Theo dõi tình hình lợn con mắc bệnh phân trắng giai đoạn từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi nuôi tại trại lợn Nguyễn Thanh Lịch Ba Vì Hà Nội - Pdf 40

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
--------------

THIỀU THỊ KIỀU OANH

Tên đề tài:
THEO DÕI TÌNH HÌNH LỢN CON MẮC BỆNH PHÂN TRẮNG GIAI
ĐOẠN TỪ SƠ SINH ĐẾN 21 NGÀY TUỔI NUÔI TẠI TRẠI LỢN NGUYỄN
THANH LỊCH, BA VÌ, HÀ NỘI

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy
Chuyên ngành: Thú y
Khoa: Chăn nuôi Thú y
Khóa học: 2011 - 2016

Thái Nguyên, năm 2015


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
--------------

THIỀU THỊ KIỀU OANH
Tên đề tài:
THEO DÕI TÌNH HÌNH LỢN CON MẮC BỆNH PHÂN TRẮNG GIAI
ĐOẠN TỪ SƠ SINH ĐẾN 21 NGÀY TUỔI NUÔI TẠI TRẠI LỢN NGUYỄN
THANH LỊCH, BA VÌ, HÀ NỘI


nghiệp lời cảm ơn chân thành, lời chúc sức khoẻ, thành đạt và hạnh phúc.
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 14 tháng 12 năm 2015
Sinh viên

Thiều Thị Kiều Oanh


ii

LỜI NÓI ĐẦU
Để hoàn thành chương trình đào tạo trong Nhà trường, thực hiện
phương châm học đi đôi với hành, lý thuyết gắn liền với thực tiễn sản xuất,
thực tập tốt nghiệp là giai đoạn cuối cùng trong toàn bộ chương trình học tập
của tất cả các trường Đại học nói chung và trường Đại học Nông lâm Thái
Nguyên nói riêng. Giai đoạn thực tập chiếm một vị trí hết sức quan trọng đối
với mỗi sinh viên trước khi ra trường. Đây là khoảng thời gian để sinh viên
củng cố và hệ thống hóa toàn bộ kiến thức đã học, đồng thời giúp sinh viên
làm quen với thực tiễn sản xuất, từ đó nâng cao trình độ chuyên môn, nắm
được phương thức tổ chức và tiến hành công việc nghiên cứu, ứng dụng các
tiễn bộ khoa học kỹ thuật vào thực tiễn sản xuất, tạo cho sinh viên có tác
phong làm việc đúng đắn, sáng tạo, để khi ra trường trở thành một người cán
bộ có chuyên môn, đáp ứng được yêu cầu thực tiễn, góp phần xứng đáng vào
sự nghiệp phát triển Đất Nước.
Xuất phát từ quan điểm trên và được sự đồng ý của khoa Chăn nuôi
Thú y, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên. Được sự nhất trí của giáo
hướng dẫn và sự tiếp nhận của cơ sở, em đã tiến hành thực hiện đề tài: “Theo
dõi tình hình lợn con mắc bệnh phân trắng giai đoạn từ sơ sinh đến 21
ngày tuổi nuôi tại trại lợn Nguyễn Thanh Lịch, Ba Vì, Hà Nội”.
Do thời gian thực tập có hạn, kiến thức chuyên môn còn nhiều hạn chế

Hình 4.1: Tỷ lệ lợn con nhiễm bệnh phân trắng theo lứa tuổi ........................ 41
Hình 4.2: Tỷ lệ mắc bệnh lợn con phân trắng qua các tháng.......................... 44


v

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Cs

: Cộng sự

Hb

: Hemoglobin

IM

: Tiêm bắp

IgG

: Immunoglobulin

KHKT

: Khoa học kỹ thuật

LCPT


2.2.1. Tình hình nghiên cứu trong nước.......................................................... 20
2.2.2. Tình hình nghiên cứu ngoài nước ......................................................... 22
2.3. Những hiểu biết về thuốc điều trị............................................................. 23
Phần 3: ĐỐI TƢỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
......................................................................................................................... 25
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu............................................................ 25
3.1.1. Đối tượng .............................................................................................. 25
3.1.2. Phạm vi nghiên cứu ............................................................................... 25
3.2. Địa điểm và thời gian tiến hành ............................................................... 25
3.3. Nội dung nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi .......................................... 25
3.3.1. Nội dung ................................................................................................ 25
3.3.2. Các chỉ tiêu theo dõi.............................................................................. 25
3.4. Phương pháp nghiên cứu.......................................................................... 26
3.4.1. Phương pháp bố trí thí nghiệm.............................................................. 26
3.4.2. Phương pháp theo dõi, thu thập thông tin ............................................. 27


vii

3.4.3. Phương pháp xử lý số liệu..................................................................... 28
Phần 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ............................. 30
4.1. Công tác phục vụ sản xuất ....................................................................... 30
4.1.1. Một số thông tin chung về trại lợn nái ngoại Nguyễn Thanh Lịch ....... 30
4.1.2. Công tác vệ sinh, chăm sóc, phòng trị bệnh cho đàn lợn...................... 30
4.1.3. Công tác chăn nuôi tại cơ sở ................................................................. 36
4.1.4. Công tác khác ........................................................................................ 38
4.2. Kết quả nghiên cứu .................................................................................. 39
4.2.1. Tỷ lệ lợn con nhiễm bệnh phân trắng trong thời gian thực tập ............. 39
4.2.2. Tỷ lệ lợn con nhiễm bệnh phân trắng theo lứa tuổi .............................. 40
4.2.3. Tỷ lệ mắc bệnh lợn con phân trắng qua các tháng ................................ 43

đặc biệt là vấn đề dịch bệnh. Đó là nguyên nhân chủ yếu gây thiệt hại cho ngành
chăn nuôi cũng như gây thiệt hại cho ngành nông nghiệp nói chung.
Đối với các trang trại nuôi lợn, vấn đề cấp thiết hiện nay vẫn là bệnh
phân trắng ở lợn con theo mẹ. Bệnh xuất hiện lúc ồ ạt, lúc lẻ tẻ tuỳ thuộc vào
các yếu tố chăm sóc, nuôi dưỡng và sự thay đổi của thời tiết khí hậu. Khi lợn
con mắc bệnh thì hiệu quả chăn nuôi sẽ giảm, chi phí thú y cao.
Đã có nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về bệnh lợn con
phân trắng và đưa ra các biện pháp phòng và trị bệnh góp phần không nhỏ
trong việc hạn chế những thiệt hại do bệnh gây ra. Tuy nhiên sự phức tạp của
cơ chế gây bệnh, những tác động phối hợp của các nguyên nhân, đặc điểm cơ
thể của gia súc non đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc ứng dụng của các kết


2

quả nghiên cứu. Vì thế các phương pháp đưa ra vẫn chưa thực sự đem lại kết
quả như mong muốn.
Xuất phát từ vấn đề trên, dưới sự hướng dẫn của cô giáo TS. Nguyễn Thu
Quyên, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Theo dõi tình hình lợn con mắc
bệnh phân trắng giai đoạn từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi nuôi tại trại lợn
Nguyễn Thanh Lịch, Ba Vì, Hà Nội”.
1.2. Mục tiêu của đề tài
-Tìm hiểu quy trình chăn nuôi, vệ sinh phòng bệnh tại trại lợn Nguyễn
Thanh Lịch, Ba Vì, Hà Nội.
- Đánh giá thực trạng bệnh lợn con phân trắng tại trại lợn Nguyễn
Thanh Lịch, Ba Vì, Hà Nội.
- Đánh giá hiệu quả điều trị của hai loại thuốc: Nova-amcoli và Amlistin.
1.3. Ý nghĩa của đề tài
1.3.1. Ý nghĩa khoa học
Các kết quả nghiên cứu dịch tễ học bệnh phân trắng lợn con là những

2.1.1.2. Cơ năng điều tiết thân nhiệt
Khi còn ở trong cơ thể mẹ, thân nhiệt của bào thai được giữ ổn định.
Sau khi sinh ra, cơ thể bị mất một lượng nhiệt lớn do tác động của môi trường
làm con vật sơ sinh bị giảm thân nhiệt trong những giờ đầu tiên.
Cơ năng điều tiết thân nhiệt lợn con còn kém do:


4

- Hệ thần kinh của lợn con chưa phát triển hoàn chỉnh. Trung khu điều
tiết thân nhiệt ở vỏ não mà não của gia súc là cơ quan phát triển muộn nhất ở
cả hai giai đoạn trong và ngoài bào thai.
- Diện tích bề mặt của cơ thể lợn con so với khối lượng cơ thể cao hơn
so với lợn trưởng thành nên lợn dễ bị mất nhiệt và lạnh (Đào Trọng Đạt và cs,
(1996) [6]).
- Tốc độ sinh trưởng của gia súc non rất cao, trong vòng 10 - 15 ngày
thể trọng tăng 1 - 3 lần, sau 2 tuần tuổi trọng lượng lơn có thể tăng gấp 14 15 lần so với lợn sơ sinh. Vì vậy, nếu sữa mẹ không đảm bảo chất lượng,
khẩu phần thức ăn thiếu đạm sẽ làm cho sự sinh trưởng của cơ thể chậm lại và
tăng trọng theo tuổi giảm xuống. Điều đó làm cho khả năng chống đỡ bệnh tật
của lợn con kém.
2.1.1.3. Hệ miễn dịch của lợn con
Ở cơ thể lợn con, hệ thống miễn dịch chưa hoàn thiện, chúng chưa có
khả năng tạo kháng thể chủ động mà chỉ có được kháng thể từ mẹ truyền sang
qua nhau thai hay sữa đầu.
Bộ máy tiêu hóa và các dịch tiêu hóa ở gia súc non hoạt động rất yếu.
Lượng enzyme tiêu hóa và HCl tiết ra chưa đủ để đáp ứng quá trình tiêu hóa
gây rối loạn tiêu hóa vì vậy mầm bệnh dễ dàng xâm nhập vào cơ thể qua
đường tiêu hóa.
Theo Nguyễn Như Thanh và cs, (2001) [28], trong quá trình đáp ứng
miễn dịch trên bề mặt kháng nguyên có thể tập trung nhiều Lymphosis tham

con tập ăn sớm sẽ kích thích sự phát triển đầy đủ các loại enzyme tiêu hoá.
* Hệ thống miễn dịch chưa phát triển
Lợn con sơ sinh nhận từ sữa đầu một lượng kháng thể đặc hiệu (IgG)
có hiệu quả trong 10 ngày đầu. Nhưng sự hấp thụ Immuglobulin của sữa đầu
cũng giảm nhanh trong vòng 24 giờ sau khi sinh.


6

Do đó tất cả các tác nhân, yếu tố hạn chế bú sữa đầu đều làm tăng tỷ lệ
nhiễm bệnh, tỷ lệ tử vong sau khi sinh. Miễn dịch chủ động được thực hiện
bắt đầu từ 3 tuần tuổi.
* Điều hoà thân nhiệt kém
Hệ thống thần kinh ở lợn con chưa phát triển, chưa có các phản xạ có
điều kiện, khả năng điều tiết nhiệt ở đại não và các trung khu vỏ não là rất
kém. Thân nhiệt ở gia súc non thường cao hơn ở gia súc trưởng thành và hay
biến động. Khả năng giữ nhiệt ở da kém, thường thay đổi theo ngoại cảnh và
khó thích nghi với điều kiện môi trường cho nên rất dễ bị cảm lạnh về mùa
đông. Thân nhiệt ở lợn con dao động từ 39,5 - 40,5OC thường cao, còn ở lợn
trưởng thành ổn định ở mức trung bình 38 - 40OC.
* Dự trữ năng lượng cơ thể rất ít
Khi mới sinh, cơ thể lợn con chứa 80% nước và 20% chỉ có lipid, còn ở
3 tuần có 65% là nước và 12% là lipid. Ngoài chất dự trữ cơ thể là lipid còn
có glycogen. Tổng năng lượng dự trữ (lipid + glycogen) khoảng 1000 - 1200
Kcal, chỉ tương đương với 1 lít sữa, năng lượng này chỉ đủ cho lợn con sống
khoảng 2 ngày. Do đó đòi hỏi phải đảm bảo cho lợn con bú sữa sớm và giữ
ấm. Vì năng lượng và các chất dinh dưỡng thu được đều được sử dụng vào
việc cấu tạo cơ thể. Có thể nói con vật giai đoạn này rất dễ bị mắc bệnh.
*Thiếu sắt
Thiếu sắt dẫn tới thiếu máu do thiếu hàm lượng Hb (Hemoglobin) dẫn

hoàn thiện. Hơn nữa, lợn con lại có nhu cầu dinh dưỡng và khoáng chất rất
lớn, nếu không được bổ sung đầy đủ thì chúng sẽ bị suy dinh dưỡng, ăn bẩn
gây rối loạn tiêu hóa, tiêu chảy.
Trong thời kỳ sinh trưởng và phát triển, lợn con gặp phải hai thời kỳ
khủng hoảng lúc 3 tuần tuổi và lúc cai sữa. Lúc 3 tuần tuổi nhu cầu sữa cho
lợn con tăng, trái lại lượng sữa mẹ bắt đầu giảm, một số chất trong cơ thể lợn
con giảm dần, đặc biệt là Fe thành phần cấu tạo Hemoglobin.


8

Bộ máy tiêu hóa của lợn con theo mẹ phát triển chưa hoàn chỉnh, hệ
thống miễn dịch ở lợn con dưới 21 ngày tuổi chủ yếu dựa vào kháng thể trong
sữa mẹ lượng kháng thể này giảm dần, hoạt tính các men còn thấp, lượng axit
HCl tiết ra không đáng kể và nhanh chóng bị liên kết với niêm dịch ảnh
hưởng trực tiếp đến khả năng tiêu hóa Protein và khả năng diệt khuẩn của cơ
thể lợn con. Các men có hoạt tính thấp không tiêu hóa được hết dinh dưỡng
trong sữa dẫn đến lợn con bị ỉa chảy.
Lợn con sơ sinh khả năng điều hòa thân nhiệt kém. Đồng thời, mỡ dự
trữ và lớp mỡ dưới da của lợn con rất mỏng, chỉ chiếm khoảng 1% khối lượng
cơ thể, cũng làm khả năng giữ nhiệt cho cơ thể lợn bị hạn chế, lợn con dễ
nhiễm lạnh và dễ phát sinh bệnh tiêu chảy phân trắng.
* Do gia súc mẹ
Trong thời gian mang thai lợn mẹ không được chăm sóc tốt, khẩu phần
ăn không hợp lý dẫn đến lợn con sinh ra yếu ớt, dễ mẫn cảm với môi trường
xung quanh, lợn mẹ ăn nhiều khẩu phần chất béo, nhiều tinh bột làm sữa
đặc và hàm lượng mỡ sữa cao, lợn con bú không tiêu hóa hết gây rối loạn
tiêu hóa sinh ra bệnh lợn con tiêu chảy phân trắng (Phạm Hữu Doanh và cs,
(2003) [4]).
Lợn mẹ không được nuôi dưỡng đầy đủ khi mang thai trong giai đoạn

Theo Đoàn Thị Kim Dung (2004) [5], các yếu tố nóng, lạnh, mưa,
nắng, hanh, ẩm thay đổi bất thường và điều kiện chăm sóc ảnh hưởng trực
tiếp đến cơ thể lợn đặc biệt là cơ thể lợn con chưa phát triển hoàn chỉnh, các
phản ứng thích nghi của lợn con còn yếu.
* Do rối loạn hệ vi sinh vật đường ruột.
Bình thường trong đường tiêu hóa của lợn nói riêng và động vật nói
chung luôn có một số lượng vi khuẩn nhất định và chúng không gây bệnh.
Nhưng khi hàng rào bảo vệ bị tổn thương số lượng vi khuẩn tăng lên, làm


10

thay đổi tỷ lệ các vi khuẩn có trong đường ruột, gây rối loạn tiêu hóa và bệnh
xảy ra.
Theo Hồ Văn Nam và cs, (1997) [17], cho rằng: Lợn bị tiêu chảy thì số
lượng E.coli và Salmonella tăng lên một cách bội nhiễm. Khi các vi khuẩn
gây bệnh phát triển quá mạnh thì sẽ gây mất cân bằng bệ vi sinh vật đường
ruột gây ra hiện tượng loạn khuẩn.
Vi khuẩn có hại thường gặp ở đường tiêu hóa gây bệnh tiêu chảy ở lợn
gồm Salmonella, E.Coli, một số chủng Clostridium. Trong đó E.Coli xuất
hiện sớm nhất và phổ biến nhất.
* Do vi khuẩn
Vi khuẩn E.coli.
Trực khuẩn ruột già Escherichia coli (E.coli) còn có tên khác là
Bacterium coli commune, Bacillus communis, do Escherich phân lập năm
1885 từ phân trẻ em. E.coli thường sinh sống ở ruột già, ít khi ở dạ dày và
ruột non của các loài gia súc, gia cầm và cả người.
Đặc điểm hình thái
E.coli là một trực khuẩn hình gậy ngắn. Kích thước từ 0,6 x 2-3, hai
đầu tròn. Khi ở trong cơ thể động vật E.coli có hình cầu, trực khuẩn đứng

kháng nguyên là: O, H và K.
Kháng nguyên O: Tính chất giống như kháng nguyên O của các
vikhuẩn đường ruột khác. Phần lớn vi khuẩn E.coli có kháng nguyên K phủ
kín kháng nguyên O, nên khi vi khuẩn còn sống không gây ngưng kết với
kháng nguyên O tương ứng. Mỗi tuýp vi khuẩn E.coli có một kháng
nguyên O riêng, chúng có những yếu tố khác nhau được biểu thị bằng số I,
II, III, IV và có gần 150 tuýp.
Kháng nguyên H còn gọi là kháng nguyên lông, là loại kháng nguyên
có trên lông vi khuẩn, chỉ có một pha được biểu thị bằng số 1, 2, 3, 4.
Kháng nguyên K hay kháng nguyên vỏ, kháng nguyên này có 3 loại
được ký hiệu là L, B và A.


12

+ Kháng nguyên L: Ngăn không cho hiện tượng ngưng kết O của vi
khuẩn sống sảy ra, bị phá hủy khi đun sôi ở 1000C trong 1 giờ.
+ Kháng nguyên A: Ngăn không cho hiện tượng ngưng kết O của E.coli,
dùng kháng huyết thanh A trộn với E.coli có kháng nguyên A gây hiện tượng
phình to vỏ vi khuẩn, ở nhiệt độ 1200C trong vòng 2 giờ mới phá hủy được
kháng nguyên A.
+ Kháng nguyên B: Gồm nhiều thành phần B1, B2, B3, B4, B5, ngăn
không cho hiện tượng ngưng kết O của E.coli.
Sức đề kháng
Trực khuẩn E.coli chịu nhiệt kém, chúng bị tiêu diệt ở 600C trong vòng
15-30 phút, ở 1000C trực khuẩn chết nhanh chóng. Các chất sát trùng thông
thường như: Hormone 11%, crezit 5%, nước vôi 20% có thể diệt E.coli trong
vòng 5 phút.
E.coli đề kháng với sự sấy khô, ở môi trường bên ngoài chúng có thể
tồn tại được 4 tháng.

Ngoài Salmonella cholera suis gây bệnh phó thương hàn cho lợn, trong
một số trường hợp còn gặp Slmonella enteritidis và Salmonella dublin ở lợn
con đang bú sữa.
Vi khuẩn Clostridium perfrigens
Một trong những nguyên nhân quan trọng khác đóng vai trò kế phát gây
bệnh là vi khuẩn yếm khí Cl.perfrigens hình thành độc tố gây dung huyết,
gây hoại tử tổ chức phần mềm và gây chết. Vi khuẩn có khả năng gây ra các
chứng nhiễm độc, viêm ruột xuất huyết trầm trọng ở lợn con.
Cl.perfrigens typ C sản sinh ra độc tố α, β chủ yếu là độc tố β, nhân tố
quan trọng nhất trong sinh bệnh học của bệnh viêm ruột hoại tử do
Cl.perfrigens typ C gây ra. Bệnh xảy ra chủ yếu trên lợn con ở giai đoạn theo
mẹ, lứa tuổi mắc phổ biến nhất là 12 giờ sau khi sinh ra đến 7 ngày tuổi, hay


14

gặp nhất ở 1 đến 3 ngày tuổi. Ngoài ra bệnh cũng có thể xảy ra đối với lợn
con từ 2 đến 4 tuần tuổi và cả khi cai sữa, lợn mắc bệnh thường bị chết ở
những ổ lợn mẹ không được tiêm phòng, tỷ lệ khỏi rất thấp, tỷ lệ chết có thể
lên tới 100%.
* Do virus
Virus cũng là một trong các yếu tố gây bệnh lợn con ỉa phân trắng.
Theo Bohl và cs, (1978) [33], cho rằng bệnh do một loại Rotavirus thuộc họ
Reovindae gây ra, bệnh hay xảy ra ở lợn con 1 - 5 ngày tuổi với tỷ lệ chết cao
50 - 100%. Bệnh có triệu chứng điển hình là phân nhão như hồ rồi đến phân
lẫn nhiều nước màu vàng hoặc xám, chứa nhiều chất vón.
Nói chung lợn con mắc bệnh thường tiêu chảy phân nhiều nước, có bọt,
màu trắng, lầy nhầy, có mùi tanh khó chịu, đôi khi lẫn máu, lợn bệnh thường
hay nôn và luôn ở trạng thái khát nước.
2.1.2.3. Cơ chế sinh bệnh

ỉa. Màu phân lúc đầu xanh đen sau đó chuyển sang xám sau xám như cứt cò,
có mùi tanh, khắm đặc trưng. Phân dính nhiều vào hậu môn.
Lợn con bị bệnh thường hay khát nước, nên tìm nước bẩn trong chuồng
uống, làm bệnh nặng thêm nếu không đảm bảo đủ nước sạch,... Đôi khi có lợn
nôn ra sữa chưa được tiêu hoá nên có mùi chua.
Bệnh kéo dài 2 - 4 ngày, lợn suy nhược nhanh, co giật, run rẩy và chết.
Thể cấp tính hay gặp trong thực tế.
- Thể mãn tính: Thường gặp ở lợn từ tập ăn đến lúc cai sữa. Con vật ỉa
chảy liên miên, phân lúc lỏng, lúc sền sệt, có mùi rất khó chịu, lợn gầy còm,
lông xù. Nếu bệnh kéo dài không được cứu chữa hiệu quả thường dẫn tới bị
viêm dạ dày, ruột rồi chết.
2.1.2.4. Bệnh tích của bệnh
Lợn chết mất nước nghiêm trọng, thường thấy xác gầy và khô đét, đuôi
và khoeo dính đầy phân, mắt trũng sâu, lông da khô, mất tính đàn hồi.


16

Lợn chết ở thể cấp tính và mãn tính khi mổ khám thấy dạ dày tích
thức ăn không tiêu hóa, lổn nhổn bọt khí. Niêm mặc dạ dày lác đác có
đám sung huyết.
Bệnh tích tập trung ở xoang bụng. Ruột non căng do chứa nhiều chất
lỏng, bị viêm cata đến xuất huyết. Các mạch máu màng treo ruột chứa đầy
máu, hạch màng treo sưng mềm và xung huyết. Niêm mạc đường ruột (chủ
yếu là phần dạ dày và ruột non) bị phù nề, dày lên và được phủ một lớp nhầy
xám trắng. Khi gạt bỏ lớp nhầy ra thấy niêm mạc bị xuất huyết điểm hoặc
xuất huyết từng đám. Chất chứa trong đường ruột lỏng có màu vàng hoặc màu
nâu. Gan bị thái hoá, hơi sưng với màu vàng đất sét. Túi mật căng và khi bóc
lớp vỏ cũng dễ thấy xuất huyết. Phần bụng của những lợn chết qua đêm
thường hóp, phân có màu nâu đen và ruột bị xung huyết, hoại tử.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status