SKKN sử dụng phương pháp dạy học vấn đáp, đàm thoại để tạo bầu không khí văn chương trong giờ dạy học văn - Pdf 40

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

ĐỀ TÀI:
"SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP: DẠY HỌC VẤN ĐÁP, ĐÀM THOẠI
ĐỂ TẠO BẦU KHÔNG KHÍ VĂN CHƯƠNG TRONG GIỜ DẠY –
HỌC VĂN"

1


A. ĐẶT VẤN ĐỀ
I. Lí do chọn đề tài
1.1. Lưu Hiệp trong “Văn tâm điêu long” đã từng nói: “Tri âm thực khó thay. Âm đã khó
tri mà người tri cũng khó gặp, họ hoàn gặp được nghìn năm có một”. Điều ấy có nghĩa là:
Người sáng tác nào, dù tâm hồn có bay bổng đến đâu nhưng khi sáng tác cũng muốn tìm
đến những bạn đọc tri âm, tri kỉ, những người muốn cùng tác giả đi đến cùng những miền
sâu kín nhất của cuộc đời, của trái tim. Bởi vì: Văn chương bao giờ cũng là sản phẩm của
một tâm hồn, một tấc lòng nghệ sĩ rung động trước cuộc đời.
Và bạn đọc cũng vậy, đọc văn chương họ cũng muốn tìm nơi để gửi gắm tấc lòng,
để thể nghiệm, nếm trải. Song không phải bao giờ tác giả và bạn đọc cũng gặp nhau trong
văn bản. Muốn bạn đọc và tác giả cùng gặp nhau trong văn bản, phải tùy thuộc vào nhiều
yếu tố: trình độ văn hóa, vốn sống, trình độ nhận thức, thẩm mĩ… Để làm được điều này,
nhà trường chính là môi trường văn hóa thuận lợi nhất. Ở đó, những tác giả nào mà tác
phẩm của họ được chọn vào chương trình sách giáo khoa để dạy và học, thì họ sẽ tìm
được lớp bạn đọc lí tưởng (giáo viên văn và học sinh) .
1.2. Vì vậy, nhiệm vụ vô cùng quan trọng của người giáo viên dạy văn trong trường phổ
thông là phải hướng dẫn học sinh đi khám phá cái đẹp đang tìm ẩn đằng sau câu chữ.
1.3. Năm học 2006 -2007, Bộ giáo dục và Đào Tạo đã quyết định thực đổi chương trình
sách giáo khoa mới với mục tiêu hàng đầu là nâng cao tính độc lập, sáng tạo của học
sinh, coi học sinh là chủ thể của quá trình dạy học. Trong chương trình giáo dục phổ
thông ban hành kèm theo quyết định số 16/2006/QĐ – BGDĐT ngày 5/6/2006 của Bộ

dục 2007 ).
2. Tài liệu bồi dưỡng Giáo viên môn Ngữ văn ( Nhà xuất bản Giáo dục 2007 ).
3. Phương pháp tiếp nhận tác phẩm văn học ở trường THPT ( Nguyễn Thị Thanh Hương
– Nhà xuất bản Giáo dục 1998 ).
B – GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. Cơ sở lí luận của vấn đề
1.1 Theo quan điểm truyền thống, khi nói đến nhà trường, người ta chỉ chú trọng đến vai
trò của người thầy. Thầy giáo là tất cả, là nguồn kiến thức. Do vậy người Giáo viên
thường che lấp tài liệu học tập, người học sinh trở thành đối tượng, thành khách thể của
quá trình nhận thức, thành đối tượng, thành “bình chứa” để giáo viên rót kiến thức. Vì
thế, tài liệu học tập dường như không được chú ý. Theo quan niệm này thì phương pháp
dạy học theo kiểu thông tin – tái hiện và diễn giải là phương pháp chủ đạo. Trên lớp,
Thầy trở thành người diễn thuyết, người thuyết giảng. Và như thê, người học trò được
đào tạo trở nên ít sáng tạo, trở nên thụ động trong công việc bởi từ trong nhà trường các
em đã có thói quen học vẹt, học theo điệu sáo.
1.2 Trong những năm gần đây, do yêu cầu mới mà xã hội đặt ra cho nhà trường,
buộc những người làm công tác nghiên cứu lí luận dạy – học phải suy nghĩ, tìm tòi những
con đường, cách thức đổi mới phương pháp dạy – học, buộc người Giáo viên phải thay
đổi cách dạy. Trong đổi mới phương pháp dạy – học đó, người Giáo viên phải coi học
sinh là trung tâm. Và phương pháp dạy học vấn đáp, đàm thoại là phương pháp tối ưu để
3


phát huy vai trò của học sinh trong giờ văn. Vì có phát huy được vai trò tích cực của học
sinh thì mới tạo được bầu không khí văn chương sôi nổi trong giờ dạy – học văn.
1.3 Vấn đáp, đàm thoại là phương pháp trong đó giáo viên đặt ra những câu hỏi để học
sinh trả lời, hoặc có thể tranh luận với nhau và với cả Giáo viên, qua đó Học sinh lĩnh hội
được nội dung bài học.
Mục đích của phương pháp này là nâng cao chất lượng của giờ dạy – học bằng cách
tăng cường hình thức hỏi đáp, đàm thoại giữa Giáo viên và Học sinh, rèn cho học sinh


2.2 Trong những năm trở lại đây, theo xu thế của xã hội, đại bộ phận học sinh không học
khối C, chỉ chạy theo những môn khoa học tự nhiên để sau này dễ chọn ngành, trường,
công ăn việc làm. Vì vậy, học sinh trong trường Phổ thông gần như không chú ý học môn
Văn, chỉ coi môn Văn như là một môn điều kiện.
Từ những thực trạng trên, khiến cho học sinh chán những giờ Văn dẫn đến những
giờ dạy – học Văn tẻ nhạt, nhàm chán, trôi qua một cách vô vị. Từ chỗ môn Văn là một
môn nghệ thuật, hướng học sinh tới “chân, thiện, mĩ”, đã trở thành một môn học bị coi
nhẹ trong nhà trường. Đây là những lí do khiến cho giờ dạy học Văn thực sự mất chất
văn, không còn bầu không khí văn chương như thưở xưa nữa.
Để có một giờ dạy – học Văn tốt, người Giáo viên Văn ngày nay cần phải luôn luôn ý
thức được vai trò, trách nhiệm và đặc thù bộ môn. Luôn luôn xây dựng được một kế
hoạch day – học đúng đắn, trong đó phương pháp “Sử dụng phương pháp dạy học vấn
đáp, đàm thoại để tạo bầu không khí văn chương trong giờ dạy – học văn” là vô cùng
quan trọng.
III. Giải pháp và tổ chức thực hiện:
3.1. Giải pháp
- Xuất phát từ cơ sở lí luận và thực trạng của vấn đề về dạy – học Văn trong nhà trường
như đã trình bày ở trên. Bản thân tôi đã mạnh dạn áp dụng phương pháp “Sử dụng
phương pháp dạy học vấn đáp, đàm thoại để tạo bầu không khí văn chương trong giờ
dạy – học văn” vào các giờ Văn ở trường THPT Hoằng Hóa 4. Để có được những giờ
dạy – học Văn có hiệu quả, tôi thường phải đầu tư thời gian, công sức cho việc tìm hiểu,
xây dựng hệ thống câu hỏi đàm thoại.
- Thường tôi phải chuẩn bị hệ thống câu hỏi cho một bài giảng trước đó cả một tuần
(thông qua việc: đọc sách, thu thập tư liệu trên mạng, Internet, tiếp thu từ đồng nghiệp,
kết hợp với tư duy khoa học của bản thân).
- Về phía học sinh: để hướng dẫn học sinh chuẩn bị soạn bài ở nhà, ngoài hệ thống câu
hỏi trong Sách giáo khoa, tôi thường hướng dẫn các em đọc tài liệu tham khảo mà trong
các tài liệu đó có đề cập đến nội dung các câu hỏi tôi sẽ sử dụng trong bài giảng của
mình. Tôi tuyệt đối không tung hệ thống câu hỏi trước để học sinh chuẩn bị, vì như thế

tạp, đến tình huống có vấn đề, tạo sự bùng nổ để đốt lên không khí văn chương
trong giờ học. Những câu hỏi đó là:
Câu hỏi 1: Phát hiện thứ nhất của người nghệ sĩ nhiếp ảnh tại vùng biển nọ là “một cảnh
đắt trời cho”. Anh (chị) hiểu một “cảnh đắt trời cho” ở đây nghĩa là thế nào? Và vì sao
người nghệ sĩ lại gọi cái cảnh tượng ấy như vậy?
Câu hỏi 2: Cảm nhận của người nghệ sĩ khi được chiêm ngưỡng “bức ảnh nghệ thuật
của tạo hóa” là thế nào? Vì sao trong lúc cảm nhận vẻ đẹp của bức tranh, anh lại nghĩ
đến lời đúc kết của một ai đó “bản thân cái đẹp chính là đạo đức” ?
Câu hỏi 3: “Bản thân cái đẹp chính là đạo đức”, suy nghĩ của nghệ sĩ Phùng giúp anh
(chị) liên tưởng tới quan niệm nghệ thuật của những ai trong trào lưu Văn học lãng mạn
Việt Nam 1930 – 1945.
6


Câu hỏi 4: Tuy nhiên ngay khi tâm hồn đang bay bổng trong những xúc cảm thẩm mĩ,
đang tận hưởng cái khoảnh khắc trong ngần của tâm hồn thì người nghệ sĩ nhiếp ảnh đã
kinh ngạc phát hiện ra điều gì tiếp theo ngay sau bức tranh? Vì sao anh lại kinh ngạc đến
mức như vậy ?
Câu hỏi 5: Qua hai phát hiện của nghệ sĩ Phùng, Nguyễn Minh Châu muốn người đọc
nhận thức gì về cuộc đời?
Câu hỏi 6: (Câu hỏi nêu tình huống có vấn đề) Giả sử có ai đó muốn can thiệp
vào tác phẩm của nhà văn bằng cách đảo vị trí hai phát hiện này, tức là để cho người
nghệ sĩ chứng kiến bi kịch của gia đình hàng chài hôm trước rồi sáng hôm sau mới phát
hiện vẻ đpẹ của cảnh biển mờ sương. theo anh (chị), điều đó có được không ? Vì sao ?
Từ đó anh (chị) hãy đọc ra ý tưởng nghệ thuật của nhà văn về cách nhìn nhận và đánh
giá con người vào mọi sự vật, hiện tượng trong đời sống.
Khi dạy sang phần: Câu chuyện của người đàn bà ở tòa án huyện.
Giáo viên sử dụng hệ thống câu hỏi sau:
Câu hỏi 1: Trước hết, anh (chị) hãy tìm hiểu xem vì sao người đàn bà hàng chài lại xuất
hiện ở Tòa án huyện?

Câu hỏi 2: Vậy Nguyễn Minh Châu muốn phát biểu điều gì giữa mối quan hệ về nghệ
thuật và cuộc đời qua bức ảnh ấy?
Phần tổng kết, Giáo viên sử dụng những câu hỏi sau:
Câu hỏi 1: Trong phần Tiểu dẫn của bài học, tác giả Sách giáo khoa giới thiệu: Truyện
ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” kể lại chuyến đi thực tế của một nghệ sĩ nhiếp ảnh và
những chiêm nghiệm sâu sắc của ông về nghệ thuật và cuộc đời. Qua bài học, anh (chị)
đã hiểu điều đó như thế nào?
Câu hỏi 2: So với một số tác phẩm của các tác giả khác viết trong 2 cuộc kháng chiến
chống Thực dân Pháp và Đế quốc Mĩ (Vợ chồng A Phủ, Rừng xà nu… ), “Chiếc thuyền
ngoài xa” đã cho thấy những đổi mới nào của văn học Việt Nam sau 1975 (về đề tài, bút
pháp, cái nhìn nghệ thuật về con người…” ?
2. Bài giảng “Việt Bắc” (Tố Hữu )
Hệ thống câu hỏi để đàm thoại trong giờ dạy – học của bài này như sau:
Câu hỏi 1. Đọc lại phần Tiểu dẫn và cho biết bài thơ được sáng tác trong hoàn cảnh nào
? Tâm trạng bao trùm trong đoạn trích bài thơ là gì ?
Câu hỏi 2. Nhận xét về cách kết cấu của bài thơ (chú ý cảnh chia tay, lời hỏi và lời đáp).
Cách kết cấu ấy có gì gần gũi với ca dao, dân ca và có tác dụng như thế nào đối với việc
thể hiện tư tưởng, tình cảm trong bài thơ ?
Câu hỏi 3. Nhận xét về cách sử dụng hai từ "mình" và "ta" trong bài thơ ("mình", "ta" là
ai ?). Sự thống nhất và chuyển hoá của hai "nhân vật" ấy. "Mình", "ta" trong bài Việt
Bắc giống và khác như thế nào với "mình", "ta" trong ca dao ?
Câu hỏi 4. Trong đoạn thơ từ dòng 25 đến dòng 52, những hình ảnh nào của thiên nhiên
và con người Việt Bắc đã được tái hiện ? Trong không gian và thời gian nào ? Giữa cảnh
và người có sự gắn bó như thế nào ? Nêu cảm nhận của anh (chị) về tình cảm của người
8


cán bộ miền xuôi với Việt Bắc qua những hình ảnh ấy. Nhận xét về bút pháp miêu tả và
giọng điệu của đoạn thơ này?
Câu hỏi 5. Trong đoạn thơ từ dòng 53 đến dòng 88, khí thế hào hùng của cuộc kháng


9


C. KIỂM NGHIỆM
Trong 3 năm vừa qua, trong quá trình giảng dạy, bản thân tôi đã có thử nghiệm đối với
biện pháp dạy – học tích cực: “dạy học vấn đáp, đàm thoại để tạo bầu không khí văn
chương trong giờ dạy – học văn” như đã trình bày ở trên. Thực tế đã chứng minh, biện
pháp trên đưa lại hiệu quả khá khả quan. Số lượng học sinh tích cực tham gia phát biểu
trong các buổi học tăng lên rõ rệt, không khí của các giờ học Văn không còn nặng nề,
căng thẳng như trước, mà rất sôi nổi. Các em đua nhau để trình bày các suy nghĩ của
mình, đôi khi mạnh dạn trình bày cả những suy nghĩ rất mới mẻ chưa từng có trong tài
liệu. Điều đó chứng tỏ đây là một phương pháp ưu việt.
Cụ thể, trong năm học vừa qua 2012- 2013 vừa qua, tôi áp dụng phương pháp này vào
lớp cơ bản tự nhiên, nhưng các em không còn chán học văn như hồi đầu lớp 10 nữa, mà
rất sôi nổi, tích cực, thậm chí có những em tâm sự rằng: “Chúng em chỉ mong đến giờ
học Văn để được sống đúng là mình”.
Và kết quả cuối năm học: Ở 2 lớp ban cơ bản tự nhiên này tỉ lệ học sinh đtạ điểm khá giỏi
chiếm 80%.
Sáng kiến kinh nghiệm này tôi đã mạnh dạn đề xuất với tổ chuyên môn áp dụng vào năm
học tới. Hi vọng rằng các bạn đồng nghiệp trong tổ Văn trường Hoằng Hóa 4 sẽ gặt hái
được những thành công như tôi.

10


A.

PHẦN KẾT LUẬN


chép nội dung của người khác.
Người viết

Nguyễn Thị Huệ

12




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status