20 ngày. Theo các tác giả sự
khác nhau về mùa vụ dẫn ñến sự thay ñổi sản lượng trong năm ở các vùng chè.
Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của ñộ ẩm không khí với sinh trưởng búp chè
của tác giả Hadfiel (1974) [86]: ñộ ẩm không khí có liên quan mật thiết với sinh
trưởng của búp chè. Nếu ñộ ẩm không khí thấp trong thời gian dài, hàm lượng nước
trong búp chè giảm, búp chè mọc chậm. Khi nhiệt ñộ không khí cao, ñộ ẩm không
khí thấp, cường ñộ sinh trưởng búp và quang hợp giảm, cây chè sẽ bị thiếu nước và
lúc ñó cây chè có xu hướng sinh trưởng chậm lại.
Nghiên cứu về vấn ñề này tác giả Carr M.K.V and Stephen W, 1992 [73] và
Ukers, W.H (1935) [110] nhận xét hầu hết các vùng chè có lượng mưa trung bình
150 mm/tháng sẽ cho sản phẩm liên tục. Tổng lượng mưa cả năm là 1800 mm cây chè sẽ
sinh trưởng phát triển tốt, nếu lượng mưa trong năm dưới 1500 mm mà không tưới nước