Phần 1. ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Quá trình đổi mới toàn diện trên nhiều lĩnh vực của giáo dục phổ thông mà
tâm điểm là đổi mới chương trình giáo dục để đáp ứng yêu cầu xây dựng đạt được
mục tiêu việc “dạy chữ, dạy người, dạy nghề”, định hướng nghề nghiệp cho học
sinh (HS) trong hoàn cảnh mới của xã hội Việt Nam hiện đại. Trọng tâm của đổi
mới chương trình và sách giáo khoa giáo dục phổ thông là tập trung đổi mới
phương pháp dạy học, thực hiện dạy học dựa vào hoạt động tích cực, chủ
động, sáng tạo của HS với sự tổ chức và hướng dẫn thích hợp của giáo viên
(GV), nhằm phát triển tư duy độc lập, góp phần hình thành phương pháp và nhu
cầu, khả năng tự học, tự bồi dưỡng hứng thú học tập, tạo niềm tin và vui thích
trong học hành.
2. Lí do chọn đề tài
Để thực hiện mục tiêu và nội dung dạy học, vấn đề đổi mới phương pháp
dạy học theo triết lý lấy người học làm trung tâm được đặt ra một cách bức thiết.
Bản chất của dạy học lấy người học làm trung tâm là phát huy cao độ tính tự giác,
tích cực, độc lập, sáng tạo của người học.
Để làm được điều đó thì vấn đề đầu tiên mà người GV cần nhận thức rõ ràng
là quy luật nhận thức của người học. Người học là chủ thể hoạt động chiếm lĩnh tri
thức, kĩ năng, kĩ xảo và thái độ chứ không phải là “cái bình chứa kiến thức” một
cách thụ động.
Trong thực tế hiện nay, còn nhiều HS học tập một cách thụ động, chỉ đơn
thuần là nhớ kiến thức một cách máy móc mà chưa rèn luyện kĩ năng tư duy. HS
chỉ học bài nào biết bài đấy, cô lập nội dung của các môn, phân môn mà chưa có
sự liên hệ kiến thức với nhau vì vậy mà chưa phát triển được tư duy logic và tư duy
hệ thống. Sử dụng bản đồ tư duy (SĐTD) giúp các em giải quyết được các vấn đề
trên và nâng cao hiệu quả học tập.
Từ những lí do trên, tôi hình thành ý tưởng đó là ứng dụng SĐTD trong các
nội dung bài học để có thể phát huy tối đa năng lực của mỗi cá nhân cũng như hiệu
5
cho hiệu quả rõ rệt. Đây là một chủ đề rất mới trong những năm học gần đây.
6
- HS hứng thú học tập, công tác giảng dạy, giáo dục của GV trở nên nhẹ
nhàng hơn vì phần chủ yếu hướng dẫn cho HS tìm ra kiến thức.
- Đề tài có thể áp dụng cho nhiều đối tượng, áp dụng rộng rãi cho nhiều
công việc (học tập, lập kế hoạch, …)
Từ những điểm nêu trên bản thân tôi khẳng định đề tài có tính khoa học và
thực tiễn cao:
Ý nghĩa khoa học:
Đề tài được thực hiện nhằm nâng cao nghệ thuật dạy học, cũng như phát huy
tính sáng tạo trong việc dạy và học. Kết quả của đề tài sẽ góp phần phát triển tư
duy của GV và HS .
Ý nghĩa thực tiễn:
Góp phần nâng cao chất lượng dạy học bộ môn Vật lý nói riêng và các môn
học khác nói chung. Đề tài cũng góp phần phát huy tính chủ động, tích cực, sáng
tạo trong học tập của người học.
7
Phần 2. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
2.1. Cơ sở lí luận
2.1.1. Sơ đồ tư duy
SĐTD là hình thức ghi chép sử dụng màu sắc, hình ảnh để mở rộng và đào
sâu các ý tưởng. SĐTD một công cụ tổ chức tư duy nền tảng, có thể miêu tả nó
là một kĩ thuật hình họa với sự kết hợp giữa từ ngữ, hình ảnh, đường nét, màu
sắc phù hợp với cấu trúc, hoạt động và chức năng của bộ não, giúp con người
cần thiết nhất và lôgic, vì vậy, sử dụng SĐTD sẽ giúp HS dần dần hình thành cách
ghi chép có hiệu quả.
Tác giả Stella Cottrell đã tổng kết cách “ghi chép” có hiệu quả trên SĐTD:
1. Dùng từ khóa và ý chính
2. Viết cụm từ, không viết thành câu
3. Dùng các từ viết tắt
4. Có tiêu đề
5. Đánh số các ý
6. Liên kết ý nên dùng nét đứt, mũi tên, số, màu sắc,…
7. Ghi chép nguồn gốc thông tin để có thể tra cứu lại dễ dàng
8. Sử dụng màu sắc để ghi.
Sử dụng SĐTD giúp GV chủ nhiệm, cán bộ quản lí nhà trường lập kế
hoạch công tác và có cái nhìn tổng quát toàn bộ kế hoạch từ chỉ tiêu, phương
hướng, biện pháp,…và dễ theo dõi quá trình thực hiện đồng thời có thể bổ sung
thêm các chỉ tiêu, biện pháp,…một cách rất dễ dàng so với việc viết kế hoạch theo
cách thông thường thành các dòng chữ.
2.1.2. Những kinh nghiệm khi lập SĐTD
* Các bước lập SĐTD
- Bước 1: Vẽ chủ đề ở trung tâm trên một mảnh giấy (đặt nằm ngang)
+ Chúng ta sẽ bắt đầu từ trung tâm với hình ảnh của chủ đề. Hình ảnh có thể
thay thế cho cả ngàn từ và giúp chúng ta sử dụng tốt hơn trí tưởng tượng của mình.
Sau đó có thể bổ sung từ ngữ vào hình vẽ chủ đề nếu chủ đề không rõ ràng.
+ Sử dụng màu sắc vì màu sắc có tác dụng kích thích não như hình ảnh, đặc
biệt là các màu sắc bản thân yêu thích.
9
+ Có thể dùng từ khóa, kí hiệu, câu danh ngôn, câu nói nào đó gợi ấn tượng
sâu sắc về chủ đề.
- SĐTD theo chương.
- SĐTD theo đoạn văn.
* Ưu điểm của SĐTD
- Dễ nắm được trọng tâm của vấn đề .
- Đỡ tốn thời gian ghi chép hơn so với kiểu ghi chép cũ.
- Cải thiện sức sáng tạo và trí nhớ, nắm bắt cơ hội khám phá tìm hiểu.
- Hoàn thiện bộ não, tiếp thu linh hoạt và hiệu quả.
- Giúp người học tự tin hơn vào khả năng của mình.
- Trong giảng dạy và học tập: tạo hứng thú cho HS, GV tiết kiệm thời gian
soạn giáo án, HS hiểu và nhớ lâu vấn đề hơn....
2.2. Thực trạng của vấn đề
2.2.1. Thuận lợi
- Đây là phương pháp học tập mới thoải mái, vui vẻ và sáng tạo, thú vị ….
- Đây là xu thế chung của giáo dục Việt Nam nên đựơc sự ủng hộ từ các cấp,
xã hội, phụ huynh, HS…
- Chương trình môn Vật lý THPT có nhiều nội dung phù hợp với phương
pháp giảng dạy dùng SĐTD phát huy hiệu quả cao khi giáo viên tổ chức cho HS
lĩnh hội kiến thức
- Về cơ sở vật chất đã có một số đổi mới tạo điều kiện cho hoạt động học
tập: phòng công nghệ thông tin, đèn chiếu, bảng phụ…
- GV được đào tạo và tập huấn đổi mới phương pháp dạy học về sử dụng
SĐTD trong giảng dạy.
- Xã hội hiện nay tạo điều kiện cho con người (GV và HS) có điều kiện tiếp
cận nhiều nguồn thông tin từ nhiều phương tiện khác nhau.
- Phương pháp sử dụng SĐTD trong dạy học các kiểu bài phù hợp tâm sinh
lý lứa tuổi HS, khắc phục được sự nhàm chán của phương pháp dạy học truyền
thống. Vì vậy, gây hứng thú cho người học, kích thích HS tư duy tích cực.
2.2.2. Khó khăn
2.3.1. Sử dụng SĐTD trong việc kiểm tra kiến thức cũ
* Việc chuẩn bị cho kiểm tra miệng:
12
- Công việc chuẩn bị trước hết là phải xác đinh thật chính xác cần kiểm tra
những gì. GV cần xác định được mức độ tối thiểu kiến thức và kĩ năng mà HS đã
thu nhận được trong quá trình học tập. Câu hỏi đặt ra cho HS phải chính xác, rõ để
HS không hiểu thành hai nghĩa khác nhau dẫn đến việc trả lời lạc đề.
- GV phải thiết kế lại các yêu cầu, bài tập trong sách giáo khoa hay ra các
bài tập tương tự để tránh việc các em sử dụng sự hướng dẫn trong các sách học tốt,
sách bài tập nhằm đối phó với GV
* Những yêu cầu sư phạm về cách tổ chức kiểm tra miệng:
- Tạo điều kiện thuận lợi để HS có thể bộc lộ một cách tự nhiên đầy đủ nhất
những hiểu biết của các em
- Dựa vào những câu trả lời miệng và hoạt động thực hành của HS mà phát
hiện được tình trạng thật của kiến thức và kĩ năng của các em
- Thái độ và cách đối xử của GV với HS có ý nghĩa to lớn trong khi kiểm tra
miệng. GV cần biết lắng nghe câu trả lời, biết theo dõi hoạt động của HS và trên cơ
sở đó rút ra kết luận về tình trạng kiến thức của HS. Sự hiểu biết của GV về cá tính
HS, sự tế nhị và nhạy cảm sư phạm trong nhiều trường hợp là những yếu tố cơ bản
giúp thấy rõ thực chất trình độ kiến thức và kĩ năng của HS được kiểm tra.
- Trong quá trình HS đang trả lời câu hỏi có thiếu sót hoặc sai, nếu không có
lí do gì cần thiết GV cũng không nên ngắt lời của HS. Cùng là một sai sót nhưng
GV phải biết sai sót nào nên sửa ngay và sai sót nào thì nên đợi HS trả lời xong.
- Nên phối hợp các cách kiểm tra và cùng một lúc có thể kiểm tra được
nhiều HS: trong lúc gọi một số HS lên bảng thì GV ra cho các HS ở dưới lớp câu
hỏi khác sau đó sẽ thu vở nháp của một số em để chấm.
- Khi tổ chức kiểm tra thì GV phải giải quyết các khó khăn lớn sau đây: khi
trên bảng, đưa trên phần mềm
PowerPoint… để không chỉ
những em được gọi lên mà các
em ở dưới lớp cùng hoàn thành
sau đó GV thu bài, nhận xét và
chấm điểm cho một số HS.
Ví dụ 2: Kiểm tra bài cũ trước khi học bài “Mạch có R, L, C mắc nối tiếp”
Vật lý 12.
14
Hoàn thành SĐTD sau:
- Tất nhiên, với kiểu kiểm tra bài cũ này để hoàn thành trọn vẹn thì tôi
thường xuyên hướng dẫn HS cách lập bản đồ, cách ghi chép, cùng HS hoàn thiện
những nội dung kiến thức đã học bằng SĐTD nhằm đưa ra đúng, đủ những tri thức
mà HS cần nắm vững. Sau đó, HS phải trình bày được những nội dung cần nắm
vững trong bài học, HS dưới lớp tham gia nhận xét bổ sung và GV là người chốt
lại kiến thức.
- Tùy theo lượng thời gian phân phối cho phần kiểm tra bài cũ và nội dung
kiến thức bài trước mà tôi còn cho HS hoàn thành trọn vẹn SĐTD dưới hình
thức cuộc thi (học mà chơi, chơi mà học), HS nào nhanh nhất, chính xác nhất sẽ
được tuyên dương và điểm cao.
Qua đó, tôi thấy rằng ngay từ đầu HS đã rất hào hứng và nhiệt tình tham gia,
làm cho phần trả bài không còn là áp lực với HS, các em không phải chỉ còn đọc
thuộc lòng từng câu chữ, công thức mà có sự thấu hiểu, biết phương pháp học.
2.3.2. Sử dụng SĐTD trong việc dạy kiến thức mới
* Những vấn đề tồn tại:
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển khả năng ghi nhớ, thông hiểu
và vận dụng kiến thức mới của HS, trong đó phương pháp dạy của thầy và cách
tác động đến nhiều mặt. Ở đây tôi tập trung tác động đến hai đối tượng quyết định
của quá trình dạy - học để chuẩn bị và bổ sung phương pháp mới sử dụng SĐTD
hiệu quả mà tôi đã sử dụng
- Đối với GV:
+ Nắm được các yếu tố ảnh hưởng đến sự ghi nhớ cũng như nguyên nhân
dẫn đến sự quên của HS. Nắm được tâm sinh lý của HS THPT để có phương pháp
16
giảng day cho phù hợp với các em. Tạo bầu không khí học tập thoải mái, sôi động,
sinh động không gây áp lực cho các em để các em có thể ghi nhớ tốt hơn.
+ Trong giờ lên lớp, GV phải phối hợp nhiều phương pháp khác nhau nhằm
phát huy tối đa ưu điểm cũng như khắc phục khuyết điểm của từng phương pháp từ
đó giúp các em tiếp thu kiến thức mới được nhanh chóng. Cụ thể như phối hợp:
Phương pháp thuyết trình, vấn đáp, trực quan…
+ Ngoài những tài liệu trong sách giáo khoa, GV cần tìm hiểu cung cấp cho
HS nhiều tài liệu mới, tập tính, quy luật thực tế cuộc sống để giúp HS ôn tập và
củng cố những kiến thức học ngay trên lớp một cách tốt hơn. Trong giờ học trên
lớp, GV có thể những câu hỏi đơn giản mà thú vị nhằm kích thích HS tích cực học
tập và tư duy độc lập.
+ Tổ chức cho các em học theo nhóm để các em có cơ hội phát huy khả năng
độc lập của bản thân và tạo cơ hội cho các em có thể tự đánh giá, kiểm tra mức độ
nắm vững kiến thức lẫn nhau và của chính bản thân các em. Tạo mọi điều kiện
thuận lợi để các em có thể tự đánh giá, kiểm tra khả năng nắm tri thức của mình..
+ GV cho các em trình bày kiến thức mình có được, HS làm thí nghiệm,
thực hành để các em có thể vận dụng các kiến thức đã học vào thực tế.
- Đối với HS:
+ Chuẩn bị bài trước khi lên lớp.
+ Biết phân phối thời gian học tập hợp lý cho từng môn học.
+ Lựa chọn phương pháp học riêng cho mình để ghi nhớ bài thật tốt.
hỏi lại GV hay các bạn khác.
+ Dành khoảng thời gian để xem xét lại những ghi chép.
+ Ghi chép khi đọc một thông tin, một bài học mới nào đó ở sách giáo khoa
sẽ giúp bạn nhớ được các thông tin đó.
Để sử dụng SĐTD trong khi dạy học kiến thức mới, tôi đã tổ chức các hình
thức sau cho HS:
Khi dạy HS hoàn toàn bằng bảng tôi thường dành một góc bảng bên phải để
cùng HS hoàn thiện SĐTD. Ví dụ khi dạy bài “Chất rắn kết tinh. Chất rắn vô định
hình” Vật lý 10, tôi đi theo tiến trình và cách trình bày như sau:
Bảng ghi được chia làm 2 phần chủ yếu
Chất rắn kết tinh.
(Ở bảng bên phải xuất hiện từ khóa “Chất
Chất rắn vô định hình
rắn” và hai nhánh “Chất rắn kết tinh” và
18
I. Chất rắn kết tinh
“Chất rắn vô định hình”)
1. Cấu trúc tinh thể
2. Đặc tính
3. Ứng dụng
(GV và HS cùng tìm hiểu phần I. Sau
khi học xong phần I, SĐTD xuất hiện
thêm 3 nhánh “Cấu trúc tinh thể”,
thống kiến thức sẽ rất dễ dàng với các em khi các em đã quen với cách làm việc có
hệ thống như trên.
2.3.3. Sử dụng SĐTD trong việc củng cố kiến thức
Củng cố bài giảng là một khâu quan trọng của bài giảng, là một yếu tố dẫn
đến sự thành công của bài giảng. Củng cố bài giảng giúp HS nhớ lại và khắc sâu
kiến thức hơn. Ngoài việc xác định kiến thức trọng tâm, HS còn có thể tự đánh giá
kết quả học tập của mình. Từ đó các em có thể điều chỉnh lại phương pháp học sao
cho phù hợp.
Bằng các phương pháp củng cố bài giảng cụ thể, GV sẽ giúp HS phát huy
tính tích cực, chủ động trong việc tiếp thu nội dung bài, đồng thời mở rộng và phát
triển tư duy cho HS.
Củng cố bài giảng còn tạo điều kiện tương tác giữa GV và HS. Điều đó tạo
hứng thú học tập cho HS, nuôi dưỡng bầu không khí lớp học, tạo điều kiện để HS
phát biểu ý kiến.
Một số phương pháp củng cố bài thường dùng:
Củng cố bài giảng bằng thiết kế và sử dụng các sơ đồ, bảng biểu.
20
Biện pháp củng cố này giúp HS hiểu được kiến thức thông qua khả năng
phân tích, so sánh và móc nối các kiến thức.
Thường áp dụng với những bài mang tính so sánh hay tổng quát, có thể sử
dụng các sơ đồ, bảng biểu để hệ thống lại kiến thức.
Củng cố bài giảng bằng việc sử dụng hệ thống câu hỏi, bài tập.
Biện pháp này đánh giá việc học của HS, rèn cho HS khả năng diễn đạt.
Nhưng sẽ tạo áp lực cho các HS tiếp thu chậm và không hiểu bài ngay tại lớp.
Phương pháp áp dụng đối với những bài học nhiều lý thuyết.
Củng cố bài giảng bằng việc tổ chức các trò chơi.
Biện pháp này tạo sự vui vẻ, hứng khởi cho HS đối với môn học. Nhưng có
Đa tinh thể
Nhiệt độ nóng chảy
Tính dị hướng
Chất rắn kết tinh
Chất rắn vô định hình
Tính đẳng hướng
Sau đó, tôi đảo các thẻ để 2 nhóm 3-5 em tổ chức thi đua hoàn thành bằng
cách dán trên bảng hoặc cá nhân (tùy vào đối tượng lớp) chọn lựa, sắp xếp và nối
các đường liên kết từ các thẻ lại sao cho hợp lí nhất. Kết quả thu được sau củng cố
bài là hai dạng sơ đồ như sau:
Dạng sơ đồ thứ nhất:
Chất rắn
Chất rắn kết tinh
Chất
rắn kết
tinh
Dạng sơ đồ thứ 2:
Chất rắn vô định hình
Cấu trúc
tinh thể
Nhiệt độ
phân tích nhằm khắc sâu kiến thức qua các từ khóa của sơ đồ, cũng như hướng dẫn
23
các em kết nối các từ khóa đó. Bởi mục đích cuối cùng của tôi là giúp các em có
thể liên kết các bài có kiến thức liên quan được hệ thống thành một SĐTD hoàn hảo.
2.3.4. Sử dụng SĐTD trong việc dạy tiết ôn tập, tổng kết kiến thức
* Những điểm cần chú ý về mặt phương pháp khi tiến hành bài ôn tập, tổng kết:
Bài ôn tập tổng kết không phải chỉ là sự tái hiện, giảng lại kiến thức cho
học sinh mà phải thể hiện được sự hệ thống hóa, khái quát hóa và vận dụng,
nâng cao toàn diện kiến thức của phần cần ôn tập cho học sinh. Vì vậy cần có
sự xác định mục tiêu rõ ràng cho bài ôn tập về kiến thức, kỹ năng cần hệ thống,
khái quát và mức độ phát triển kiến thức cho phù hợp với khả năng nhận thức của
học sinh.
Khi chuẩn bị bài ôn tập cần sắp xếp các kiến thức cần khái quát, hệ thống cho
một chương hay một phần theo hệ thống có logic chặt chẽ, theo tiến trình phát triển
của kiến thức, cùng các kỹ năng cần rèn luyện.
Phương pháp dạy học được sử dụng chủ yếu trong giờ ôn tập là đàm
thoại tìm tòi, sử dụng bài tập Vật lý. Việc khái quát hóa kiến thức, phát triển tư
tưởng, năng lực nhận thức của học sinh đựơc điều khiển bằng các câu hỏi dẫn dắt
giúp học sinh tìm ra mối liên hệ giữa các kiến thức và khái quát chúng ở dạng tổng
quát nhất. Vì vậy giáo viên cần chuẩn bị một hệ thống câu hỏi cho từng phần kiến
thức, mối liên hệ giữa các kiến thức, vận dụng kiến thức, đào sâu phát triển kiến
thức. Các câu hỏi nêu ra phải rõ ràng, có tác dụng nêu vấn đề để học sinh trình bày
suy luận, thể hiện được khả năng tư duy khái quát của mình.
Sự trình bày các bài tổng kết: Tùy theo nội dung cần tổng kết và sự phát
triển của kiến thức, bài tổng kết có thể trình bày theo các đề mục, các vấn đề của
nội dung mang kiến thức cần ôn tập. Đồng thời bài tổng kết cũng có thể trình bày ở
dạng các bảng tổng kết, các sơ đồ thể hiện mối liên hệ các kiến thức giúp học sinh
Khoảng 2 - 4 phút: Các em bổ sung yù tưởng riêng của mình và trao đổi với
các bạn cùng nhóm.
Khoảng 2 - 3 phút tiếp theo: Đại diện nhóm lên trình bày sơ đồ của nhóm
mình.
Thời gian còn lại, tôi cùng các HS góp yù, đánh giá, trình chiếu sơ đồ mà tôi
đã vẽ sẵn bằng phần mềm và cả bản vẽ SĐTD trên giấy để các em đối chiếu, so
sánh, chỉnh sửa lại cho hợp lí.
Ví dụ SĐTD ôn tập “Chương III. Dòng điện xoay chiều” Vật lý 12
25
Qua SĐTD hệ thống kiến thức, tôi chốt lại những kiến thức cần nhớ, đặc
biệt là các từ khóa và để HS hiểu và nắm vững kiến thức nhờ hình ảnh trên sơ đồ.
Có thể nói, đây là một phương pháp giúp người học lưu kiến thức trong trí nhớ
được sâu và dài hơn so với các phương pháp khác.
26
Phần 3. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
1. Kết luận
Với những biện pháp trên tôi đã áp dụng vào các kiểu bài dạy: Dạy bài học
tìm hiểu kiến thức mới, tiết ôn tập tổng kết… và áp dụng trong các phần như: kiểm
tra bài cũ, củng cố kiến thức hoặc xuyên suốt quá trình của một tiết học.
HS tiếp cận kiến thức một cách nhẹ nhàng hơn, nắm vững kiến thức sâu hơn
và có khả năng nhớ lâu hơn nhờ tác dụng của sơ đồ tạo hình sinh động và khoa
học. Theo chủ quan tôi phân ra 5 cấp độ cho HS khi học theo SĐTD
Cấp độ 1: HS quan sát SĐTD theo mẫu đã vẽ sẵn
Cấp độ 2: HS tái hiện lại SĐTD sau khi đã quan sát, đã học về kiến thức cần
trình bày trong SĐTD
1
12
17
0
5
20
HS từ TB trở lên tăng,
SĐTD
đặc biệt điểm khá
27
Yếu
Kém
3,0-5,0
0,0-3,0
5
0
7
5
HS yếu, kém giảm
- Tôi hi vọng các GV, HS sẽ sử dụng SĐTD để hệ thống kiến thức một cách
vững vàng hơn không những ở bộ môn Vật lý mà có thể vận dụng được cho tất cả
các bộ môn khác. Ngoài ra, có thể áp dụng dạng SĐTD này vào trong cuộc sống
hằng ngày như lập kế hoạch, thời gian làm việc hay vẽ ra những lựa chọn cho
SĐTD và xây dựng thư viện SĐTD để GV và HS có thể khai thác, sử dụng.
Trên đây là một số ý kiến của tôi, kính mong các cấp lãnh đạo nghiên cứu và
xem xét để đề tài được áp dụng rộng rãi nhằm thực hiện tốt mục tiêu đổi mới giáo
dục và giảng dạy bộ môn đạt hiệu quả cao.
29