ĐạI HọC THáI NGUYÊN
TRƯờNG ĐạI HọC NÔNG LÂM
TRIU VN CHIN
Tên đề tài
:
Theo dõi khả năng sinh trởng của G SASSO từ sơ
sinh đến 21 tuần tuổi nuôi tại Trại Giống gia cầm
Thịnh Đán - Thành phố Thái Nguyên
Khóa luận tốt nghiệp đại học
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Chăn nuôi thú y
Khoa : Chăn nuôi thú y
Khoá học : 2010 - 2014
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Chăn nuôi thú y
Khoa : Chăn nuôi thú y
Lp : K42 - CNTY N02
Khoá học : 2010 - 2014
Giảng viên hớng dẫn : TS. Nguyn Mnh H
Thái Nguyên, 2014
LỜI CẢM ƠN
Sau khi học tập và rèn luyện trong nhà trường, được sự dìu dắt dạy bảo
tận tình của các thầy cô giáo, đặc biệt là thầy cô trong khoa Chăn nuôi Thú y,
đến nay em đã thực tập xong và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp của mình.
Để hoàn thành khóa luận này, em xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu
Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi
Thú y cùng toàn thể thầy cô giáo trong khoa.
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cán bộ, nhân viên của Trại giống Gia
cầm Thịnh Đán - Thành phố Thái Nguyên đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi
cho em trong quá trình thực tập.
Đặc biệt em xin chân thành cảm ơn thầy giáo hướng dẫn TS. Nguyễn Mạnh
Hà đã hết lòng tận tình giúp đỡ em trong quá trình thực tập tốt nghiệp và
hoàn thành tốt chương trình học tập và rèn luyện trong nhà trường.
Trong quá trình hoàn thành khóa luận tốt nghiệp, do thời gian có hạn và
trình độ bản thân còn hạn chế nên khóa luận của em không tránh khỏi những
thiếu sót, vì vậy em kính mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô
giáo và bạn đồng nghiệp để khóa luận được đầy đủ và hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn !
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 1.1: Chế độ chiếu sáng cho đàn gà sinh sản 15
Bảng 1.2: Lịch phòng vaccine cho gà 16
Bảng 1.3: Kết quả công tác phục vụ sản xuất 19
Bảng 2.1. Sơ đồ bố trí thí nghiệm 41
Bảng 2.2. Nhiệt độ và mật độ nuôi 41
Bảng 2.3. Chế độ chiếu sáng 41
Bảng 2.4. Chương trình thuốc và vaccine cho gà khảo nghiệm 42
Bảng 2.5. Tỷ lệ nuôi sống 46
Bảng 2.6. Sinh trưởng tích lũy của gà thí nghiệm qua các tuần tuổi 48
Bảng 2.7. Sinh trưởng tuyệt đối của gà theo dõi qua các tuần tuổi 50
Bảng 2.8. Sinh trưởng tương đối của gà theo dõi qua các tuần tuổi 51
Bảng 2.9. Tiêu thụ thức ăn của gà theo dõi qua các tuần tuổi 52
Bảng 2.10. Theo dõi một số bệnh trên gà theo dõi 54
Bảng 2.11. Khả năng thích nghi của gà khảo nghiệm 55
1.1.3. Tình hình sản xuất nông nghiệp 3
1.1.4. Quá trình thành lập và phát triển của Trại Giống gia cầm Thịnh Đán 6
1.2. NHẬN XÉT CHUNG 9
1.2.1. Thuận lợi 9
1.2.2. Khó khăn 10
1.3. NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN 10
1.3.1. Nội dung thực tập tốt nghiệp 10
1.3.2. Biện pháp tiến hành 11
1.4. KẾT QUẢ CÔNG TÁC PHỤC VỤ SẢN XUẤT 11
1.4.1. Công tác chăn nuôi 11
1.4.2. Công tác thú y 16
1.4.3. Tham gia các công việc khác 18
1.5. KẾT LUẬN VỀ CÔNG TÁC PHỤC VỤ SẢN XUẤT 19
1.5.1. Bài học kinh nghiệm 19
1.5.2. Tồn tại 20
2.4.3.Thức ăn tiêu thụ của gà thí nghiệm qua các tuần tuổi 51
2.4.4. Theo dõi một số bệnh trên gà theo dõi 54
2.4.5. Khả năng thích nghi của gà khảo nghiệm 55
2.4.6. Chi phí trực tiếp cho 1 gà hậu bị Sasso 56
2.5. KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ ĐỀ NGHỊ 56
2.5.1. Kết luận 56
2.5.2. Tồn tại 57
2.5.3. Đề nghị 57
TÀI LIỆU THAM KHẢO 581
Phần 1
CÔNG TÁC PHỤC VỤ SẢN XUẤT
1.1. ĐIỀU TRA CƠ BẢN
1.1.1. Điều tra tự nhiên
- Vị trí địa lý
Trại Giống gia cầm Thịnh Đán là đơn vị trực thuộc Trung tâm Giống vật
nuôi tỉnh Thái Nguyên, nằm trên địa bàn phường Thịnh Đán - thành phố Thái
Nguyên. Trên tuyến đường đi hồ Núi Cốc, cách Trung tâm thành phố 4km về
phía Tây, ranh giới của phường được xác định như sau:
Phường Thịnh Đán là một phường có diện tích tương đối lớn, tổng diện
tích của phường là 4,7km
2
.
- Diện tích đất tự nhiên 646,39 ha. Trong đó:
Diện tích đất trồng lúa 89 ha
Diện tích hoa màu 162 ha
Diện tích trồng cây ăn quả 52 ha
Diện tích đất lâm nghiệp 88,2 ha
Diện tích đất ở 91ha
- Còn lại là các loại đất chưa sử dụng và sử dụng vào mục đích khác.
1.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội
- Tình hình xã hội
+ Dân cư
Theo số liệu của UBND phường vào thời điểm năm 2014 thì dân số của
phường là 19.500 người, với 3.450 hộ, trong đó có 810 hộ sản xuất nông
nghiệp, số còn lại là hộ sản xuất phi nông nghiệp. Phường Thịnh Đán nằm
trên địa bàn thành phố Thái Nguyên có rất nhiều dân tộc cùng tham gia sinh
sống, đại đa số là người Kinh, Nùng, Sán dìu, Tày…
Đời sống văn hoá, tinh thần của nhân dân trong những năm gần đây được
nâng lên rõ rệt, hầu hết các hộ gia đình đều có phương tiện nghe nhìn như:
Đài, TV, sách báo. Đây là điều kiện thuận lợi để người dân trong phường nắm
bắt kịp thời chủ trương chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, các
thông tin khoa học kĩ thuật để phục vụ đời sống hàng ngày.
+ Y tế
Trên địa bàn của phường có một số bệnh viện như: Bệnh viện A Thái
Nguyên, bệnh viên Y học cổ truyền dân tộc, bệnh viện tâm thần, và trạm y tế
phường. Hệ thống y tế cơ sở hoạt động khá hiệu quả, thường xuyên quan tâm
chăm sóc, khám chữa bệnh cho nhân dân.
nhân dân. Do vậy, sản phẩm của ngành trồng trọt được người dân quan tâm và
phát triển. Cây nông nghiệp chủ yếu và là cây trồng mũi nhọn trên địa bàn của
phường là cây lúa với diện tích trồng khá lớn (89 ha). Để nâng cao hiệu quả
4
sản xuất, phường đã thực hiện thâm canh tăng vụ (2 vụ/năm) đưa các giống
lúa mới có năng suất cao vào sản xuất. Ngoài ra còn có một số cây khác được
trồng khá nhiều như: khoai lang, lạc, đỗ, ngô và một số cây rau màu khác
được trồng xen giữa các vụ lúa nhưng chủ yếu là trồng vào mùa Đông.
Để cây trồng đạt năng suất cao thì không thể thiếu vai trò của hệ thống
thuỷ lợi. Những năm trước đây hệ thống thuỷ lợi chưa được cải thiện nên diện
tích lúa thường xuyên bị ngập úng vào mùa mưa, khô hạn về mùa Đông, đồng
ruộng chỉ cấy được một vụ. Hiện nay, nhờ kiên cố kênh mương hoá trên đồng
ruộng, số diện tích ngập úng, khô hạn đã được sử dụng có hiệu quả (2
vụ/năm). Người dân đã biết áp dụng các biện pháp kỹ thuật mới vào sản xuất,
mạnh dạn đưa các giống mới có năng suất cao nhờ đó đã cơ bản giải quyết
được nhu cầu lương thực cho người dân.
- Diện tích trồng cây ăn quả khá lớn, song vườn tạp vẫn nhiều, cây trồng
thiếu tập trung lại chưa thâm canh nên năng suất thấp, sản phẩm chủ yếu
mang tính tự cung tự cấp, chưa mang tính chất hàng hoá cao, cây ăn quả chủ
yếu là: na, cam, quýt, nhãn, vải
- Cây lâm nghiệp: Với đặc điểm của vùng trung du miền núi, do đó diện
tích đất đồi núi chiếm khá lớn. Phường đã thực hiện chính sách giao đất, giao
rừng cho các hộ nông dân nên diện tích cây lâm nghiệp đã được nâng lên, phủ
xanh gần hết diện tích đất trống, đồi núi trọc và diện tích rừng mới trồng, tạo
điều kiện cho việc quản lý, khai thác hợp lý.
- Ngành chăn nuôi
Song song với sự phát triển của ngành trồng trọt, ngành chăn nuôi cũng
phát triển không ngừng. Chăn nuôi cung cấp sức kéo, phân bón cho trồng
trọt, đồng thời cung cấp thực phẩm và nguồn thu nhập kinh tế không nhỏ cho
1
(Móng cái x Landrace) hoặc nái ngoại thuần để
chủ động con giống và cung cấp một phần sản phẩm ra thị trường.
Công tác vệ sinh thú y còn hạn chế, việc tiêm phòng hàng năm chưa
triệt để nên bệnh vẫn xẩy ra gây thiệt hại cho người chăn nuôi, đồng thời ảnh
hưởng đến sản phẩm chăn nuôi cung cấp ra thị trường. Trong những năm tới,
mục tiêu là phải đưa được năng suất sản phẩm, chất lượng thịt đạt tiêu chuẩn
xuất khẩu cũng như đẩy mạnh hơn nữa việc chăn nuôi theo hình thức chăn
nuôi công nghiệp.
+ Chăn nuôi gia cầm
Nhìn chung, chăn nuôi gia cầm trong toàn phường Thịnh Đán khá phát
triển, chủ yếu là chăn nuôi gà, vịt theo phương thức chăn nuôi tự nhiên và bán
6
chăn thả. Ngoài ra, trên địa bàn phường còn có Trại Giống gia cầm Thịnh Đán
thuộc Trung tâm Giống vật nuôi tỉnh Thái Nguyên. Đây là nơi chuyên cung
cấp con giống cho nhân dân trong vùng và một số địa phương khác.
Nhờ các tiến bộ khoa học kỹ thuật áp dụng vào chăn nuôi đã có một số
gia đình chăn nuôi theo phương thức công nghiệp và bán công nghiệp, mua
các con giống mới có năng suất cao về nuôi như: gà Tam Hoàng, gà Lương
Phượng, gà Sasso, ISA, AA, Ross 508, CP 707, Hyline, vịt Khakicampbel.
Kết quả đã đem lại thu nhập khá cao cho các hộ chăn nuôi.
Đa số các hộ chăn nuôi gia cầm đã ý thức được tầm quan trọng của
việc tiêm phòng và chữa bệnh, nhất là sử dụng các loại vắc xin tiêm chủng cho
gà như: Vaccine Cúm gia cầm, Gumboro, Newcastle, Đậu, IB, Song vẫn còn
một số hộ chăn nuôi chưa ý thức được công tác phòng bệnh cho vật nuôi, đó
cũng là điều đáng lo ngại vì đó là điểm khu trú và phát tán mầm bệnh gây tác
hại cho đàn gia cầm trên địa bàn phường.
* Công tác thú y
Công tác thú y đóng vai trò quan trọng then chốt trong chăn nuôi, nó
- 1 dãy chuồng nuôi gà sinh sản
- 1 chuồng khảo nghiệm giống
- 1 kho chứa thức ăn, bảo quản trứng
- 1 phòng ấp trứng
Trại có hệ thống lưới B40 để quây khi chăn thả đảm bảo cho gà được
nuôi nhốt trong quây có khoảng không để vận động, sân chơi phục vụ cho
công tác phối giống.
Trại có hệ thống tường rào bảo vệ bao quanh đảm bảo vệ sinh thú y.
Về thiết bị, máy móc phục vụ cho chăn nuôi gồm có: 2 máy ấp trứng,
01 máy nở, 1 máy phun thuốc sát trùng, máy bơm nước, hệ thống giếng khoan
và các trang thiết bị khác đảm bảo phục vụ chăn nuôi.
* Cơ cấu tổ chức: Cơ cấu của trại được tổ chức và biên chế như sau:
+ 01 Trại trưởng
+ 01 cán bộ kỹ thuật
+ 01 lái xe
+ 01 kế toán
+ 02 công nhân
Có thể nói đội ngũ cán bộ công nhân viên của trại là một đội ngũ trẻ có
kỹ thuật và trách nhiệm với công việc.
- Chức năng và nhiệm vụ của Trại
* Chức năng
+ Trại Giống gia cầm Thịnh Đán là đơn vị sự nghiệp, trực thuộc Trung
tâm Giống vật nuôi tỉnh Thái Nguyên.
+ Trại giống hoạt động theo cơ chế đơn vị sự nghiệp có thu, có con dấu
riêng để giao dịch.
8
* Nhiệm vụ
+ Nuôi giữ các giống gia cầm gốc được tỉnh cho phép nhập.
+ Nuôi khảo nghiệm các giống gia cầm thuần, con lai, sản xuất con giống
9
* Công tác thú y
Công tác thú y hết sức được quan tâm. Với phương châm "phòng bệnh
hơn chữa bệnh", Trại giống gia cầm đã triệt để thực hiện tốt quy trình vệ sinh
thú y đồng thời công tác chăm sóc, nuôi dưỡng cũng chú ý đúng mức nên dịch
bệnh không xảy ra, đàn gia cầm tiếp tục duy trì, số lượng đầu con không
ngừng tăng lên.
Hệ thống chuồng nuôi được đảm bảo thông thoáng về mùa Hè, ấm áp về
mùa Đông. Mùa Hè có hệ thống làm mát bằng quạt và vòi phun nước, mùa
Đông có hệ thống chắn gió Trại có hàng rào chắn xây bao xung quanh đảm
bảo ngăn cách, biệt lập với khu dân cư, cổng ra vào có hố sát trùng, khu vực
chăn nuôi có hàng rào barie và hố vôi sát trùng. Hàng ngày chuồng trại, máng
ăn, máng uống, dụng cụ cho ăn được quét dọn, cọ rửa sạch sẽ trước khi cho gà
ăn. Quy trình tiêm phòng cho đàn gia cầm được thực hiện nghiêm túc với loại
vaccine như: Cúm gia cầm, Gumboro, Newcastle, Đậu, Bệnh viêm phế quản
truyền nhiễm. Chuồng trại thường xuyên thay chất độn và định kỳ tổng vệ
sinh toàn bộ khu vực trại. Hàng ngày cán bộ kỹ thuật theo dõi, phát hiện gia
cầm nhiễm bệnh và tiến hành điều trị hoặc loại thải kịp thời.
Ngoài công tác phục vụ sản xuất và chuyển giao các tiến bộ khoa học kỹ
thuật cho người chăn nuôi Trại còn tiếp nhận sinh viên của Trường Đại học
Nông Lâm đến thực tập làm luận văn tốt nghiệp và ứng dụng các tiến bộ khoa
học kỹ thuật mới vào sản xuất và nâng cao tay nghề cho sinh viên.
1.2. NHẬN XÉT CHUNG
Qua kết quả tìm hiểu và điều tra thực tế tại Trại Giống gia cầm Thịnh
Đán chúng tôi rút ra những nhận xét chung như sau:
1.2.1. Thuận lợi
- Trại luôn được sự quan tâm và chỉ đạo sát sao của lãnh đạo Sở Nông
nghiệp và PTNT, Trung tâm Giống vật nuôi, Chi cục thú y tỉnh Thái Nguyên
và các cơ quan ban ngành liên quan.
- Ban lãnh đạo Trại thường xuyên quan tâm, chú ý đến phát triển sản
+ Thực hiện nghiêm túc quy trình tiêm phòng.
+ Phát hiện và điều trị bệnh kịp thời cho gà.
+ Tích cực tham gia vào các phong trào khác của đơn vị. 11
1.3.1.2. Công tác nghiên cứu khoa học
Thực hiện chuyên đề nghiên cứu khoa học với tên đề tài: “Theo dõi khả
năng sinh trưởng của gà Sasso từ sơ sinh đến 21 tuần tuổi nuôi tại trại giống
gia cầm Thịnh Đán - Thành phố Thái Nguyên - Thái Nguyên”.
1.3.2. Biện pháp tiến hành
Trong thời gian thực tập tại cơ sở tôi đã đề ra một số biện pháp thực hiện
như sau:
- Tìm hiểu kỹ tình hình sản xuất chăn nuôi ở cơ sở thực tập và khu vực vành đai.
- Tham gia tích cực công tác tiêm phòng, chẩn đoán và điều trị bệnh cho
gia cầm.
- Tham gia công tác chuyển giao con giống và kỹ thuật cho các hộ sản xuất.
- Luôn luôn chấp hành, tham gia các hoạt động của cơ sở, tiếp thu ý kiến
của cán bộ lãnh đạo, của cô giáo hướng dẫn, tranh thủ thời gian tiếp xúc với
thực tế để nâng cao tay nghề, nắm vững kiến thức chuyên ngành.
- Áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới mà bản thân tôi đã được học
và tìm hiểu vào thực tiễn sản xuất.
1.4. KẾT QUẢ CÔNG TÁC PHỤC VỤ SẢN XUẤT
Trong quá trình thực tập tại Trại Giống gia cầm Thịnh Đán, được sự giúp
đỡ tận tình của thầy giáo hướng dẫn và cán bộ, công nhân viên của Trại, kết
hợp với sự nỗ lực cố gắng của bản thân, tôi đã lĩnh hội được nhiều kinh
nghiệm quý báu trong thực tiễn sản xuất và đã đạt được một số kết quả sau:
1.4.1. Công tác chăn nuôi
* Công tác chuẩn bị chuồng trại
Trước khi nhận gà vào nuôi, chuồng đã được để trống từ 10 - 15 ngày và
ml Foocmol cho 1m
3
không khí trong thời gian từ 15 - 20 phút, cho trứng vào
kho bảo quản 3 – 5 ngày khi đủ số llượng cần thiết thì cho vào máy ấp.
- Kiểm tra trứng ấp: Sau khi đưa trứng vào ấp một thời gian, tiến hành soi
trứng để kiểm tra phôi ở các giai đoạn 7, 13, 18 ngày ấp để loại bỏ kịp thời
trứng không phôi, chết phôi, qua đó cũng đánh giá được chất lượng trứng đưa
vào ấp để kịp thời điều chỉnh chế độ ấp hoặc chế độ chăm sóc nuôi dưỡng của
đàn gà sinh sản sao cho đạt hiệu quả cao nhất.
- Phân loại gà con mới nở ra: Gà con mới nở ra phải chọn và phân loại:
loại I, loại II. Gà loại I là những con nhanh nhẹn khoẻ mạnh, mắt sáng lông
mượt, chân bóng, không hở rốn, khoèo chân, vẹo mỏ và đảm bảo khối lượng
quy định đối với từng loại giống.
13
* Công tác chăm sóc nuôi dưỡng
Tuỳ theo từng giai đoạn phát triển của gà và tuỳ từng loại gà mà ta áp
dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho phù hợp.
- Giai đoạn úm gà con (1 – 21 ngày tuổi): Khi chuyển từ khu ấp trứng về
chúng tôi tiến hành cho gà con vào quây và cho gà uống nước ngay. Nước uống
cho gà phải sạch và pha B.Complex + vitamin C + đường glucoza 5% cho gà
uống hết lượt sau 2 - 3h mới cho gà ăn bằng khay.
Thức ăn của gà trong giai đoạn này là thức ăn khởi động, kích thước hạt
nhỏ, dễ tiêu hóa, dễ hòa tan, chứa đầy đủ các chất dinh dưỡng và cân đối về axit
amin. Hàm lượng protein tối thiểu là 19%, năng lượng trao đổi 2900 – 3000
kcal/kg thức ăn.
Giai đoạn đầu nhiệt độ trong quây là 35 - 37
0
C. Sau 1 tuần tuổi nhiệt độ
cần thiết là trên 30
trong giai đoạn này cần phải đảm bảo có 15-17% protein, năng lượng trao đổi
biến động từ 2600 - 2700 kcal/kg thức ăn.
Chế độ chăm sóc gà trong giai đoạn này hết sức quan trọng, phải
thường xuyên theo dõi khối lượng của gà để điều chỉnh tăng giảm thức ăn cho
phù hợp. Chú ý khống chế thức ăn phù hợp để đến khi gà vào đẻ đạt khối
lượng chuẩn quy định cho từng giống.
Về cách cho ăn, người ta có thể sử dụng 2 phương pháp sau: một là cho
gà 3 ngày ăn 1 ngày nhịn hoặc là ngày nào cũng cho ăn theo khẩu phần khống
chế. Khẩu phần này được xác định tuỳ theo khối lượng cơ thể gà. Cứ 50 g
khối lượng cơ thể vượt so với quy định giảm 5 g thức ăn/gà/ngày, nhưng
lượng thức ăn không thấp hơn ở tuần trước; cứ 50 g khối lượng cơ thể thấp
hơn so với quy định tăng 5 g thức ăn/gà/ngày. Chỉ cho ăn một bữa để giảm
những ảnh hưởng xấu và stress cho gà. Khi phân phối thức ăn vào máng, phải
đảm bảo trong vòng 4 phút tất cả các máng đều có thức ăn. Máng ăn cho gà
giai đoạn này cần treo cao cho gờ miệng máng luôn ngang với lưng gà để
tránh rơi vãi thức ăn (chú ý trong giai đoạn nuôi khống chế phải khống chế cả
nước uống). Đối với gà nuôi tại Trại Giống gia cầm Thịnh Đán sử dụng thức
ăn hỗn hợp 0521 của CP có thành phần dinh dưỡng: đạm 19%; xơ thô 6%; Ca
0,8 -1,0%; P 0,6%; NaCl 0,3-0,5%; năng lượng trao đổi 2900 kcal/kg
Hàng ngày chúng tôi theo dõi và giám sát tình trạng sức khoẻ của đàn
gà. Khi phát hiện ra gà có triệu chứng biểu hiện bệnh tiến hành chẩn đoán và
có biện pháp điều trị kịp thời cho đàn gà. Trong quá trình nuôi dưỡng chúng
tôi tiến hành tiêm chủng vaccine theo đúng chủng loại liều lượng và lịch
phòng bệnh cho gà hàng tuần. Thực hiện nghiêm ngặt chế độ chiếu sáng về
thời gian và cường độ.
15
Mật độ nuôi nhốt gà giai đoạn hậu bị là gà trống 4,2 gà/m
2
, gà mái 7
0-2 24h 4
3-8 16h 3
9-14 8h (ánh sáng tự nhiên) 2
14-15 8h (ánh sáng tự nhiên) 2,5
21-25 16 h 3,5
16
1.4.2. Công tác thú y
* Công tác phòng bệnh cho đàn gà
Trong chăn nuôi, công tác phòng chống dịch bệnh đóng vai trò rất quan trọng
và là yếu tố quyết định đến hiệu quả kinh tế chăn nuôi và an ninh kinh tế nông
nghiệp. Do vậy, trong quá trình chăn nuôi, chúng tôi cùng với cán bộ kỹ thuật,
công nhân của trại thường xuyên quét dọn vệ sinh chuồng trại, khai thông cống
rãnh, phát quang bụi rậm, phun thuốc sát trùng định kỳ, tẩy uế, máng ăn, máng
uống. Trước khi vào chuồng cho gà ăn uống phải thay bằng quần áo lao động đã
được giặt sạch, xông thuốc tím, đi ủng, đeo khẩu trang để bảo vệ sức khoẻ người
lao động và phòng bệnh cho gia cầm.
Tiêm phòng vaccine cho đàn gia cầm để có miễn dịch chủ động đảm bảo
an toàn dịch bệnh. Trước ngày sử dụng vaccine không pha thuốc kháng sinh
vào nước uống trong vòng 8 - 12 h, pha vaccine vào lọ dùng để nhỏ trực tiếp
vào miệng, mắt, mũi hoặc pha ở dạng dung dịch để tiêm. Tính toán liều vaccine
phải đủ để mỗi con nhận được đủ một liều. Dụng cụ pha và nhỏ vaccine không
có thuốc sát trùng hoặc xà phòng, nhiệt độ đảm bảo từ 20 - 25
0
C.
Chúng tôi sử dụng vắc xin phòng bệnh cho đàn gà theo lịch như sau:
Bảng 1.2: Lịch phòng vaccine cho gà
Ngày tuổi Loại vaccine Phương pháp dung
1-5 Lasota lần 1,
IB Gumboro lần 1
- Điều trị:
+ Anti- CRD: liều 2 g/lít nước uống, dùng liên tục trong vòng 3-5 ngày.
Tất cả các loại bệnh khi điều trị cần kết hợp với các loại thuốc nhằm tăng sức
đề kháng như: B.complex (1 g/3 lít nước), vitamin C, đường Glucose.
+ Bệnh CRD thường ghép với bệnh E.coli, do đó khi điều trị bệnh
chúng tôi sử dụng Bio- Enrofloxacin 10%, liều lượng 1ml/2 lít nước uống
dùng trong 3 - 5 ngày.
* Bệnh cầu trùng (Coccidiosis)
- Nguyên nhân: Bệnh cầu trùng do 9 loại Coccidia gây ra, chúng ký
sinh ở tế bào biểu mô ruột. Tuỳ theo từng chủng loại và vị trí gây bệnh mà có
những triệu chứng gây bệnh khác nhau.
- Triệu chứng: Thường gặp ở 2 thể
+ Cầu trùng manh tràng: thường gặp ở gà con từ 4-6 tuần tuổi; gà bệnh ủ
rũ, bỏ ăn, uống nước nhiều, phân lỏng lẫn máu tươi hoặc có màu sôcôla, mào
nhợt nhạt (do thiếu máu). Mổ khám thấy manh tràng sưng to, chứa đầy máu.