Luận văn hay "VẬN DỤNG MỘT SỐ TRI THỨC CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT TRONG DẠY HỌC MÔN TOÁN LỚP 11 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG" - Pdf 40

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

TRỊNH TRỌNG TRUNG

VẬN DỤNG MỘT SỐ TRI THỨC CỦA
PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT TRONG DẠY HỌC
MÔN TOÁN LỚP 11 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

Chuyên ngành: Lý luận và Phương pháp dạy học bộ môn Toán
Mã số: 62.14.01.11

ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. TRẦN TRUNG


VINH, 2013

2


MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Đào tạo nguồn nhân lực góp phần phát triển đất nước và hội nhập quốc
tế là nhiệm vụ quan trọng mà Đảng và Nhà nước giao cho ngành giáo dục.
Trong thực tiễn quá trình thực hiện nhiệm vụ đó, việc đổi mới giáo dục nói
chung và đổi mới phương pháp dạy học nói riêng đang trở thành một trong
những yêu cầu bức thiết. Điều 28, Chương II, Luật Giáo dục đã quy định:
“Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ
động, tư duy sáng tạo của HS; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn

luận duy vật biện chứng với việc học, dạy, nghiên cứu toán học”, Đào Tam
quan tâm với khía cạnh “Một số cơ sở phương pháp luận của toán và việc vận
dụng chúng trong dạy học Toán ở trường phổ thông”, Lê Văn Đoán với vấn
đề “Quan điểm duy vật biện chứng về khả năng phát triển của toán học”,
Phạm Đình Khương với đề tài “Vận dụng cặp phạm trù nội dung - hình thức
để hướng dẫn học sinh tìm lời giải trong hoạt động giải toán”,... cùng với
những kết quả nghiên cứu trong một số luận án tiến sĩ của Nguyễn Phú Lộc,
Lê Duy Phát, Nguyễn Thanh Hưng, Nguyễn Chiến Thắng, Đỗ Văn Cường,...
được công bố trong những năm qua đã làm sáng tỏ phần nào được khả năng
to lớn của việc vận dụng một số tri thức của phép biện chứng duy vật nhằm
nâng cao hiệu quả dạy học môn Toán ở trường phổ thông.
Trong chương trình môn Toán Trung học phổ thông, nội dung lớp 11
đóng vai trò rất quan trọng. Học sinh bước đầu tiếp cận với kiến thức giải
tích, tìm hiểu các dạng phương trình, hệ phương trình mới, tiếp cận với toán
ứng dụng, chuyển từ tư duy hình học phẳng sang không gian… Do đó, việc
xem xét các kiến thức toán học trong mối quan hệ biện chứng là rất quan
trọng. Tuy nhiên chưa có đề tài nào nghiên cứu cụ thể việc vận dụng một số
tri thức của phép duy vật biện chứng vào dạy học cho học sinh lớp 11 Trung
học phổ thông.
Xuất phát từ những lí do nêu trên chúng tôi chọn đề nghiên cứu là:
"Vận dụng một số tri thức của phép biện chứng duy vật trong dạy học
môn Toán lớp 11 Trung học phổ thông".
4


2. Mục đích nghiên cứu
Vận dụng một số nguyên lý, cặp phạm trù và quy luật của phép biện
chứng duy vật vào dạy học môn Toán lớp 11 nhằm nâng cao chất lượng hiệu
quả dạy học môn Toán ở trường Trung học phổ thông.
3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu

số tri thức triết học duy vật biện chứng vào dạy học Toán, các cơ sở về tâm lý
học, giáo dục học, sách giáo khoa, sách giáo viên, sách tham khảo về chương
trình lớp 11 ở trường Trung học phổ thông hiện hành.
6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Khảo sát, tìm hiểu về việc vận
dụng triết học duy vật biện chứng trong dạy học môn Toán lớp 11 ở trường
Trung học phổ thông qua các hình thức dự giờ, điều tra, phỏng vấn.
6.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tổ chức thực nghiệm sư phạm
thông qua lớp học thực nghiệm và lớp học đối chứng ở một số trường Trung
học phổ thông trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa. Đánh giá kết quả thực nghiệm sư
phạm bằng phương pháp thống kê toán học trong khoa học giáo dục.
7. Đóng góp của luận văn
7.1 Góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn của việc vận dụng
một số tri thức phép biện chứng duy vật trong dạy học Toán ở trường Trung
học phổ thông phổ thông.
7.2 Thể hiện được khả năng vận dụng một số nguyên lý, cặp phạm trù và quy
luật của phép biện chứng duy vật trong dạy học môn Toán cho học sinh lớp 11
Trung học phổ thông thông qua các tình huống dạy học điển hình.
8. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, nội dung luận văn được trình bày
trong 3 chương:
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Chương 2: VẬN DỤNG MỘT SỐ TRI THỨC CỦA PHÉP
BIỆN CHỨNG DUY VẬT VÀO DẠY HỌC MÔN TOÁN LỚP 11
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM

6


Chương 1

7


giới rõ rệt vì không thể khẳng định được một phần tử nào đó là thuộc tập hợp
hay không mà chỉ có thể nói đến một xác suất p để phần tử thuộc tập hợp.
Điều này được ứng dụng rất nhiều trong kỹ thuật máy tính điện tử.
Vấn đề cơ bản của Triết học trong Toán học là sự cụ thể hóa vấn đề
về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức vào trong toán học. Đó là mối quan hệ
giữa số lượng và hình thức không gian của các sự vật trong thế gới hiện thực
với các tri thức Toán học. Mối quan hệ ấy được thể hiện bằng sơ đồ dưới đây:
Mối quan hệ
Vật chất

Mối quan hệ
số lượng và
hình thức
không gian
sự vật

Ý thức

Mối quan hệ
Tri thức
toán học

Khi giải quyết vấn đề này đã hình thành hai khuynh hướng đối lập nhau,
đấu tranh với nhau là chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm trong Toán học.
Đây cũng là sự thể hiện một cách cụ thể hai trào lưu Triết học là chủ nghĩa
duy vật và chủ nghĩa duy tâm trong Triết học và Toán học.
Chủ nghĩa duy vật trong Toán học cho rằng sự xuất hiện của Toán học là

của những ý niệm, nhưng cùng với những ý niệm sáng tạo ra thế giới hiện
thực.
Đối lập với quan niệm của Plantôn là quan niệm của Arixtôt. Ông cho
rằng, những khái niệm Toán học là kết quả của sự trừu tượng hóa thế giới
hiện thực. Nó là cái có sau thế giới hiện thực. Các sự vật tồn tại trong thế giới
hiện thực là cái có trước, nó tồn tại khách quan. Nhờ có tư duy trừu tượng của
con người mà hình thành nên các khái niệm Toán học.
Trong lịch sử phát triển của Triết học, cuộc đấu tranh giữa quan niệm của
Platôn và Pitago với quan niệm của Arixtôt đã diễn ra quyết liệt trong thời kỳ
cổ đại. Đó là sự thể hiện một cách sinh động và phức tạp việc giải quyết các
vấn đề cơ bản của triết học trong Toán học. Cuộc đấu tranh giữa những tư
tưởng, quan điểm của các nhà triết học cũng như các nhà toán học cũng đều

9


xoay quanh mối quan hệ giữa vật chất và ý thức mà cụ thể là mối quan hệ
giữa các khái niệm, các tri thức của Toán học với thế giới hiện thực.
Đồng tình và ủng hộ cho quan điểm của Arixtôt, các nhà duy vật trong
Toán học đã chứng minh rằng, những quy luật và những khái niệm, những lý
thuyết Toán học đều là những điều ghi chép lại, những "phản ánh" thu được
do kết quả của sự trừu tượng hóa từ các vật thể cụ thể và từ những tính chất
của chúng. Ngược lại, các nhà toán học duy tâm lại cho rằng, các khái niệm,
quy luật, lý thuyết toán học là cái có trước hiện thực. Trong đó chủ nghĩa duy
tâm khách quan cho rằng, những khái niệm Toán học tồn tại bên ngoài sự vật,
có trước sự vật và đối lập với tư duy của con người. Chủ nghĩa duy tâm chủ
quan cho rằng các khái niệm, các định luật và lý thuyết Toán học là sản phẩm
sự sáng tạo thuần túy của tư duy. Đặc biệt, đến thời kỳ ra đời và phát triển của
Toán học hiện đại, họ cho rằng những khái niệm và những con số ở trong
Toán học cũng tương tự như những ký hiệu mà con người đã đặt ra trong

Ngày nay, chúng ta đã có đầy đủ căn cứ để khẳng định rằng, các ký hiệu toán
học không những chỉ là phương tiện thuận lợi cho việc nghiên cứu khoa học
nói chung và toán học nói riêng, mà chúng còn có một giá trị nhận thức luận
to lớn. Sở dĩ các ký hiệu toán học có vai trò quan trọng như vậy là do nội
dung khách quan của chúng quy định.
Chúng ta đều biết rằng, nhiều nhà triết học duy tâm thường khẳng định tư
duy của con người không có khả năng đưa ra các chân lý khách quan. Song,
trên thực tế họ lại luôn minh chứng cho nhận thức luận duy tâm của mình
bằng cách sử dụng hệ thống ký hiệu và công thức toán học do các nhà toán
học đưa ra. Giải thích việc sử dụng hệ thống này, các nhà triết học duy tâm
cho rằng, đối tượng của toán học mang tính trừu tượng cao, trong khi quy luật
phát triển của toán học lại rất phức tạp, ngôn ngữ ký hiệu thì ngày càng được
sử dụng nhiều trong toán học, nên các chân lý toán học không có tính khách
quan. Từ đó, họ coi toán học chỉ là một hệ thống ký hiệu đã được lựa chọn từ
trước một cách thích hợp và căn cứ vào đó để minh chứng cho học thuyết của
mình. Bác bỏ quan niệm đó, các nhà triết học duy vật đã dựa vào toàn bộ quá
trình phát triển của tri thức khoa học để chỉ ra sai lầm của chủ nghĩa duy tâm
về đối tượng của toán học và phân tích một cách đúng đắn nội dung, ý nghĩa
của các ký hiệu toán học.
Theo quan điểm duy vật biện chứng, các ký hiệu toán học, trước hết được
sử dụng để ghi lại các khái niệm và các mệnh đề toán học. Chẳng hạn, trong

11


số học các số tự nhiên, các ký hiệu 1, 2,3,... biểu thị đặc điểm về lượng của
nhóm đối tượng chứa một, hai, ba,… đối tượng. Các ký hiệu > , = , < biểu
diễn những sự tương quan, chẳng hạn 1< 2 (1 bé hơn 2). Đồng thời, người ta
còn sử dụng đấu hiệu các phép tính số học như: + , − , × , : để biểu thị những
mối liên hệ có thể có giữa các số tự nhiên. Tất cả các ký hiệu nói trên cho

thế biểu thị cái gì, nếu không sẽ dẫn đến những hiểu biết sai lệch điều mà các
ký hiệu muốn nói và khi đó mọi lập luận trong toán học sẽ không thể tiếp tục
tiến hành. Chỉ khi ý nghĩa của các ký hiệu đã được thiết lập một cách chính
xác, chúng ta mới có khả năng hiểu được điều mà các quan hệ muốn diễn đạt.
Với cách diễn đạt nội dung của nó bằng lời. Rõ ràng, việc phát biểu công
thức này bằng lời sẽ dài dòng hơn rất nhiều, và nếu so sánh cách chứng minh
bất đẳng thức trên bằng ký hiệu với cách chứng minh bằng lời thì chúng ta
càng nhận thấy sự thuận tiện của việc sử dụng các ký hiệu toán học.
Tuy nhiên, không phải lúc nào các ký hiệu toán học cũng có thể biểu diễn
một cách ngắn gọn nội dung toán học và các khoa học khác. Các ký hiệu toán
học sẽ không thực hiện được nhiệm vụ chủ yếu này của chúng, nếu chúng chỉ
là những biểu hiện ngắn gọn của những dạng ngôn ngữ dài dòng hơn. Chẳng
hạn, việc xây dựng cơ học cổ điển đã diễn ra với việc sử dụng các vectơ để
diễn tả chuyển động. Theo đánh giá của Albert Einstein, ở đây toàn bộ công
việc đã làm chỉ là chuyển những sự kiện đã được thừa nhận từ trước thành
một ngôn ngữ phức tạp và kỳ lạ. Nhưng, theo ông, chính cái ngôn ngữ kỳ lạ là
vectơ ấy đã dẫn đến những điều khái quát quan trọng mà trong đó vectơ giữ
vai trò nòng cốt.
1.1.2.2.Vai trò của toán học trong sự hình thành và phát triển thế giới
quan duy vật
Ở thời kì cổ đại, toán học mới chỉ ở giai đoạn toán học sơ cấp mộc mạc và
cùng với nó là triết học duy vật thô sơ, chất phác. Những kiến thức toán học
mới chỉ là những phát kiến rời rạc, hầu như chưa có hệ thống đang hòa lẫn
trong kho tàng các kiến thức triết học. Đó là hình học của Euclide, là những
kiến thức về đại số ( cách giải phương trình bậc 3, bậc 4, dùng công cụ logarit
để tính toán gần đúng), về số học (số nguyên tố, ước chung lớn nhất, bội
chung nhỏ nhất, phương trình Diophante), lượng giác. Lúc này triết học và
toán học gắn bó tới mức khó phân biệt ranh giới giữa chúng. Các nhà triết gia
13


14


Toán học từ chỗ “toán học kinh nghiệm” tức là mới dừng lại ở đong, đo
trực tiếp hoặc ước lượng bằng kinh nghiệm đã tiến lên trình độ lý luận. Hình
học xuất hiện lý luận về so sánh hình dựa trên sự so sánh một số đoạn thẳng
hay góc nào đó, quy tắc tính diện tích, thể tích một số hình đơn giản. Đại số
xuất hiện các công thức, phương trình để tìm các ẩn số theo các số đã biết.
Tuy những lý luận này mới chỉ hạn chế ở chỗ phát hiện ra những mối liên hệ
có tính quy luật (được phát biểu bằng các định lí, các công thức) trong những
sự vật, hiện tượng tĩnh tại, riêng lẻ nhưng đây cũng là bước tiến rất lớn từ cái
đơn nhất, ngẫu nhiên lên cái phổ biến, tất nhiên. Toán học đã thông qua cơ
học và thiên văn học góp phần vào cuộc cách mạng của Copecnic thay hệ địa
tâm bằng hệ nhật tâm. Sự phát triển của thế giới quan mới gắn liền với cuộc
cách mang mà Copecnic đòi hỏi phải có một nền toán học mang những tư
tưởng mới về chất ra đời .
Cũng ở thời kỳ này, những thành tựu của số học, hình học cũng đã tạo ra
mối liên hệ đầu tiên với những quan niệm của phép biện chứng. Chẳng hạn,
mối quan hệ giữa số thực và số ảo, giữa vô hạn và hữu hạn…
Như vậy là, toán học đã có những đóng góp nhất định vào sự hình thành và
phát triển một số yếu tố biện chứng, tuy chỉ dừng lại ở việc góp phần hình
thành và củng cố thế giới quan duy vật siêu hình máy móc.
Thời kỳ Phục hưng, nhu cầu nghiên cứu các vận động cơ học, vật lý đẩy
toán học sang một giai đoạn mới. Trọng tâm của toán học hướng vào nghiên
cứu sự biến thiên của các hàm số, sự nghiên cứu đạo hàm rồi nguyên hàm,
tích phân cùng với phương pháp toạ độ của Decartes ra đời làm nền tảng cho
lý thuyết các hàm số thực và phức, lý thuyết các phương trình vi phân thực và
phương trình đạo hàm riêng, lý thuyết các chuỗi hình học giải tích, hình học
vi phân cùng với các phép biến đổi hình học. Vận động thực sự tràn vào toán
học. Như F.Enggen đánh giá: “Đại lượng biến đổi của Decartes đã đánh dấu

tiên đề cho trước nên hệ tiên đề đặc trưng một cái gì đó trừu tượng gọi là cấu
trúc toán học như cấu trúc “không gian Euclide”, “không gian Lobasepxki”,
cấu trúc “nhóm”, “vành”, “trường”…

16


Toán học hiện đại đóng vai trò nền tảng trong quá trình nhất thể hóa khoa
học. Nó góp phần quan trọng vào sự nhận thức những cơ sở nền tảng của sự
tổng hợp tri thức vốn chứa đựng nội dung thế giới quan, phương pháp luận
sâu sắc. Đồng thời nó là một trong những cơ sở khoa học để luận chứng cho
thế giới quan duy vật biện chứng về sự thống nhất vật chất của thế giới.
Như vậy ta có thể mạnh dạn khẳng định từ khi mới hình thành và trong
quá trình phát triển của mình, toán học luôn tạo ra cơ sở thế giới quan duy vật
biện chứng bằng cách trực tiếp hay gián tiếp.
Toán học thời kỳ đầu tức là đến thời kỳ toán học sơ cấp là cơ sở cho sự ra
đời của chủ nghĩa duy vật máy móc, siêu hình. Nó cũng góp phần khẳng định
thế giới quan duy vật, chống lại thế giới quan tôn giáo – kinh viện.
Sang thời kỳ toán học cao cấp, khi mà trọng tâm toán học chuyển sang
nghiên cứu các đại lượng biến đổi trước hết là tư tưởng vận động, toán học là
một trong các nguồn gốc đẻ ra tư duy biện chứng và là cơ sở khoa học để hình
thành và luận chứng cho thế giới quan duy vật biện chứng trong giới tự nhiên
vô sinh.
Toán học hiện đại hoàn thiện sâu sắc thế giới quan duy vật biện chứng
trong các lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy. Nó góp phần củng cố, hoàn
thiện và phát triển thế giới quan duy vật biện chứng.
1.1.2.3. Toán học thúc đẩy triết học tiến lên
Toán học đã làm rõ thêm, sâu sắc thêm về quan điểm tính thống nhất của
thế giới, không chỉ thể hiện ở khía cạnh định tính mà còn ở khía cạnh định
lượng. Ở khía cạnh định tính thì khoa học càng tiến lên, loài người càng thấy

hình tròn bằng cách nội tiếp đa giác đều rồi cứ gấp đôi mãi số cạnh của đa
giác thì chính là đã thay đổi sự biến thiên liên tục bằng một dãy những đột
biến: khi đi trên một cạnh của đa giác đều nội tiếp thì phương không thay đổi,
khi đã đến một đỉnh rồi tiếp tục đi trên cạnh tiếp theo thì phương thay đổi đột
ngột.
Như vậy, trong việc tính chu vi, diện tích hình tròn đã manh nha nguyên
tắc của phép tính vi tích phân. Tư tưởng về các đại lượng biến thiên đã được
tích lũy dần nhưng mãi đến khi nhu cầu nghiên cứu các vận động cơ học và
18


vật lý đặt ra mạnh mẽ cộng thêm sự ra đời phương pháp toạ độ của Decartes
thì phép tính vi tích phân mới chính thức ra đời.
Tóm lại, qua sự phân tích ở trên ta thấy rằng toán học trong quá trình
phát triển đã góp phần rất quan trọng vào sự phát triển tiến lên của triết học.
Đó là toán học đã cung cấp cho triết học những dữ kiện, dữ liệu giúp cho triết
học xây dựng nên lý luận cho mình; những thành tựu của toán học là minh
chứng hùng hồn cho sự đúng đắn của các học thuyết triết học duy vật tiến bộ,
làm phong phú, sâu sắc thêm những tư tưởng triết học. Có thể nói, toán học
góp phần hình thành, phát triển và củng cố, hoàn thiện chủ nghĩa duy vật biện
chứng – cơ sở phương pháp luận của thế giới quan khoa học.
1.1.3 Tác động giữa triết học và toán học
1.1.3.1. Sự cần thiết của mối liên minh giữa Triết học và Toán học
Những thành tựu của khoa học tự nhiên nói chung, Toán học nói riêng gần
đây cho thấy bất kỳ nhà khoa học nào dù muốn hay không đều phải tiến tới
các kết luận chung về mặt lý luận. Nền lý luận vững chắc của toán học cũng
như tất cả các ngành khoa học khác chỉ có thể là triết học duy vật biện chứng
vì nó là phương pháp luận chung nhất của nhận thức khoa học.
Với ý nghĩa ấy, Toán học muốn phát triển buộc phải vận dụng tư duy triết
học duy vật biện chứng vào quá trình nghiên cứu cũng như dạy và học toán

mà những phạm trù ấy thì họ tiếp thu một cách không phê phán, hoặc trong
cái ý thức chung, thông thường của những người gọi là có học thức, cái ý thức
bị thống trị bởi những tàn tích của những hệ thống triết học đã lỗi thời.
F.Enggen trong tác phẩm “Chống Đuyrinh”, NXB Sự thật, Hà Nội, 1960,
tr.60 đã khẳng định: “Một quan niệm vừa biện chứng vừa duy vật về tự nhiên
đòi hỏi người ta phải thông thạo toán học và khoa học tự nhiên”
Triết học muốn xây dựng các quan điểm của mình thì không được tồn tại
một cách đơn độc mà tài liệu của nó được phân bố trong các ngành khác nhau
của khoa học trong đó có vai trò quan trọng của toán học. Vì vậy, một chứng
minh về mặt triết học có thể hiểu theo hai nghĩa hoặc là đối chiếu những tiền
đề triết học với các quy luật đã được xác định của các ngành khoa học khác
nhau hoặc là thể nghiệm việc vận dụng lý luận đó.
20


Do đó “một quan niệm vừa biện chứng, vừa duy vật về tự nhiên đòi hỏi
người ta phải thông thạo toán học và khoa học tự nhiên. Triết học không hề có
quyền được tồn tại đơn độc. Nó thu thập các tài liệu của mình từ trong các
nghành khác nhau của khoa học thực chứng” ( theo Nguyễn Hữu Vui, về mối
quan hệ giữa triết học và khoa học tự nhiên, trang 196)
1.1.3.3. Sự liên minh giữa các nhà toán học và các nhà triết học duy vật
biện chứng là một yêu cầu cấp bách đồng thời là một tất yếu lịch sử của
thời đại
Thế giới đang phát triển với một tốc độ như vũ bão đặt ra vô số vấn đề cần
phải giải quyết. Nhu cầu thực tiễn ấy đòi hỏi các ngành khoa học cũng phải
phát triển kịp thời để đáp ứng. Vì vậy, sự liên minh giữa các nhà toán học và
các nhà triết học duy vật biện chứng là một yêu cầu cấp bách đồng thời là một
tất yếu lịch sử của thời đại.
Sự liên minh ấy cũng cho thấy rằng, một điều không kém phần quan trọng
đó là những đại biểu của các nhà toán học hiện đại cần phải có can đảm để

và chiếm thời lượng lớn trong chương trình phổ thông.
Mặc dù bộ đã chỉnh lý sách giáo khoa và thay đổi phương pháp dạy nhưng
cách dạy toán phổ biến hiện nay đa phần giáo viên đưa kiến thức (khái niệm,
định lý) rồi giải thích, chứng minh; trò cố gắng tiếp thu nội dung khái niệm,
nội dung định lý, hiểu chứng minh định lý, cố gắng tập vận dụng các công
thức, các định lý càng nhiều càng tốt. Nhiều học trò giỏi thường thắc mắc
không biết giả thiết và kết luận của các bài toán ở đâu mà ra, ai nghĩ ra đầu
tiên và làm thế nào mà nghĩ ra được. Nhà trường không hề dạy cho họ cách
“phát hiện vấn đề” để tự đề xuất ra các bài toán nên khi họ làm xong bài toán,
chân trời của họ ít được mở rộng.
Thay đổi cách dạy và học hiện nay là đặt người học ở vị trí trung tâm, tự
mình phát hiện ra vấn đề, giải quyết vấn đề và đánh giá kết quả đã đạt được.
Có thế qua lao động tìm tòi, sáng tạo ấy, không những tư duy của họ được
phát triển mà họ còn có thêm lòng tự tin, sự hứng thú, ham muốn tìm tòi sáng
tạo. Giáo viên lúc này đóng vai trò hướng dẫn quá trình lao động ấy.
1.2 Phép biện chứng duy vật

22


1.2.1 Vai trò của phép biện chứng duy vật trong triết học
Định nghĩa khái quát về phép biện chứng duy vật, Ph. Ăngghen cho
rằng : “ Phép biện chứng …là môn khoa học về những quy luật phổ biến của
sự vận động và phát triển của tự nhiên, của xã hội loài người và của tư duy”.
Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lê Nin còn có một số định
nghĩa khác về phép biện chứng duy vật. Khi nhấn mạnh vai trò của nguyên lý
về mối liên hệ phổ biến, Ph. Ăngghen đã định nghĩa : “ Phép biện chứng là
khoa học về sự liên hệ phổ biến ” ; còn khi nhấn mạnh vai trò của nguyên lý
về sự phát triển (trong đó có bao hàm học thuyết về sự phát triển của nhận
thức) trong phép biện chứng mà C.Mác đã kế thừa từ triết học của Hêghen,

Hai là, trong phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác – Lênin có
sự thống nhất giữa nội dung thế giới quan (duy vật biện chứng) và phương
pháp luận (biện chứng duy vật), do đó nó không dừng lại ở sự giải thích thế
giới mà còn là công cụ để nhận thức thế giới và cải tạo thế giới. Mỗi nguyên
lý, quy luật trong phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác – Lênin không
chỉ là sự giải thích đúng đắn về tính biện chứng của thế giới mà còn là
phương pháp luận khoa học của việc nhận thức và cải tạo thế giới. Trên cơ sở
khái quát các mối liên hệ phổ biến và sự phát triển, những quy luật phổ biến
của các quá trình vận động, phát triển của tất thảy mọi sự vật, hiện tượng
trong tự nhiên, xã hội và tư duy, phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác
– Lê nin cung cấp những nguyên tắc phương pháp luận chung nhất cho quá
trình nhận thức thế giới và cải tạo thế giới, đó không chỉ là nguyên tắc
phương pháp luận khách quan mà còn là phương pháp luận toàn diện, phát
triển, lịch sử - cụ thể, phương pháp luận phân tích mâu thuẫn nhằm tìm ra
nguồn gốc, động lực cơ bản của các quá trình vận động, phát triển,…Với tư
cách đó, phép biện chứng duy vật chính là công cụ khoa học vĩ đại để giai cấp
cách mạng nhận thức và cải tạo thế giới.
Với những đặc trưng cơ bản đó mà phép biện chứng duy vật giữ vai trò
là một nội dung đặc biệt quan trọng trong thế giới quan và phương pháp luận
triết học của chủ nghĩa Mác – Lênin, tạo nên tính khoa học và cách mạng của
chủ nghĩa Mac – Lênin, đồng thời nó cũng là thế giới quan và phương pháp
luận chung nhất của hoạt động sáng tạo trong các lĩnh vực nghiên cứu khoa
học.
1.2.2 Một số tri thức của phép biện chứng duy vật
24


1.2.2.1. Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến
* Nội dung của nguyên lý :
Mọi sự vật hiện tượng của thế giới đều nằm trong mối liên hệ phổ biến


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status