“SỬ DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY
TRONG DẠY HỌC LỊCH S Ở TRƯỜNG THPT”
MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 3
1. Lí do chọn đề tài 3
2. Mức độ nghiên cứu đề tài 8
3. Đối tượng, khách thể, phạm vị nghiên cứu 8
4. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 9
5. Kết cấu của đề tài 12
NỘI DUNG 13
Phần I . Nêu thực trạng của vấn đề 13
1. Thuận lợi 13
2. Khó khăn 14
Phần II . Mô tả và giới thiệu các nội dung, biện pháp chính 15
1. Thực trạng và giải pháp 15
1.1 Giảng dạy sơ đồ tư duy nhằm tăng tính tích cực trong HS 15
1.2 GV trở thành người hướng dẫn hỗ trợ 16
1.3 Những lưu ý HS khi sử dụng sơ đồ tư duy 19
2. Giảng dạy và học tập với công cụ sơ đồ tư duy 20
2.1 Giới thiệu đôi nét về sơ đồ tư duy 20
2.2 Nguyên lý và ứng dụng sơ đồ tư duy trong dạy học 20
2.3 Giới thiệu một số phần mềm để tạo sơ đồ tư duy 22
3 Tiến trình một tiết dạy theo sơ đồ tư duy 24
Phần III. Kết quả và bài học kinh nghiệm và kiến nghị 37
1. Kết quả 37
2. Bài học kinh nghiệm 38
3. Kiến nghị 42
KẾT LUẬN 44
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 47
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
mang tính áp đặt.
Việc giáo viên sử dụng cách dạy học theo kiểu đọc – chép, có thể kể
ra một số nguyên nhân sau:
Do một số bài học của chương trình có lượng kiến thức nhiều, trong
một tiết học chỉ có 45 phút, mà đã mất 10 đến 15 phút ổn định tổ chức, kiểm
tra bài cũ, dặn dò học, làm bài tập ở nhà…Như vậy, chỉ còn khoảng 30 phút
để giảng bài mới nên giáo viên chọn cách “đọc – chép”.
Học sinh hiện nay khả năng tự ghi bài là rất chậm, rất hạn chế, thụ
động trong học tập nên cũng có thầy cô chọn cách đọc bài, học trò chép bài.
Học sinh về nhà chỉ cần học thuộc nội dung đã được ghi, khi kiểm tra bài chỉ
cần đọc đúng, ghi đúng là được điểm cao…
Cũng còn một số giáo viên không chịu khó đầu tư cho việc thiết kế bài
dạy sao cho phù hợp với từng đối tượng học sinh mình đang phụ trách, sợ mất
sức, cứ sẵn giáo án mẫu đọc cho học sinh chép, khi cần thỉnh thoảng mới dừng
lại ghi vài chữ lên bảng. Như thế, vừa không sợ sai kiến thức cơ bản, lại vừa
không tốn sức.
Trang thiết bị và các phòng học chức năng không đủ hoặc không có
để đáp ứng nhu cầu dạy học theo hướng đổi mới, hiện đại hóa, học sinh không
có nhiều điều kiện để thực hành hoặc học theo phương pháp trực quan sinh
động.
Khắc phục tình trạng đọc – chép là một yêu cầu cần thiết để nâng cao
chất lượng dạy học đối với tất cả các môn học. Đó là một nhiệm vụ vô cùng
khó khăn phức tạp trong điều kiện hiện nay của nhiều trường. Thực hiện tốt
việc chống dạy học theo kiểu “đọc – chép” là cả một quá trình lâu dài với sự
cố gắng của nhiều đối tượng khác nhau trong đó sự tận tâm của thầy cô giáo là
điều hết sức quan trọng mới có thể có kết quả.
Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Chỉ thị bắt đầu từ năm
học này (2011 – 2012) chấm dứt việc dạy học chủ yếu qua đọc chép và nhìn
chép ở bậc trung học phổ thông.
Đây là chủ trương phù hợp với tiến trình đổi mới và nâng cao chất
dung chính để tập trung học hỏi. Rồi khi thi kiểm tra chất lượng, thầy có chấp
nhận nội dung bài thi khác với ý của mình hay không.
Đội ngũ giáo viên hiện nay phần lớn cũng được đào tạo bằng phương
pháp “đọc – chép” nên để thay đổi cách giảng dạy cũng khó có thể đạt kết quả
một sớm một chiều. Trong khi đó, bộ sách giáo khoa bậc phổ thông đang tiếp
tục được thay đổi và nội dung còn khá nặng nề cũng là một lực cản trong quá
trình nói không với “đọc – chép”.
Thực tế những năm qua có nhiều giáo viên (kể cả bậc đại học) đã áp
dụng phương pháp giảng dạy không đọc chép cho học sinh, sinh viên và đem
lại hiệu quả rõ nét. Nhưng vì không có động lực, thiếu sự khuyến khích, động
viên và tiêu chí rõ ràng, nên cách làm này chỉ có tính tự phát ở một số ít
người.
Chấm dứt tình trạng không đọc chép sẽ trở thành hiện thực nếu đội
ngũ giáo viên được coi trọng, nếu đội ngũ giáo viên có động lực và sự đánh giá
nghiêm túc, công bằng từ các cơ quan quan quản lý.
Trong giai đoạn hiện nay, xu hướng dạy học hiện đại với sự kết hợp
những thành tựu công nghệ thông tin đã và đang diễn ra một cách khá phổ biến
ở các ngành học, cấp học. Công nghệ thông tin với tư cách là một phương tiện
hỗ trợ cho việc dạy học đang chứng tỏ những ưu thế và hiệu quả trong quá
trình dạy học nói chung và đối với bộ môn lịch sử nói riêng.
4
Trong năm học 2007 – 2008 Sở GD&ĐT Bình Dương đã triển khai
cho các Trường THCS trong tỉnh thực hiện dạy học theo “Sơ đồ tư duy” và
mỗi trường THPT cử một giáo viên dự lớp tập huận đổi mới phương pháp dạy
học theo phương pháp mới do Microsoft tài trợ, nhưng hiện nay chưa triển
khai đến giáo viên các trường THPT.
Đầu năm học 2011 – 2012 Hiệu trưởng Trường THPT Dĩ An Vương
Văn Thanh triển khai chỉ thị năm học mới của Bộ GD&ĐT trong đó có nêu lên
chỉ thị “chấp dứt hoàn hoàn việc đọc – chép hoặc nhìn – chép ở trường THPT”
và thầy Hiệu trưởng có giới thiệu một phương pháp giảng dạy mà từ lâu các
+ Khách thể nghiên cứu : Môn LS lớp 10 và lớp 12 ở trường THPT.
+ Phạm vi nghiên cứu : Hướng dẫn học sinh ghi bài theo sơ đồ tư duy.
4. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Cuộc vận động chấm dứt cách dạy học “đọc chép” nếu thành công, sẽ
góp phần nâng cao chất lượng giáo dục. Theo GS – TS Đinh Quang Báo,
nguyên Hiệu trưởng trường Đại học Sư phạm Hà Nội, để cuộc vận động này
thành công, thì đội ngũ giáo viên là yếu tố quyết định. Do vậy ngay từ khâu
đào tạo giáo viên ở các trường đại học, cao đẳng phải đào tạo họ biết cách
“không đọc chép”.
Vấn đề càng tỏ ra bức xúc hơn khi Bộ trưởng Giáo dục – Đào tạo
Nguyễn Thiện Nhân phát động chiến dịch “Nói không với đọc chép” cùng với
việc “Nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục”.
Nói thì dễ nhưng làm thật khó. Nhiều đồng nghiệp đã nhận thức được sự tai
hại của việc dạy học theo lối đọc chép, nhưng quả thực để “Nói không với đọc
chép”, có người chưa biết nên bắt đầu từ đâu, làm như thế nào, thậm chí còn
rất ái ngại, vì thay đổi một tập quán không dễ gì nếu thiếu một quyết tâm và sự
định hướng.
Để góp phần tạo nên sự chuyển biến trong dạy học bộ môn, đáp ứng
yêu cầu phát triển xã hội, và để “Nói không với đọc chép”, giáo viên lịch sử
cần lưu ý một số điểm sau đây:
Trước hết, giáo viên phải nhận thức đúng đắn tầm quan trọng của việc
dạy học lịch sử là phải cung cấp cho học sinh một hệ thống kiến thức cơ bản
về lịch sử thế giới, lịch sử dân tộc và lịch sử địa phương, qua đó giáo dục tư
tưởng, tình cảm, đạo đức, truyền thống cho học sinh. Nghĩa là phải vừa khai
trí vừa khai tâm cho các em. Hai nhiệm vụ này luôn gắn chặt và hỗ tương với
nhau. Phải giúp cho các em am tường và biết cách vận dụng những tri thức
lịch sử vào cuộc sống.Trong sách giáo khoa, các nội dung sự kiện được trình
bày một cách cô đọng vốn đã rất cần sự phân tích diễn giải, minh hoạ, so sánh,
đối chiếu để giúp học sinh hiểu vấn đề một cách thấu đáo. Nếu dạy theo lối
đọc chép, có nghĩa giáo viên một lần nữa tóm tắt sách giáo khoa, đọc cho các
và được các nước tiên tiến trên thế giới sử dụng đạt hiệu quả cao. Nếu biết
khai thác tốt sơ đồ tư duy sẽ hỗ trợ đắc lực cho giáo viên trong quá trình giảng
dạy. Cùng với sự kết hợp các phương pháp, phương tiện trực quan và kỹ thuật
sẽ góp phần đẩy lùi hiện tượng “đọc chép” một cách có hiệu quả.Việc sử dụng
sơ đồ tư duy cùng phương tiện trực quan và kỹ thuật đòi hỏi giáo viên phải có
sự đầu tư công sức và trí tuệ cho bài giảng. Rõ ràng làm tốt công việc này sẽ
góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả giờ dạy và hiên tượng “đọc chép” sẽ
không có cơ hội để tồn tại.
Lý luận dạy học đã chỉ ra rằng, học sinh vừa là đối tượng, vừa là chủ
thể của quá trình dạy học. Dạy học theo lối đọc chép có nghĩa giáo viên đã thủ
tiêu mất vai trò chủ thể của học sinh, đưa các em vào trạng thái hoàn toàn thụ
động, bị nhồi nhét một cách đáng thương. Việc tạo ra mô hình dạy học sử dụng
sơ đồ tư duy trong đó học sinh có điều kiện trao đổi với thầy với bạn, sẽ phát
huy tốt tính tích cực, chủ động của các em, giúp các em vươn lên chiếm lĩnh tri
thức.Thay đổi mô hình dạy học theo sơ đồ tư duy là một yêu cầu không thể
thiếu được. Nó vừa phát huy tốt ưu thế của bộ môn, vừa tạo được sự hấp dẫn,
7
hứng thú đối với học sinh. Cần chú ý mô hình dạy lịch sử theo sơ đồ tư duy,
giảm dần tính biên niên trong dạy học lịch sử.
Khả năng vận dụng tri thức đã học vào cuộc sống là cái đích của việc
dạy học bộ môn. Khả năng đó có được từ nghệ thuật truyền dạy và tổ chức rèn
luyện của giáo viên cho các em. Học lịch sử mà không liên hệ được thực tế,
không làm bài tập thực hành, sẽ không thể nào có được năng lục vận dụng và
như vậy sự học trở nên vô bổ. Cuộc sống đang đặt ra vô vàn những vấn đề
phức tạp, hiểu sâu sắc lịch sử để lý giải những vấn đề của cuộc sống hiện tại là
vô cùng cần thiết, nó tỏ rõ ưu thế của bộ môn. Không làm tốt điều này xem
như giáo viên lịch sử chưa hoàn thành nhiệm vụ.
Dạy học “đọc chép” sẽ phải kiểm tra đánh giá theo kiểu “đọc chép”
và ngược lại. Đó là lẽ đương nhiên. Đổi mới phong cách dạy học phải đi liền
với việc thay đổi cách thức kiểm tra đánh giá. Giáo viên phải biết trăn trở, lựa
Một số phần mềm sơ đồ tư duy được phổ biến rộng rãi nên đã hỗ trợ
cho giáo viên và học sinh khi trình bày sơ đồ tư duy trên máy chiếu.
2. Khó khăn khi thực hiện đề tài SKKN
9
Khi dự giờ các tiết dạy giáo viên còn theo bảng chấm điểm cũ, hầu
như đa số giáo viên của các trường THPT đều chưa giảng dạy học sinh theo
phương pháp sử dụng sơ đồ tư duy vào trong một tiết dạy.
Giáo viên ở các trường THCS không hướng dẫn kỹ cách thực hiện cho
học sinh và chưa nêu rõ tầm quan trọng của việc dạy học theo phương pháp
mới nầy nên tôi phải cho học sinh lớp 10 và lớp 12 xem phim minh họa, hướng
dẫn học sinh cách sử dụng phần mềm, cách vẽ sơ đồ tư duy lại từ đầu (xem
phim hướng dẫn sử dụng sơ đồ tư duy theo dĩa CD đính kèm).
Phần II . Mô tả và giới thiệu các nội dung, biện pháp chính
“SỬ DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ
Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG”
1. Thực trạng và giải pháp:
1.1 Giảng dạy theo sơ đồ tư duy tăng cường tính tích cực của học sinh
Năm học 2011-2012 là năm đầu tiên ngành Giáo dục và Đào tạo triển
khai giảng dạy theo sơ đồ tư duy ở bậc học THPT. Qua thực tế cho thấy việc
giảng dạy này đã tạo hứng thú cho học sinh. Mỗi học sinh có thể tự lập sơ đồ
tư duy cho mình dưới sự hướng dẫn của giáo viên để bài học trở nên dễ thuộc,
10
dễ hiểu, dễ nhớ hơn. Cùng một nội dung nhưng các em có thể thêm nhánh,
thêm chú thích dưới dạng hình vẽ nhiều màu sắc tùy vào cách hiểu, cách lĩnh
hội kiến thức trong bài học của mình.
Ngay từ đầu năm học, sau khi đăng kí đề tài SKKN tôi đã tìm hiểu, áp
dung dạy học lịch sử bằng sơ đồ tư duy. Từ đó tôi tự lập kế hoạch giảng dạy cho
từng tiết học. Nếu không sử dụng phần mềm, giáo viên có thể linh động sử dụng
hình vẽ tay với những màu sắc, hình ảnh, từ ngữ diễn đạt khác nhau nhằm giúp
học sinh có thể nắm bắt và nhớ được phần cốt lõi của bài giảng ngay tại lớp học.
học theo cách hiểu của mình với nhiều màu sắc và hình ảnh khác nhau. Đến tiết
học sau, chỉ cần nhìn vào sơ đồ, các em có thể nhớ được những phần trọng tâm
của bài học. Giảng dạy theo sơ đồ tư duy mang tính khả thi cao vì có thể vận
dụng được với bất kỳ điều kiện cơ sở vật chất nào của các nhà trường, có thiết kế
trên giấy, bìa, bảng bằng cách sử dụng bút chì màu, phấn màu hoặc cũng có thể
thiết kế trên phần mềm sơ đồ tư duy đã được triển khai đến từng trường. Việc vận
11
dụng sơ đồ tư duy trong dạy học sẽ dần hình thành cho học sinh tư duy mạch lạc,
hiểu biết vấn đề một cách sâu sắc, có cách nhìn vấn đề một cách hệ thống, khoa
học.
Sơ đồ tư duy hay bản đồ tư duy (Mind Map) là hình thức ghi chép sử
dụng màu sắc, hình ảnh nhằm tìm tòi đào sâu, mở rộng một ý tưởng, tóm tắt
những ý chính của một nội dung, hệ thống hoá một chủ đề. Nó là một công cụ
tổ chức tư duy được tác giả Tony Buzan (Anh) nghiên cứu kỹ lưỡng và phổ
biến rộng khắp thế giới.
Tony Buzan sinh năm 1942, chuyên gia hàng đầu thế giới về nghiên
cứu hoạt động của bộ não và là cha đẻ của Mind Map.
Phương pháp tư duy của ông được dạy và sử dụng ở khoảng 500 tập
đoàn, công ty hàng đầu thế giới; hơn 250 triệu người sử dụng phương pháp
Mind Map của Tony Buzan; khoảng hơn 3 tỷ người đã từng xem và nghe
chương trình của ông (ông đã từng sang Việt Nam năm 2007 để nói chuyện về
lĩnh vực nghiên cứu của mình).
Trong dạy học: Việc sử dụng sơ đồ tư duy huy động tối đa tiềm năng
của bộ não, giúp học sinh học tập tích cực, hỗ trợ hiệu quả các phương pháp
dạy học.
12
Vận dụng sơ đồ tư duy trong dạy học, giáo viên giúp học sinh có thói
quen tự tay ghi chép hay tổng kết một vấn đề, một chủ đề đã đọc – đã học,
theo cách hiểu của học sinh với dạng sơ đồ tư duy.
Sau khi cho học sinh làm quen với một số sơ đồ tư duy có sẵn, giáo
hết hứng thú khi tiếp nhận một thông tin hoàn chỉnh. Vì vậy, trên mỗi nhánh
học sinh chỉ viết một, hai từ khóa mà thôi. Khi đó, học sinh sẽ viết rất nhanh
và khi đọc lại, não của học sinh sẽ được kích thích làm việc để nối kết thông
tin và nhờ vậy, thúc đẩy năng lực gợi nhớ và dần dần nâng cao khả năng ghi
nhớ của học sinh.
Giáo viên nên thường xuyên cho học sinh sử dụng sơ đồ tư duy khi
làm việc nhóm và hệ thống kiến thức đã học trong môn học lịch sử, đặc biệt là
khi ôn tập cho các kỳ thi (dù là thi , học , đều sử dụng tốt). Sơ đồ tư duy cũng
giúp các học sinh và các thầy cô tiết kiệm thời gian làm việc ở nhà và trên lớp
13
rất nhiều với các phần mềm sơ đồ tư duy trên máy tính học sinh có thể làm tại
nhà và gửi email cho các thầy cô chấm chữa trước khi lên lớp.
2. Giảng dạy và học tập với công cụ sơ đồ tư duy
2.1 Giới thiệu đôi nét về sơ đồ tư duy
Việc phát triển tư duy cho học sinh và giảng dạy kiến thức về thế giới
xung quanh luôn là một trong những ưu tiên hàng đầu của những người làm
công tác giáo dục. Nhằm hướng học sinh đến một phương cách học tập tích
cực và tự chủ, giáo viên không những cần giúp học sinh khám phá các kiến
thức mới mà còn phải giúp học sinh hệ thống được những kiến thức đó. Việc
xây dựng được một “hình ảnh” thể hiện mối liên hệ giữa các kiến thức sẽ
mang lại những lợi ích đáng quan tâm về các mặt: ghi nhớ, phát triển nhận
thức, tư duy, óc tưởng tượng và khả năng sáng tạo…Một trong những công cụ
hết sức hữu hiệu để tạo nên các “hình ảnh liên kết” là sơ đồ tư duy.
2.2 Nguyên lý và ứng dụng sơ đồ tư duy trong dạy học
Sơ đồ tư duy (Mind Map) là một hình thức ghi chép sử dụng màu sắc
và hình ảnh, để mở rộng và đào sâu các ý tưởng. Kỹ thuật tạo ra loại sơ đồ này
được gọi là Mind Mapping và được phát triển bởi Tony Buzan vào những năm
1960.
Ở vị trí trung tâm sơ đồ là một hình ảnh hay một từ khóa thể hiện một
ý tưởng hay khái niệm chủ đạo. Ý trung tâm sẽ được nối với các hình ảnh hay
nhiên có thể tải bản dùng thử 30 ngày. Phần mềm do công ty Buzan Online
Ltd. thực hiện. Trang chủ tại www.imindmap.com
Phần mềm Inspiration: sản phẩm thương mại của công ty Inspiration
Software, Inc. Sản phẩm có phiên bản dành cho trẻ em (các em từ mẫu giáo
đến lớp 5) rất dễ dùng và nhiều màu sắc. Có thể dùng thử 30 ngày. Trang chủ
tại www.inspiration.com
Phần mềm Visual Mind: sản phẩm thương mại của công ty Mind
Technologies. Phần mềm dễ sử dụng và linh hoạt trong sắp xếp các nút chứa
từ khóa. Có thể dùng thử 30 ngày. Trang chủ tại www.visual-mind.com
Phần mềm FreeMind: sản phẩm hoàn toàn miễn phí, được lập trình
trên Java. Các icon chưa được phong phú, tuy nhiên chương trình có đầy đủ
chức năng để thực hiện mind mapping. Trang chủ tại:
/>Ngoài ra, chúng ta còn có thể tham khảo một danh sách các phần mềm
loại mind mapping tại địa chỉ sau:
/>15
Mind mapping – Sơ đồ tư duy
Trước nay, chúng ta ghi chép thông tin bằng các ký tự, đường thẳng, con
số. Với cách ghi chép này, chúng ta mới chỉ sử dụng một nửa của bộ não – não
trái, mà chưa hề sử dụng kỹ năng nào bên não phải, nơi giúp chúng ta xử lý các
thông tin về nhịp điệu, màu sắc, không gian và sự mơ mộng. Hay nói cách khác,
chúng ta vẫn thường đang chỉ sử dụng 50% khả năng bộ não của chúng ta khi ghi
nhận thông tin. Với mục tiêu giúp chúng ta sử dụng tối đa khả năng của bộ não,
Tony Buzan đã đưa ra sơ đồ tư duy để giúp mọi người thực hiện được mục tiêu này
16
P
3. Tiến trình một tiết dạy theo sơ đồ tư duy
Trước khi áp dụng phương pháp "Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy
học lịch sử ở trường THPT” giáo viên giới thiệu cho học sinh xem một số
đoạn phim ngắn (có gửi kèm theo đĩa CD gắn chung với SKKN) cho học sinh
của mỗi học sinh, học sinh sẽ xây dựng được những mối quan hệ trực quan và
có ý nghĩa giữa những ý tưởng; điều này sẽ hỗ trợ học sinh rất nhiều trong việc
gợi nhớ và hiểu.
Ý tưởng của bản đồ tư duy là suy nghĩ sáng tạo và liên kết bằng một
cách thức phi tuyến tính. Có rất nhiều thời gian để chỉnh sửa thông tin sau này
nhưng ở bước đầu tiên, việc đưa mọi khả năng vào bản đồ là rất quan trọng.
Đôi khi một trong những khả năng tưởng như là không thể ấy lại trở thành ý
tưởng chủ chốt đưa học sinh đến kiến thức đó.
Vài học sinh phát hiện rằng sử dụng những kí tự viết hoa sẽ thu hút
các em chỉ chú ý vào những điểm chính. Chữ viết hoa cũng dễ đọc hơn trong
một sơ đồ. Tuy nhiên, học sinh có thể viết vài ghi chú, giải thích bằng chữ viết
thường. Một số học sinh làm thế để khi cần xem lại bản đồ tư duy một thời
gian sau, trong lúc số khác lại dùng để ghi lại những đánh giá, phê bình.
Hầu hết học sinh đều thấy tiện dụng khi lật ngang trang giấy và vẽ sơ
đồ tư duy của các em theo chiều ngang. Đặt ý tưởng hoặc chủ đề chính vào
chính giữa trang giấy, ta sẽ có có không gian tối đa cho những ý khác tỏa ra từ
trung tâm.
18
Vài sơ đồ tư duy hữu dụng nhất thường được học sinh bổ sung hoàn
chỉnh trong một khoảng thời gian dài tiếp tục sau nầy trong quá trình học tập
của các em. Sau lần vẽ ban đầu, học sinh có thể muốn làm nổi bật vài thứ,
thêm thông tin hoặc thêm vài câu hỏi. Vì vậy, để trống nhiều chỗ trên bản đồ
là một ý hay để sau đó học sinh có thể thêm vào những ý tưởng mới.
Hướng dẫn học sinh làm sơ đồ tư duy
Đây là những thành phần cấu tạo nên một bản đồ tư duy, mặc dù
chúng có thể được chỉnh sửa tự do theo ý muốn cá nhân.
• Bắt đầu ở trung tâm với một bức ảnh của chủ đề, sử dụng ít nhất 3
màu.
• Sử dụng hình ảnh, ký hiệu, mật mã, mũi tên trong bản đồ tư duy
của bạn.
19
chỉ ra sự liên quan đan chéo. Việc này sẽ giúp cho học sinh thấy mức ảnh
hưởng một phần trong chủ đề đến các phần khác.
* Chú ý: Lập sơ đồ tư duy là một cách thức cực kỳ hiệu quả để ghi
chú. Các bản đồ tư duy không chỉ cho thấy các thông tin mà còn cho thấy cấu
trúc tổng thể của một chủ đề và mức độ quan trọng của những phần riêng lẻ
trong đó đối với nhau. Nó giúp học sinh liên kết các ý tưởng và tạo các kết nối
với các ý khác.
Kiểm tra bài cũ : giáo viên goi học sinh lên bảng thuyết trình sơ đồ tư
duy của bài học cũ trước lớp. Giáo viên và các bạn khác có thể đặt thêm câu
hỏi để học sinh trả lời. Bắt buộc 100% hoc sinh phải có sơ đồ tư duy bài học
cũ và các sơ đồ tư duy được học sinh lưu trong bìa giấy hoặc một túi hồ sơ để
sử dụng khi ôn tập và khi giáo viên kiểm tra thay cho vỡ ghi bài. Học sinh
cũng có thể có một tập nháp vẽ sơ đồ tư duy ngay tại lớp trong giờ học. Về nhà
học sinh sẽ tự chỉnh sửa sơ đồ tư duy bằng hình vẽ bằng tay hoặc bằng phần
mềm vẽ sơ đồ tư duy và lưu trên máy tính cá nhân để ôn tập các kì thi.
20
Dạy bài mới : Giáo viên giới thiệu bài mới và vẽ chủ đề chính của bài
học lên bảng bằng một hình vẽ bất kì trên bảng của lớp mà không ghi bài theo
kiểu cũ và giáo viên cho học sinh ngồi theo nhóm thảo luận sơ đồ tư duy của
mỗi học sinh đã chuẩn bị trước ở nhà để đối chiếu với sơ đồ tư duy của các
bạn trong nhóm.
Giáo viên đặt câu hỏi chủ đề nội dung chính hôm nay có mấy nhánh
lớn cấp số 1 và gọi học sinh học sinh lên bảng vẽ nối tiếp chủ đề chia thành
các nhánh lớn trên bảng có ghi chú thích tên từng nhánh lớn.
Sau khi học sinh vẽ xong các nhánh lớn cấp số 1, giáo viên đặt câu hỏi
tiếp ở nhánh thứ nhất có mấy nhánh nhỏ cấp số 2 tương tự học sinh đã hoàn
thành nội dung sơ đồ tư duy của bài học mới ngay tại lớp. Học sinh tự chỉnh
sửa điều chỉnh bổ sung những phần còn thiếu vào sơ đồ tư duy của từng cá
nhân.
Sơ đồ tư duy chú trọng tới hình ảnh, màu sắc, với các mạng lưới
liên tưởng (các nhánh). Có thể vận dụng sơ đồ tư duy vào hỗ trợ dạy học kiến
thức mới, củng cố kiến thức sau mỗi tiết học, ôn tập hệ thống hóa kiến thức
sau mỗi chương, mỗi học kì
22
Giáo viên có thể tổ chức một số hoạt động khác sau đây khi sử dung
sơ đồ tư duy trong dạy học lịch sử ở trường THPT:
Hoạt động 1: Lập sơ đồ tư duy : Mở đầu bài học, giáo viên có thể cho
học sinh lập sơ đồ tư duy theo nhóm hay cá nhân với các gợi ý của giáo viên.
Hoạt động 2: Báo cáo, thuyết minh về sơ đồ tư duy : Cho một
vài học sinh hoặc đại diện của các nhóm học sinh lên báo cáo, thuyết minh về
sơ đồ tư duy mà nhóm mình đã thiết lập. Qua hoạt động này vừa biết rõ việc
hiểu kiến thức của các em vừa là một cách rèn cho các em khả năng thuyết
trình trước đông người, giúp các em tự tin hơn, mạnh dạn hơn, đây cũng là một
trong những điểm cần rèn luyện của học sinh hiện nay.
Hoạt động 3: Thảo luận, chỉnh sửa, hoàn thiện sơ đồ tư duy : Tổ
chức cho học sinh thảo luận, bổ sung, chỉnh sửa để hoàn thiện sơ đồ tư duyvề
kiến thức của bài học. Giáo viên sẽ là người cố vấn, là trọng tài giúp học sinh
hoàn chỉnh sơ đồ tư duy về hình thức, từ đó dẫn dắt đến kiến thức trọng tâm
của bài học.
Hoạt động 4: Củng cố kiến thức bằng một sơ đồ tư duy : Giáo viên
cho học sinh lên trình bày, thuyết minh về kiến thức bài học thông qua một sơ
đồ tư duy do giáo viên đã chuẩn bị sẵn (vẽ ở bảng phụ hoặc ở bìa), hoặc sơ đồ
tư duy mà các em vừa thiết kế và cả lớp đã chỉnh sửa, hoàn thiện. Giáo viên có
thể giới thiệu sơ đồ tư duy khác của học sinh chuẩn bị ở nhà bằng phần mềm
mind – map (vì sơ đồ tư duy là một sơ đồ mở nên không yêu cầu tất cả các
nhóm học sinh có chung 1 kiểu sơ đồ tư duy, Giáo viên chỉ nên chỉnh sửa cho
23
học sinh về mặt kiến thức và góp ý thêm về đường nét vẽ và hình thức – nếu
cần).
25