PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
Bộ môn Hoá học là môn khoa học tự nhiên có vai trò quan trọng trong
chương trình cấp trung học phổ thông. Là bộ môn có nhiều ứng dụng và liên
hệ thực tế. Giúp học sinh có thêm kiến thức bổ ích, những hiểu biết sâu và
niềm đam mê yêu thích bộ môn là điều mong muốn không chỉ riêng tôi mà là
mong muốn của tất các giáo viên dạy môn Hóa học . Vì vậy giáo viên bộ môn
hoá học cần tìm ra phương pháp dạy phù hợp với đối tượng học sinh nhằm
hình thành ở các em một thói quen học tập và làm việc khoa học làm nền tảng
để các em phát triển khả năng nhận thức và năng lực hành động. Trong các
phương pháp dạy đó, riêng tôi nhận thấy rằng việc phát hiện ra sai sót và kịp
thời sửa sai cho học sinh trong quá trình học là điều rất cần thiết, từ đó rèn
luyện cho các em những đức tính như cẩn thận, kiên trì, trung thực, tỉ mỉ,
chính xác, yêu thích khoa học. Hóa học là môn khoa học thực nghiệm, do đó
dạy và học hóa học không chỉ dừng lại ở việc truyền đạt và lĩnh hội kiến thức
khoa học mà còn phải nâng cao tính thực tiễn của môn học: rèn luyện các kỹ
năng, kỹ xảo thực hành, nâng cao khả năng vận dụng kiến thức hóa học vào thực
tiễn sản xuất.
Trong những năm gần đây, các kì thi quan trọng được thi bằng hình thức
trắc nghiệm, do đó đa số học sinh THPT hiện nay gặp rất nhiều khó khăn trong
việc phân loại và tìm ra phương pháp giải phù hợp, nhanh tìm ra đáp số.
Một trong những dạng bài tập khó, học sinh thường mắc sai lầm trong
quá trình giải nhưng lại ít có tài liệu viết về phương pháp giải, đó là bài tập điện
phân và đặc biệt là dạng bài tập về điện phân dung dịch.
Là một giáo viên đang trực tiếp giảng dạy môn Hóa tại trường THPT
Yên Định II, rút ra từ thực tiễn giảng dạy tôi nhận thấy có một số sai lầm thường
mắc phải khi các em làm bài tập điện phân. Vì vậy để giúp các em học sinh có
thể giải đúng dạng bài tập này, tôi đã đi từ những sai lầm của các em.
Trên đây là lí do tôi chọn đề tài “ Một số sai lầm học sinh thường gặp
khi giải bài tập điện phân” làm sáng kiến kinh nghiệm cho mình. Với hy vọng
đề tài này sẽ là một tài liệu tham khảo phục vụ cho việc học tập của các em học
sinh 12 và cho công tác giảng dạy của các bạn đồng nghiệp.
nhanh bài tập điện phân .
- Học sinh xác định nhầm lẫn trường hợp H2O bắt đầu điện phân ở các điện
cực.
- Nhầm lẫn thứ tự các bán phản ứng xảy ra ở các điện cực.
- Không để ý đến những phản ứng phụ có thể xảy ra giữa các sản phẩm trong
quá trình điện phân.
- Nhầm lẫn khi viết phương trình điện phân với điện cực anot hòa tan.
- Nhầm lẫn khi tính khối lượng chất tạo thành ở điện cực.
Với những sai lầm đó dẫn đến các em sẽ giải sai hoặc không giải được các
bài tập điện phân. Từ đó các em cho rằng bài tập điện phân rất khó, dẫn đến tình
trạng các em ngại và sợ khi gặp những bài tập điện phân. Tôi thiết nghĩ việc tìm
ra những hạn chế và khắc phục hạn chế trong qúa trình học của học sinh là điều
rất thiết giúp các em học tập tốt hơn các môn học nói chung và môn Hóa học nói
riêng.
Từ những thực trạng trên học kì I năm học 2012-2013 tôi đã thực hiện đề
tài trên lớp 12B10 . Song song với việc thực hiện đề tài ở 12B10 tôi đã dùng lớp
12B11 làm lớp đối chứng đã cho kết quả thực sự khả quan.
2. Phƣơng pháp nghiên cứu:
2.1. Đối với giáo viên:
Phải hệ thống hóa kiến thức trọng tâm một cách logic và khái quát nhất về
phần điện phân.
Tham khảo các tài liệu có liên quan đến điện phân.
Đưa ra những ví dụ cụ thể để chỉ ra những sai lầm học sinh thường gặp.
2
Nắm vững các phương pháp giải bài tập và xây dựng hệ thống bài tập phải thật
sự đa dạng, nhưng vẫn đảm bảo trọng tâm của chương trình phù hợp với đối
tượng học sinh.
Luôn quan tâm và có biện pháp giúp đỡ các em học sinh có học lực yếu, kém.
2C + O2 → 2CO
C + O2 → CO2
Sau một thời gian điện phân cần bổ sung lượng điện cực dương.
b. Điện phân hiđroxit nóng chảy: MOH để điều chế M ( kim loại kiềm).
- Sơ đồ điện phân:
MOH
Nóng chảy
→
M+ + OH-
Catot (-)
Anot (+)
2M+ + 2e → 2M
+ PTĐP : 2MOH
2OH- → 1/2O2↑ + H2O + 2e
dpnc
2M + 1/2O2↑ + H2O.
3
c. Điện phân muối halogenua nóng chảy: RX để điều chế R ( R kim loại kiềm,
Nóng chảy
Catot (-)
M2+ + 2e → M
→ M2+ + 2XAnot (+)
2X- → X2↑ + 2e
dpnc
+ PTĐP : MX2
M + X2↑ .
1.2. Điện phân dung dịch:
a. Ở catot (cực âm: - ) - xảy ra quá trình khử:
- Các ion kim loại kiềm, ion kim loại kiềm thổ và ion Nhôm không bị điện phân
vì chúng có tính oxi hóa yếu hơn H2O; H2O bị điện phân theo phương trình:
2H2O + 2e → H2 + 2OH–.
- Các cation kim loại đứng sau nhôm, càng đứng cuối trong dãy thế điện hóa thì
càng được ưu tiên khử theo phương trình: Mn+ + ne → M (ion có tính oxi hóa
mạnh hơn bị khử trước).
Sau khi hết các ion đó, nếu tiếp tục điện phân thì H2O sẽ điện phân theo phương
trình: 2H2O + 2e → H2 + 2OH–.
- Riêng hiđro, tuy đứng sau Ni, Fe, … nhưng ion H+ (H2O) khó bị khử hơn Ni2+,
Fe3+, Fe2+ ….
b. Ở anot (cực dương): ( + ) - xảy ra quá trình oxi hóa:
* Với anot hoạt động:
- Dễ bị oxi hóa nhất là Zn, Fe, Ni, Cu,… làm anot. Khi điện phân các kim loại
này (trừ Pt) bị oxi hóa tan vào dung dịch: M(anot) → Mn+ + ne ( dung dịch)
A - Khối lượng nguyên tử (đối với kim loại) hoặc khối lượng phân tử (đối
với chất khí)
n - số electron trao đổi
I - Cường độ dòng điện ( A)
t - Thời gian điện phân (s)
F - Hằng số Faraday
F= 96500C
- Số mol e trao đổi ở mỗi điện cực : n
I.t
.
F
2. MỘT SỐ SAI LẦM CỦA HỌC SINH KHI GIẢI BÀI TẬP ĐIỆN
PHÂN, NGUYÊN NHÂN VÀ CÁCH KHẮC PHỤC:
2.1. Sai lầm khi xác định điện cực và các quá trình xảy ra ở điện cực:
Ví dụ 1: Viết sơ đồ và phương trình điện phân muối NaCl, MgCl2 nóng chảy để
điều chế các kim loại tương ứng?
* Lời giải sai lầm: Học sinh cho rằng: ion (-) nằm ở điện cực (-) còn ion dương
(+) nằm ở điện cực (+) do vậy sẽ có cách viết:
- Sơ đồ điện phân:
NaCl
→
Na+ + Cl-
dpnc
* Nguyên nhân dẫn đến sai lầm:
Đây là câu hỏi dễ, đối với học sinh khá, giỏi ít bị mắc sai lầm này, bị mắc
chỉ do các em chủ quan trong khi làm. Việc nhầm lẫm này chủ yếu xảy ra đối
với các em học sinh có lực học trung bình và yếu do hạn chế về mặt tư duy,
cũng như trí nhớ.
* Cách khắc phục:
Giáo viên cần nhắc lại kiến thức điện phân nóng chảy, đồng thời cho các em
luyện tập nhiều thông qua bài tập tương tự.
- Sơ đồ điện phân nóng chảy muối kim loại kiềm.
RX
R+ + X-
→
Catot (-)
Anot (+)
2R+ + 2e → 2M
2X- → X2↑ + 2e
+ PTĐP : 2RX
2R + X2↑ .
+ PTĐP :
2NaCl
- Sơ đồ điện phân:
MgCl2
Catot (-)
2Cl- → Cl2↑ + 2e
2Na + Cl2↑ .
→ Mg2+ + 2ClAnot (+)
Mg2+ + 2e → Mg
2Cl- → Cl2↑ + 2e
dpnc
+ PTĐP :
MgCl2
Mg + Cl2↑ .
* Bài tập vận dụng:
6
Viết PTHH xảy ra khi điện phân nóng chảy các chất: KCl, CaCl2 và các
dung dịch : CaCl2 , MgCl2 , BaCl2 , AlCl3.
Lưu ý: Catot (-) có mặt ion dương: ở đây xảy ra quá trình khử
Aanot (+) có mặt ion âm: ở đây xảy ra quá trình oxi hóa.
không làm được bài này, còn với học sinh có lực học khá, giỏi biết vận dụng hệ
quả của định luật Faraday nhưng lại sai lầm khi xác định : Fe3+ + 3e → Fe. Do
các em quên thứ tự dãy điện hóa hoặc nhầm lẫn do chủ quan.
* Cách khắc phục:
Giáo viên cần nhấn mạnh quá trình khử : Fe3+ + 1e → Fe2+. Đồng thời
cung cấp lại kiến thức cần nhớ:
Kiến thức cần nhớ:
7
Các cation kim loại đứng sau nhôm, càng đứng cuối trong dãy thế điện
hóa thì càng được ưu tiên khử theo phương trình: Mn+ + ne → M (ion có tính
oxi hóa mạnh hơn bị khử trước).
Sau khi hết các ion đó, nếu tiếp tục điện phân thì H2O sẽ điện phân theo phương
trình: 2H2O + 2e → H2 + 2OH–.
* Lời giải đúng:
Theo : n Fe3+ = 0,1 mol ; n Fe2+ = 0,2 mol ; n Cu2+ = 0,1 mol ; n HCl = 0,2 mol
Sắp xếp tính oxi hóa của các ion theo chiều tăng dần :
→ Thứ tự bị điện phân ở catot (-) :
Fe3+ + 1e → Fe2+ (1)
0,1 → 0,1→ 0,1
Cu2+ + 2e → Cu (2)
0,1 → 0,2→ 0,1
2H+ + 2e → H2 (3)
0,2→ 0,2
Fe2+ + 2e → Fe (4)
Theo công thức Faraday số mol (e) trao đổi ở hai điện cực :
n = It/96500 = 5.9650/96500 = 0,5 mol
→ Chọn đáp án A .
* Nguyên nhân dẫn đến sai lầm:
Khả năng tư duy và những hiểu biết về quá trình điện phân xảy ra ở các điện
cực còn hạn chế. Học sinh cho rằng quá trình điện phân xảy ra lần lượt, hết
CuSO4 mới đến HCl nên đã xác định sai chất khí sinh ra và thể tích của khí.
* Cách khắc phục:
Giáo viên lưu ý học sinh quá trình điện phân được diễn ra đồng thời.
Điện cực (-) là Cu2+ điện phân còn ở điện cực (+) là ion Cl- điện phân.
* Lời giải đúng:
CuSO4 → Cu2+ + SO420,1
0,1
+
HCl
→ H + Cl0,02
0,02
Catot(-)
Anot (+)
2+
2Cu + 2e → Cu
SO4 không bị điện phân .
2Cl- → Cl2 + 2e
0,1 ← 0,05
0,02→ 0,01
0,02
2H2O → 4H++ O2 + 4e
0,02←0,08
Khi ở K(-) thoát ra 3,2 gam Cu = 0,05 mol → n(e)Cu2+ nhận là 0,1 mol.
Cl- nhường 0,02 mol e → 0,08 mol e còn lại là H2O cho
→ Từ sơ đồ điện phân khí thoát ra tại anot là : Cl2 0,01mol ; O2 0,02 mol
→ Tổng thể tích : 0,03.22,4 = 0,672 lít
2H2O + 2e → 2OH-+ H2
→ Từ sơ đồ điện phân thấy khí thoát ra tại anot là :H2 và Cl2
→ Chọn đáp án D.
* Nguyên nhân dẫn đến sai lầm:
Khả năng tư duy và những hiểu biết về quá trình điện phân xảy ra ở các điện
cực còn hạn chế. Học sinh cho rằng quá trình điện phân xảy ra lần lượt, hết
CuSO4 mới đến NaCl nên đã xác định sai chất khí sinh ra và thể tích của khí.
* Cách khắc phục:
Giáo viên lưu ý học sinh quá trình điện phân được diễn ra đồng thời. Điện
cực (-) là Cu2+ điện phân còn ở điện cực (+) là ion Cl- điện phân.
* Lời giải đúng:
CuSO4 → Cu2+ + SO42x
x
NaCl
→ Na+ + Clx
x
Catot(-)
Anot (+)
2+
Cu + 2e → Cu
2Cl → Cl2 + 2e
x → 2x
x
x
2H2O → 4H++ O2 + 4e
x/4←x
2H2O
(1)
đpdd
Ni + 1/2O2 + HNO3
O2 + 2H2
(3)
(4)
3. A là dung dịch hỗn hợp gồm KBr + Ni(NO3)2 + NaCl + HCl có tỉ lệ mol
tương ứng là 1:1:1:2. Điện phân dung dịch A ( điện cực trơ, có màng ngăn) đến
khi nước bắt đầu được điện phân trên cả 2 điện cực thì ngừng. Viết các phương
trình phản ứng theo quá trình điện phân. Tính pH dung dịch sau điện phân?
Đáp án: pH = 7
2.3. Sai lầm khi tính lƣợng chất tạo trên điện cực:
Ví dụ 5:
Điện phân 100 ml dung dịch CuCl2 2 M và AgNO3 2M với điện cực trơ có
màng ngăn xốp cường độ dòng điện là 5A trong 2 giờ 40 phút 50 giây . Tính
khối lượng kim loại thu được ở catot?
* Lời giải sai lầm 1: - Sơ đồ điện phân:
→ Cu2+ + 2Cl-
CuCl2
→ Cu
→ Cu2+ + 2Cl→ Ag+ +
NO3Anot (+)
2Cl- → Cl2 + 2e
4H2O → 4H+ + O2 + 4e
11
0,2 → 0,4 → 0,2
Quá trình điện phân hết nên mcatot = 0,2.108 + 0,2.64 = 34,4g
* Nguyên nhân dẫn đến sai lầm:
Học sinh chủ quan, nóng vội khi giải bài tập này. Một số suy nghĩ rằng đã
là điện phân thì phải áp dụng định luật Faraday và thời gian điện phân bài cho là
để tiến hành điện phân cả 2 kim loại như nhau.
Số khác cho rằng có cố mol kim loại là có khối lượng rồi, áp dụng công
thức Faraday chỉ khi không cho số mol.
* Cách khắc phục:
Chỉnh sửa những suy nghĩ lệch lạc của học sinh bằng cách dùng sơ đồ
điện phân thực tế để giải thích. Giáo viên cần hướng dẫn học sinh áp dụng hệ
quả của định luật Faraday để tính nhanh, đồng thời lại chính xác.
* Lời giải đúng:
Theo : n Cu2+ = 0,2 mol; n AgNO3 = 0,2 mol
→ Thứ tự bị điện phân ở catot (-):
CuCl2
AgNO3
0,005→ 0,0025
0,005 →
0,005
Áp dụng công thức Faraday :
12
Thời gian điện phân được H2 là: t2 =
m.n.F
A.I
=
0,0025.2.96500
2. 1,93 = 125 s
Tổng thời gian điện phân là: t = 125s.
* Nguyên nhân dẫn đến sai lầm:
Học sinh sai lầm khi căn cứ vào số mol chất tham gia điện phân mà không
dựa vào giá trị pH của dung dịch sau điện phân.
* Cách khắc phục:
GV lưu ý để làm được bài toán này, cần xác định nhanh số mol e trao đổi
để so sánh với Cl- trong quá trình điện phân, từ đó xác định xem tính thời gian
dựa vào giá trị nào cho phù hợp.
* Lời giải đúng: Vì pH = 12 → Môi trường kiềm → [H+] = 10-12
→ [OH-] = 0,01 → nOH- = 0,001 mol
NaCl → Na+ + ClCatot (-)
Anot (+)
dung dịch thu được?
* Lời giải có sai lầm: Điện phân dung dịch hỗn hợp gồm :NaCl, CuSO4
NaCl → Na+ + ClCatot (-)
Anot (+)
+
Na không bị điện phân
2Cl → Cl2 + 2e
2H2O + 2e → H2 + 2OH
CuSO4 → Cu2+ + SO42Catot(-)
Anot (+)
13
Cu2+ + 2e → Cu
SO42- không bị điện phân
2H2O → 4H+ + O2 + 4e
Kim loại thu được ở K(-) là Cu có nCu = 0,02 mol → ne nhường = 0,04 mol
Khí thu được ở A(+) là Cl2 có nCl2 = 0,015 mol → ne nhận = 0,03 mol
Nhận thấy số mol e nhường không bằng số mol e nhận → ở A(+) còn sự điện
phân tiếp của nước là: 2H2O → 4H+ + O2 + 4e
0,01 ← 0,01
+
→ [H ] = 0,01/2 = 0,005 → pH = -lg0,005= 2,3
* Nguyên nhân dẫn đến sai lầm:
Xác định có sự điện phân của H2O nhưng lại xác định sai về số mol e trao
đổi do không xác định được thời điểm nước bắt đầu điện phân ở điện cực.
* Cách khắc phục:
GV lưu ý cho học sinh về thể tích khí sinh ra trong đó có cả khí oxi do
nước điện phân.Giáo viên củng cố lại kiến thức điện phân dung dịch của các ion,
X. Điện phân X với 2 điện cực trơ bằng dòng điện cường độ 9,65A. Sau 1000
giây thì kết thúc điện phân và khi đó trên catot bắt đầu thoát ra bọt khí. Tính giá
trị của a?
Đáp án: 0,0125.
14
2. Điện phân (điện cực trơ) dung dịch X chứa 0,2 mol CuSO4 và 0,12 mol NaCl
bằng dòng điện có cường độ 2A. Thể tích khí (đktc) thoát ra ở anot sau 9650 giây
điện phân là
A. 2,240 lít.
B. 2,912 lít.
√C. 1,792 lít.
D. 1,344 lít
2.5. Không để ý đến những phản ứng phụ có thể xảy ra giữa các sản phẩm
trong quá trình điện phân:
Ví dụ 8: Tiến hành điện phân dung dịch NaCl ( điện cực trơ, không màng ngăn)
sau thời gian. Hãy xác định các chất tan trong dung dịch sau điện phân?
* Lời giải có sai lầm: - Sơ đồ điện phân:
NaCl → Na+ + ClCatot (-)
Anot (+)
+
Na không bị điện phân
2H2O + 2e → H2 + 2OH2Cl- → Cl2 + 2e
+ Phương trình điện phân: đpdd
NaCl + 2H2O
H2 + Cl2 + NaOH
Vậy dung dịch sau điện phân chỉ chứa NaOH
* Nguyên nhân dẫn đến sai lầm:
đpdd
2H2O → 4H+ + O2 + 4e
2Cu + O2 + 2H2SO4
2CuSO4 + 2H2O
* Nguyên nhân dẫn đến sai lầm:
Ít được tiếp xúc với các dạng viết sơ đồ điện phân điện cực anot hòa tan,
mà chỉ là điện cực trơ. Do đó học sinh nhầm lẫn theo thói quen là rất dễ.
* Cách khắc phục:
Học sinh viết theo thói quen sự điện phân của dung dịch CuSO 4 mà quên
không để ý đến sự điện phân dùng điện cực anot hòa tan. Giáo viên cần nhấn
mạnh và cho thêm ví dụ để học sinh dễ nhớ. Cần đặc biệt lưu ý học sinh ở điểm
này.
* Lời giải đúng: - Sơ đồ điện phân:
CuSO4 → Cu2+ + SO42Catot(-)
Anot (+)
2+
2Cu + 2e → Cu
SO4 không bị điện phân
Cu → Cu2+ + 2e
Cu2+ + Cu đpdd Cu + Cu2+
A(+)
K (-)
*Bài tập vận dụng: Viết sơ đồ và phương trình điện phân dung dịch Cu(NO3)2 (
với anot Cu- anot tan)?
đpdd
Đáp án: Cu2+ + Cu
2H2O + 2e → H2 + 2OH
0,25 0,25 → 0,25
Dung dịch sau khi điện phân có 0,25 mol OH- có khả năng phản ứng với Al theo
phương trình :
Al + OH- + H2O → AlO2- + 3/2 H2
0,250,25
16
mAl max = 0,25.27= 6,75 (g) → Chọn đáp án C
* Hướng giải thông thường đúng:
Thời gian cần để điện phân hết Cu là t = 0,05.64.2.96500/64.5 = 1930s
→ thời gian nước điện phân ở catot là: t = 3860 – 1930 = 1930 s
Vậy ở catot Cu điện phân hết rồi đến H2O
nH2 thu được là: n = 2.5.1930/2.2.96500 = 0,05 mol
Sơ đồ điện phân:
K (-) :
A (+) :
2+
Cu + 2e → Cu
2Cl- → Cl2 + 2e
0,05
→0,05
2H2O + 2e → H2 + 2OH0,05 → 0,1
Dung dịch sau khi điện phân có 0,1 mol OH- có khả năng phản ứng với Al theo
phương trình :
Al + OH- + H2O → AlO2- + 3/2 H2
0,10,1
mAl max = 0,1.27= 2,7 (g) → Chọn đáp án B
* Nguyên nhân dẫn đến sai lầm:
thu được 1,6 gam kim loại còn ở catot bình (2) thu được 5,4 gam kim loại. Cả
hai bình đều không thấy khí ở catot thoát ra. Kim loại M là:
A. Zn
√B. Cu
C. Ni
D. Pb
17
2. Tiến hành điện phân (với điện cực Pt) 200 gam dung dịch NaOH 10 % đến
khi dung dịch NaOH trong bình có nồng độ 25 % thì ngừng điện phân. Thể tích
khí (ở đktc) thoát ra ở anot và catot lần lượt là:
A. 149,3 lít và 74,7 lít
B. 156,8 lít và 78,4 lít
C. 78,4 lít và 156,8 lít
√D. 74,7 lít và 149,3 lít
Trên đây là một số sai lầm mà học sinh mắc phải khi làm bài tập điện
phân, đó là những sai lầm khó phát hiện đối với các em học sinh. Những sai lầm
này phần lớn xuất phát từ sự thiếu chắc chắn về kiến thức cộng với thói quen
làm bài thường gặp những “tình huống thuận lợi” dẫn tới tư tưởng chủ quan,
nóng vội, cẩu thả. Đôi khi cũng gặp phải ở tình huống các em bị áp lực tâm lí
khi làm bài dẫn tới trạng thái không kiểm soát nổi hành vi của bản thân. Để khắc
phục những sai lầm đó, ngoài những biện pháp đã nêu, người giáo viên vẫn cần
phải giúp các em học sinh rèn luyện các đức tính cẩn thận, tỉ mỉ, kiên trì và đặc
biệt là khắc phục những điểm yếu tâm lí khi làm bài. Giáo viên cũng nên tạo cho
học sinh thói quen “tự vấn”, “tự phản biện” khi làm bài để phát hiện và hạn chế
tối đa các sai lầm mắc phải.
IV. KIỂM NGHIỆM:
Từ thực tế giảng dạy tôi rút ra được một số sai lầm mà học sinh thường
Khá
Tbình
Yếu
Kém
số SL Tỉ lệ SL Tỉ lệ SL Tỉ lệ SL Tỉ lệ SL Tỉ lệ
%
%
%
%
%
12B10 39 6 15,4 18 46,1
15
38,5
0
0
0
0
- Kết quả này đã khẳng định hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm tôi đang thực
hiện.
18
PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT
I- Kiến nghị và đề xuất:
Từ thực tế giảng dạy tôi nhận thấy để học sinh học tập tốt hơn môn học và
bài học, giáo viên cần tìm ra những sai lầm của học sinh để từ đó khắc phục sai
lầm giúp học sinh có định hướng đúng trong quá trình lĩnh hội kiến thức. Tuy
nhiên để làm được điều này:
* Đối với giáo viên cần:
Thanh Hóa, ngày 13 tháng 05 năm 2013
thủ trưởng đơn vị
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết,
không sao chép nội dung của người khác
Người thực hiện
Mai Thị Hợi
19
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Lê Xuân Trọng (chủ biên), Sgk Hóa học 12 (nâng cao)- NXB giáo dục, Hà
nội 2008.
2. Đề thi Đại học – Cao đẳng các năm 209, 2010, 2011, 2012.
3. Hoàng Nhâm, Hóa học vô cơ – Tập 1 – NXB giáo dục, 2003.
4. Nguyễn Hoành Thi, Phương pháp mới giải toán Hóa – chuyên đề : Điện phân
- NXB ĐH Quốc Gia Hà nội 2000.
5. Võ Tường Huy, Phân Loại và giải chi tiết câu hỏi lý thuyết – Hóa Đại Cương
và Vô Cơ- NXB tổng hợp Đồng Nai, 2003.
6. Cao Cự Giác , Tuyển tập bài giảng Hóa Học vô cơ– NXB Sư Phạm, Hà Nội
2005.
20
MỤC LỤC
Trang
1
Phần I: Đặt vấn đề
Phần II: Giải quyết vấn đề
1.2. Điện phân dung dịch
4
1.3. Biểu thức điện phân
5
2. Một số sai lầm của học sinh khi giải bài tập điện phân , nguyên nhân
và cách khắc phục
5
2.1. Sai lầm khi xác định điện cực và các quá trình xảy ra ở điện cực
5
2.2. Sai lầm khi xác định thứ tự các bán phản ứng xảy ra ở điện cực
7
2.3. Sai lầm khi tính lượng chất tạo thành dựa vào số mol chất theo đề ra
và theo định luật Faraday
11
2.4 Sai lầm khi xác định trường hợp H2O điện phân ở các điện cực
13
21
22
23