SKKN sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học vật lý - Pdf 40

Phần 1. ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Quá trình đổi mới toàn diện trên nhiều lĩnh vực của giáo dục phổ thông mà
tâm điểm là đổi mới chương trình giáo dục để đáp ứng yêu cầu xây dựng đạt được
mục tiêu việc “dạy chữ, dạy người, dạy nghề”, định hướng nghề nghiệp cho học
sinh (HS) trong hoàn cảnh mới của xã hội Việt Nam hiện đại. Trọng tâm của đổi
mới chương trình và sách giáo khoa giáo dục phổ thông là tập trung đổi mới
phương pháp dạy học, thực hiện dạy học dựa vào hoạt động tích cực, chủ
động, sáng tạo của HS với sự tổ chức và hướng dẫn thích hợp của giáo viên
(GV), nhằm phát triển tư duy độc lập, góp phần hình thành phương pháp và nhu
cầu, khả năng tự học, tự bồi dưỡng hứng thú học tập, tạo niềm tin và vui thích
trong học hành.
2. Lí do chọn đề tài
Để thực hiện mục tiêu và nội dung dạy học, vấn đề đổi mới phương pháp
dạy học theo triết lý lấy người học làm trung tâm được đặt ra một cách bức thiết.
Bản chất của dạy học lấy người học làm trung tâm là phát huy cao độ tính tự giác,
tích cực, độc lập, sáng tạo của người học.
Để làm được điều đó thì vấn đề đầu tiên mà người GV cần nhận thức rõ ràng
là quy luật nhận thức của người học. Người học là chủ thể hoạt động chiếm lĩnh tri
thức, kĩ năng, kĩ xảo và thái độ chứ không phải là “cái bình chứa kiến thức” một
cách thụ động.
Trong thực tế hiện nay, còn nhiều HS học tập một cách thụ động, chỉ đơn
thuần là nhớ kiến thức một cách máy móc mà chưa rèn luyện kĩ năng tư duy. HS
chỉ học bài nào biết bài đấy, cô lập nội dung của các môn, phân môn mà chưa có
sự liên hệ kiến thức với nhau vì vậy mà chưa phát triển được tư duy logic và tư duy
hệ thống. Sử dụng bản đồ tư duy (SĐTD) giúp các em giải quyết được các vấn đề
trên và nâng cao hiệu quả học tập.
Từ những lí do trên, tôi hình thành ý tưởng đó là ứng dụng SĐTD trong các
nội dung bài học để có thể phát huy tối đa năng lực của mỗi cá nhân cũng như hiệu
quả học tập. Vì vậy tôi lựa chọn đề tài “Sử dụng SĐTD trong dạy học Vật lý”
trong các tiết dạy của mình nhằm nâng cao kết quả dạy-học.

- HS hứng thú học tập, công tác giảng dạy, giáo dục của GV trở nên nhẹ
nhàng hơn vì phần chủ yếu hướng dẫn cho HS tìm ra kiến thức.
- Đề tài có thể áp dụng cho nhiều đối tượng, áp dụng rộng rãi cho nhiều
công việc (học tập, lập kế hoạch, …)
Từ những điểm nêu trên bản thân tôi khẳng định đề tài có tính khoa học và
thực tiễn cao:
Ý nghĩa khoa học:
Đề tài được thực hiện nhằm nâng cao nghệ thuật dạy học, cũng như phát huy
tính sáng tạo trong việc dạy và học. Kết quả của đề tài sẽ góp phần phát triển tư
duy của GV và HS .
Ý nghĩa thực tiễn:
Góp phần nâng cao chất lượng dạy học bộ môn Vật lý nói riêng và các môn
học khác nói chung. Đề tài cũng góp phần phát huy tính chủ động, tích cực, sáng
tạo trong học tập của người học.

6


Phần 2. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
2.1. Cơ sở lí luận
2.1.1. Sơ đồ tư duy
SĐTD là hình thức ghi chép sử dụng màu sắc, hình ảnh để mở rộng và đào
sâu các ý tưởng. SĐTD một công cụ tổ chức tư duy nền tảng, có thể miêu tả nó
là một kĩ thuật hình họa với sự kết hợp giữa từ ngữ, hình ảnh, đường nét, màu
sắc phù hợp với cấu trúc, hoạt động và chức năng của bộ não, giúp con người
khai thác tiềm năng vô tận của bộ não.
Cơ chế hoạt động của SĐTD chú trọng tới hình ảnh, màu sắc, với các mạng
lưới liên tưởng (các nhánh). SĐTD là công cụ đồ họa nối các hình ảnh có liên hệ
với nhau vì vậy có thể vận dụng SĐTD vào hỗ trợ dạy học kiến thức mới, củng cố
kiến thức sau mỗi tiết học, ôn tập hệ thống hóa kiến thức sau mỗi chương,... và

6. Liên kết ý nên dùng nét đứt, mũi tên, số, màu sắc,…
7. Ghi chép nguồn gốc thông tin để có thể tra cứu lại dễ dàng
7


8. Sử dụng màu sắc để ghi.
Sử dụng SĐTD giúp GV chủ nhiệm, cán bộ quản lí nhà trường lập kế
hoạch công tác và có cái nhìn tổng quát toàn bộ kế hoạch từ chỉ tiêu, phương
hướng, biện pháp,…và dễ theo dõi quá trình thực hiện đồng thời có thể bổ sung
thêm các chỉ tiêu, biện pháp,…một cách rất dễ dàng so với việc viết kế hoạch theo
cách thông thường thành các dòng chữ.
2.1.2. Những kinh nghiệm khi lập SĐTD
* Các bước lập SĐTD
- Bước 1: Vẽ chủ đề ở trung tâm trên một mảnh giấy (đặt nằm ngang)
+ Chúng ta sẽ bắt đầu từ trung tâm với hình ảnh của chủ đề. Hình ảnh có thể
thay thế cho cả ngàn từ và giúp chúng ta sử dụng tốt hơn trí tưởng tượng của mình.
Sau đó có thể bổ sung từ ngữ vào hình vẽ chủ đề nếu chủ đề không rõ ràng.
+ Sử dụng màu sắc vì màu sắc có tác dụng kích thích não như hình ảnh, đặc
biệt là các màu sắc bản thân yêu thích.
+ Có thể dùng từ khóa, kí hiệu, câu danh ngôn, câu nói nào đó gợi ấn tượng
sâu sắc về chủ đề.
+ Không nên đóng khung hoặc che chắn mất hình vẽ chủ đề vì chủ đề cần
được làm nổi bật dễ nhớ
+ Chủ đề phải đủ to, rõ, nổi bật trọng tâm cần ghi nhớ.
- Bước 2: Vẽ thêm các tiêu đề phụ vào chủ đề trung tâm
+ Tiêu đề phụ có thể viết bằng chữ in hoa nằm trên các nhánh to để làm nổi bật.
+ Tiêu đề phụ được gắn với trung tâm.
+ Tiêu đề phụ nên được vẽ chéo góc để nhiều nhánh phụ khác có thể được
vẽ tỏa ra một cách dễ dàng.
- Bước 3: Trong từng tiêu đề phụ vẽ thêm các ý chính và các chi tiết hỗ trợ

soạn giáo án, HS hiểu và nhớ lâu vấn đề hơn....
2.2. Thực trạng của vấn đề
2.2.1. Thuận lợi
- Đây là phương pháp học tập mới thoải mái, vui vẻ và sáng tạo, thú vị ….
- Đây là xu thế chung của giáo dục Việt Nam nên đựơc sự ủng hộ từ các cấp,
xã hội, phụ huynh, HS…
- Chương trình môn Vật lý THPT có nhiều nội dung phù hợp với phương
pháp giảng dạy dùng SĐTD phát huy hiệu quả cao khi giáo viên tổ chức cho HS
lĩnh hội kiến thức
- Về cơ sở vật chất đã có một số đổi mới tạo điều kiện cho hoạt động học
tập: phòng công nghệ thông tin, đèn chiếu, bảng phụ…
- GV được đào tạo và tập huấn đổi mới phương pháp dạy học về sử dụng
SĐTD trong giảng dạy.
- Xã hội hiện nay tạo điều kiện cho con người (GV và HS) có điều kiện tiếp
cận nhiều nguồn thông tin từ nhiều phương tiện khác nhau.
- Phương pháp sử dụng SĐTD trong dạy học các kiểu bài phù hợp tâm sinh
lý lứa tuổi HS, khắc phục được sự nhàm chán của phương pháp dạy học truyền
thống. Vì vậy, gây hứng thú cho người học, kích thích HS tư duy tích cực.
2.2.2. Khó khăn
- Đây là phương pháp dạy học mới nên GV và HS không tránh khỏi lúng
túng trong một số kĩ năng như sử dụng lúc nào, như thế nào, sưu tầm, xử lý thông
tin, vẽ, ý tưởng…
- Nội dung môn Vật lý THPT, đặc biệt là Vật lý lớp 12 mới, khô, khó, trừu
tượng … nên GV khó dạy, HS khó học.
- Đòi hỏi GV phải có nhiều kĩ năng khác ngoài kĩ năng sư phạm.
- GV khó khăn trong việc đánh giá cụ thể hiệu quả làm việc của từng HS.
- Cơ sở vật chất có đổi mới nhưng chưa thực sự phù hợp: Số HS, không gian
lớp học, trang thiết bị, đồ dung dạy học, thời gian tiết học…
- Năng lực HS không đồng đều nên đôi khi việc vẽ SĐTD trong học tập là
sự máy móc không hiệu quả.

những hiểu biết của các em
- Dựa vào những câu trả lời miệng và hoạt động thực hành của HS mà phát
hiện được tình trạng thật của kiến thức và kĩ năng của các em
- Thái độ và cách đối xử của GV với HS có ý nghĩa to lớn trong khi kiểm tra
miệng. GV cần biết lắng nghe câu trả lời, biết theo dõi hoạt động của HS và trên cơ
sở đó rút ra kết luận về tình trạng kiến thức của HS. Sự hiểu biết của GV về cá tính
HS, sự tế nhị và nhạy cảm sư phạm trong nhiều trường hợp là những yếu tố cơ bản
giúp thấy rõ thực chất trình độ kiến thức và kĩ năng của HS được kiểm tra.
- Trong quá trình HS đang trả lời câu hỏi có thiếu sót hoặc sai, nếu không có
lí do gì cần thiết GV cũng không nên ngắt lời của HS. Cùng là một sai sót nhưng
GV phải biết sai sót nào nên sửa ngay và sai sót nào thì nên đợi HS trả lời xong.
- Nên phối hợp các cách kiểm tra và cùng một lúc có thể kiểm tra được
nhiều HS: trong lúc gọi một số HS lên bảng thì GV ra cho các HS ở dưới lớp câu
hỏi khác sau đó sẽ thu vở nháp của một số em để chấm.
- Khi tổ chức kiểm tra thì GV phải giải quyết các khó khăn lớn sau đây: khi
một hay vài HS được chỉ định lên bảng thì các HS khác trong lớp cần phải làm gì
và làm như thế nào. GV gọi nhiều em cùng một lúc, đưa ra yêu cầu khác nhau phù
hợp với trình độ của mỗi HS sau đó đặt các câu hỏi cho cả lớp sau khi các HS này
hoàn thành xong nhiệm vụ của mình như sau: “Bạn trả lời như vậy có đúng
không?” “Các em có đồng ý với câu trả lời đó của bạn không?” “Có điểm nào sai
hoặc thiếu không ?”… Ngoài những câu cơ bản, GV có thể sử dụng các câu hỏi
phụ trong quá trình kiểm tra miệng. Nhờ những câu hỏi bổ sung đó mà GV có thể
hình dung được chất lượng kiến thức của HS.
* Sử dụng SĐTD:
10


Như ta đã biết, kiểm tra miệng là việc diễn ra thường xuyên, liên tục trong
các tiết dạy. Vì vậy hoạt động này phải đa dạng để tránh sự nhàm chán đơn điệu,
tạo không khí sinh động trong lớp học và giúp HS học tập có hiệu quả hơn.

chốt lại kiến thức.
11


- Tùy theo lượng thời gian phân phối cho phần kiểm tra bài cũ và nội dung
kiến thức bài trước mà tôi còn cho HS hoàn thành trọn vẹn SĐTD dưới hình
thức cuộc thi (học mà chơi, chơi mà học), HS nào nhanh nhất, chính xác nhất sẽ
được tuyên dương và điểm cao.
Qua đó, tôi thấy rằng ngay từ đầu HS đã rất hào hứng và nhiệt tình tham gia,
làm cho phần trả bài không còn là áp lực với HS, các em không phải chỉ còn đọc
thuộc lòng từng câu chữ, công thức mà có sự thấu hiểu, biết phương pháp học.
2.3.2. Sử dụng SĐTD trong việc dạy kiến thức mới
* Những vấn đề tồn tại:
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển khả năng ghi nhớ, thông hiểu
và vận dụng kiến thức mới của HS, trong đó phương pháp dạy của thầy và cách
học của trò là yếu tố quyết định.
- Phương pháp dạy của GV:
- Sử dụng phương pháp truyền thống chủ yếu là GV độc thoại, độc quyền
đánh giá, thuyết giảng làm HS nhàm chán không tập trung, chú ý những gì GV
nói.
- Nội dung bám sát sách giáo khoa, ít liên hệ thực tiễn đời sống nên không
giúp các em ghi nhớ bài một cách tốt nhất.
- GV giữ vai trò chủ động điều khiển.
- Không phối hợp nhiều phương pháp dạy học trong một tiết dạy.
- Phương pháp, dụng cụ giảng dạy không khoa học.
- Gây áp lực đến với HS dẫn đến HS bị ức chế.
- Phương pháp học của HS:
- Chưa có sự chú trọng đến việc học bộ môn, học thuộc lòng một cách thụ
động, ít có sự liên tưởng, liên hệ, tìm hiểu những tập tính, quy luật Vật lý ngoài
thực tế nên dễ quên đi những kiến thức vừa học.

tập và tư duy độc lập.
+ Tổ chức cho các em học theo nhóm để các em có cơ hội phát huy khả năng
độc lập của bản thân và tạo cơ hội cho các em có thể tự đánh giá, kiểm tra mức độ
nắm vững kiến thức lẫn nhau và của chính bản thân các em. Tạo mọi điều kiện
thuận lợi để các em có thể tự đánh giá, kiểm tra khả năng nắm tri thức của mình..
+ GV cho các em trình bày kiến thức mình có được, HS làm thí nghiệm,
thực hành để các em có thể vận dụng các kiến thức đã học vào thực tế.
- Đối với HS:
+ Chuẩn bị bài trước khi lên lớp.
+ Biết phân phối thời gian học tập hợp lý cho từng môn học.
+ Lựa chọn phương pháp học riêng cho mình để ghi nhớ bài thật tốt.
+ Biết liên hệ, kết hợp tri thức đã học với thực tiễn.
+ Thường xuyên tổ chức học theo nhóm để trao đổi khả năng nắm vững các
kiến thức đã học.
+ Khi có những thắc mắc về bài học cần chủ động hỏi GV giảng dạy.
+ Vào lớp cần phải năng động, tự tìm tòi, học hỏi, học cách học…
- Sử dụng SĐTD:
Từ đầu năm học, theo định hướng của ngành chống đọc chép, tôi đã giới
thiệu đến HS các kiểu ghi chép theo kiểu đề mục, kiểu trích dẫn, kiểu luận đề, kiểu
tự do. Thực tế, các kiểu ghi chép này các em cũng đã thực hiện rồi nhưng ít được
biết đến tên và tác dụng cũng như hiệu quả của từng kiểu ghi. Thông thường, tôi
nhận thấy ở trường HS thường được hướng dẫn ghi chép bài học theo kiểu đề
cương, trích dẫn và luận đề còn cách ghi chép theo kiểu tự do dành cho việc dự hội
thảo hay chuyên đề… Nhưng điều đáng quan tâm là các kiểu ghi chép trên nếu
được kết hợp với việc hệ thống kiến thức bài học theo kiểu SĐTD sẽ giúp HS nhớ
lâu hơn, gây hứng thú và niềm đam mê học tập hơn cho HS, giúp cho các kiến thức
ấy "đi thẳng vào đầu" HS một cách nhanh chóng, hiệu quả hơn. Để cải thiện việc
ghi chép của mình, tôi đã yêu cầu HS cần lưu yùù:
+ Làm bài tập về nhà trước khi đến lớp, xem trước bài học mới.
+ Đi học đầy đủ, nếu bạn bỏ một buổi học thì bạn phải mượn vở của bạn

(GV và HS cùng tìm hiểu phần I. Sau
khi học xong phần I, SĐTD xuất hiện
thêm 3 nhánh “Cấu trúc tinh thể”,
“Nhiệt độ nóng chảy”, “Phân loại” và
thêm các nhánh con)

Tương tự như vậy, sau khi học xong mỗi phần với các kiến thức cần ghi nhớ
thì SĐTD lại thêm những nhánh nữa. Khi kết thúc bài học mới cũng là lúc GV và
HS đã hoàn thành xong SĐTD cho bài học.
Khi dạy HS hoàn toàn bằng máy chiếu, tôi thường dùng bảng như một “bảng
nháp” để cùng HS hoàn thiện SĐTD. Ngược lại, khi dùng bảng, với những bài
giảng có nội dung kiến thức ngắn, những lần đầu khi HS làm quen với SĐTD tôi
vẽ trực tiếp trên phần mềm để HS dễ quan sát và định hướng những công việc cần
làm.
Bên cạnh đó, cũng có những tiết dạy tôi cho HS hoạt động nhóm: Sau khi đã
học xong nội dung kiến thức bài học, trước khi sang phần bài tập, củng cố tôi cho
HS hoàn thành SĐTD theo nhóm hoặc hoàn thành theo kĩ thuật “khăn phủ bàn”.
Tuy nhiên, quan trọng nhất là cho dù thực hiện theo cách nào thì sau đó HS
phải lên trình bày, thuyết minh thông qua SĐTD mà GV và HS hoặc nhóm
mình đã hoàn thành. HS khác nhận xét, bổ sung. GV sẽ là người cố vấn, là trọng
tài giúp HS hoàn chỉnh SĐTD từ đó dẫn dắt đến kiến thức trọng tâm của bài học.
GV giới thiệu SĐTD là một sơ đồ mở nên không yêu cầu tất cả các nhóm HS có
chung 1 kiểu SĐTD, tôi chỉ chỉnh sửa cho HS về mặt kiến thức và góp ý thêm về
đường nét vẽ và hình thức (nếu cần).

14


Ví dụ: SĐTD hình thành sau khi học xong bài “Các loại quang phổ”


bản là trò chơi phải đơn giản, đi sâu vào vấn đề trọng tâm của bài.
15


Củng cố bài giảng bằng cách cho HS tự tổng kết kiến thức.
Biện pháp củng cố này rèn cho HS kĩ năng trình bày vấn đề trước đám đông
và kĩ năng tóm lược vấn đề Phương pháp áp dụng với những bài nội dung đơn
giản, dễ tổng kết lại kiến thức.
Trên đây là một vài phương pháp củng cố bài học mà tôi và các bạn chắc
chắn đã dùng trong các tiết dạy của mình. Mỗi phương pháp có một ưu nhược
điểm riêng và khi dùng SĐTD, chúng ta có thể khắc phục các nhược điểm, phát
huy tối đa các ưu điểm. Sử dụng SĐTD gần như là một biện pháp có thể kết hợp
các phương pháp trên với nhau một cách linh hoạt, hiệu quả (Đó là trò chơi, là
sơ đồ tổng kết, có những câu hỏi củng cố…). Tôi nhận thấy rằng SĐTD là công cụ
tư duy mang tính tự nhiên, nếu vận dụng vào dạy học sẽ gây cảm hứng và niềm say
mê học tập cho HS. Đặc biệt, SĐTD rất phù hợp cho việc đọc, ôn tập, ghi chú...
Có thể nói, đây là công cụ vô giá không những giúp cho HS mà cả GV trong
việc thu thập, phân loại thông tin. Từ đó, tôi đã mạnh dạn vạch ra kế hoạch để
hướng dẫn HS học tập theo SĐTD này. Khi mới áp dụng SĐTD vào việc củng cố
bài học ở lớp nói riêng và áp dụng cho các kiểu bài nói chung, tôi thông qua trò
chơi cho HS là sắp xếp các thẻ ôn bài, tóm tắt đề mục chính của bài học để tập dần
cho HS nhớ các từ khóa (nội dung chính cần nắm) của bài học. Cụ thể, tôi lấy ví
dụ sau khi học xong bài “Chất rắn kết tinh. Chất rắn vô định hình” Vật lý 10 tôi đã
thực hiện việc củng cố như sau:
Tôi cho HS chuẩn bị trước các thẻ ôn bài với các từ khóa:
Đơn tinh thể

Chất rắn
Cấu trúc tinh thể


Cấu trúc
tinh thể

Đơn tinh thể

Dị hướng

Đa tinh thể

Đẳng hướng

Nhiệt độ
nóng chảy
Chất rắn

Chất rắn vô định hình
Mặc dù khi sắp xếp, các em chưa sắp xếp theo hệ thống kiến thức yêu cầu,
cần có sự góp ý của bạn, nhưng tôi nhận thấy các em rất hứng thú khi được học, tự
tin khi thuyết trình trước mọi người về SĐTD của nhóm mình hoặc của bản thân
hoặc của nhóm khác, bạn khác. Sau đó, tôi khuyến khích, gợi mở, hướng dẫn các
em đúng sơ đồ chuẩn. Bên cạnh đó, tôi cũng phát hiện ở các em có nhiều sáng tạo
rất hay trong việc sắp xếp các thẻ ôn bài ở ví dụ minh họa trên.
Tuy nhiên, sau khi HS đã nắm được cách thức, nguyên tắc xây dựng SĐTD
thì không phải tiết nào cũng củng cố qua các thẻ ôn bài vì như vậy sẽ gây nhàm
chán, mất thời gian. Vì vậy một biện pháp khác tôi đưa ra là sau khi HS đã làm bài
tập, trả lời các câu hỏi phần củng cố thì dùng máy chiếu cho hiển thị từ khóa trung
tâm sau đó phát vấn HS về những nội dung đã học trong bài, dùng hiệu ứng của
phần mềm PowerPoint lần lượt đưa ra theo mục đích giảng dạy.
Qua nhiều bài củng cố như cách thực hiện ở trên, tôi nhận thấy các em nhớ
bài nhanh hơn, từng bước xây dựng được kĩ năng diễn giải. Song song với việc

dễ nhìn, dễ nhớ và hệ thống hóa kiến thức ở dạng khái quát cao. Khi xây dựng các
bảng tổng kết cần rõ ràng các sơ đồ dễ nhìn, đảm bảo tính khoa học và thẩm m .
GV, HS cần có sự chuẩn bị chu đáo t m cho giờ ôn tập tổng kết Ngoài
việc chuẩn bị nội dung, kiến thức, câu hỏi cho bài ôn tập, hệ thống kiến thức đã
đựơc trình bày trong sách giáo khoa, GV cần chuẩn bị thêm một số kiến thức để
mở rộng, đào sâu kiến thức và một số dạng bài tập mang tính vận dụng sâu kiến
thức trong các sách tham khảo, sách bài tập Vật lý... Các kiến thức, bài tập được
lựa chọn cần đảm bảo trên cơ sở kiến thức phổ thông HS có thể hiểu vận dụng
được, có tính chất mở rộng, giải quyết được một phần thắc mắc học sinh đặt ra khi
đọc các sách tham khảo khác.
* Sử dụng SĐTD:
SĐTD là một công cụ khá mạnh trong những tiết bài tập, ôn tập. Thông
thường tôi tiến trình theo sơ đồ: 1. Sơ đồ hóa kiến thức  2. Nội dung cần ôn tập
 3. Ôn tập tổng kết.
Bước 1. Thông thường tôi thường giao cho HS về nhà hoàn thiện (Cách làm
này cũng được áp dụng dạy kiến thức mới khi HS đã thành thạo với SĐTD) Trước
khi vào nội dung 2 tôi dành thời gian kiểm tra sự chuẩn bị cũng như kiểm tra sự
ghi nhớ kiến thức của HS bằng cách gọi một vài HS lên bảng trình bày những nội
dung kiến thức mà mình đã thể hiện trong SĐTD. Riêng phần này tôi cho các em
thoải mái trình bày theo những ý tưởng đã sắp xếp, HS khác và tôi chỉ làm thêm
nhiệm vụ là bổ sung những nội dung còn thiếu trong những phần đã học trong
SĐTD.
Bước 2. Tôi hướng dẫn HS ôn tập theo những chủ điểm đã có trong SĐTD.
Bước 3. Tôi cho HS hoàn thiện SĐTD của mình như phần củng cố bài học:
Chú ý phân phối thời gian hợp lý: Thời gian 1 tiết học 45 phút, nên vấn đề
cần quan tâm để đạt hiệu quả là việc phân phối thời gian hợp lý. Do đó, tôi dùng
thời gian của những bài học ngắn khoảng 5 - 9 phút để thực hiện.
Khoảng 2 - 4 phút: Các em bổ sung yù tưởng riêng của mình và trao đổi với
các bạn cùng nhóm.
Khoảng 2 - 3 phút tiếp theo: Đại diện nhóm lên trình bày sơ đồ của nhóm

Cấp độ 4: HS tự đọc kiến thức mới và tự tổng kết được bằng SĐTD
Cấp độ 5: HS trình bày được các nội dung kiến thức đã học, đã tìm hiểu mà
không cần bất kì tài liệu nào.
Bên cạnh đó, vẫn có những vấn đề còn bỏ ngỏ chưa được nghiên cứu trong
đề tài như: Sử dụng SĐTD trong các tiết thực hành, tiết bài tập, rèn khả năng ghi
chép (kiểm tra viết) đầy đủ dựa trên SĐTD và tái hiện SĐTD (khi không có bất kì
tài liệu nào) tránh trường hợp HS chỉ nhớ ý, nhớ có mấy ý mà không biết diễn tả
đầy đủ… rất mong được sự góp ý, đánh giá của các thầy cô.
Kết quả cụ thể
Kết quả bài khảo sát của hai lớp 12A1 (Sử dụng SĐTD) và 12A4 (Không sử
dụng SĐTD) cụ thể qua bảng so sánh sau:
Sĩ số
12A1
12A4
Nhận xét

35
37
Áp dụng
SĐTD

Giỏi
Khá
T. Bình
8,0-10
6,5-7,9
5,0-6,4
1
12
17

20


- Vận dụng SĐTD vào việc hệ thống hóa kiến thức các chương trong
chương trình Vật lý THPT.
- Cũng giống như SĐTD, bản thân nó đã là một sơ đồ mở, có thể thêm bớt,
thay đổi linh hoạt mềm dẻo sao cho khả năng ghi nhớ vận dụng là tốt nhất. Phương
pháp dạy học cũng vậy, ta không nên tuyệt đối hóa cũng như phủ định bất kì một
phương pháp nào cho dù là truyền thống hay hiện đại vì bao giờ nó cũng bao gồm
ưu điểm và nhược điểm. Vậy nên, trên đây tôi đã nêu ra những cơ sở lí luận,
phương hướng, biện pháp thường dùng thông thường đã mang lại hiệu quả và đan
xen vào nó là sử dụng SĐTD để cho tiết học thêm phần sôi nổi, GV linh hoạt trong
các phương pháp dạy học giáo dục, tiết học không nhàm chán, HS hứng thú tiếp
thu bài học, vận dụng sáng tạo vào bài tập và thực tiễn.
- Cần tổ chức cho GV dạy Vật lý, đồng chí phụ trách thiết bị được học bồi
dưỡng sử dụng thiết bị, sử dụng phần mềm từ đầu năm học.
- Vì các giờ dạy Vật lý thường có nhiều thiết bị, đồ dùng thực hành khi dạy
bằng phương pháp mới cũng đòi hỏi có sự đầu tư cơ sở vật chất nên cần sắp xếp
thời khóa biểu cho gọn, đầu tư máy tính máy chiếu cho lớp học.
- Nhà trường, tổ chuyên môn cần có những chuyên đề, thảo luận về sử dụng
SĐTD và xây dựng thư viện SĐTD để GV và HS có thể khai thác, sử dụng.
Trên đây là một số ý kiến của tôi, kính mong các cấp lãnh đạo nghiên cứu và
xem xét để đề tài được áp dụng rộng rãi nhằm thực hiện tốt mục tiêu đổi mới giáo
dục và giảng dạy bộ môn đạt hiệu quả cao.

21


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Một số vấn đề đổi mới phương pháp dạy học ở trường THPT (Bộ Giáo dục và

1. Kết luận ....................................................................................................
2. Kiến nghị ..................................................................................................
Tài liệu tham khảo ........................................................................................
Mục lục ..........................................................................................................

23

5
5
5
5
5
6
6
7
7
9
10
10
12
15
17
20
20
20
22
23




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status