Đề tài sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học lịch sử - Pdf 22

Đề tài: Sử dụng sơ đồ để hệ thống hóa kiến thức Lịch sử THPT
Người thực hiện: Nguyễn Thị Huyền – Giáo viên Trung tâm GDTX Yên Lạc
1

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ

1. Lý do chọn đề tài
Lịch sử là một môn khoa học xã hội. Lịch sử là những sự kiện, hiện
tượng đã xảy ra trong quá khứ xã hội của loài người, nó tồn tại độc lập, khách
quan với ý muốn con người. Do đặc trưng môn Lịch sử khác với các môn học
khác trong chương trình dạy học ở phổ thông đó là: học sinh không được trực
tiếp chứng kiến sự kiện, vì lịch sử đó không lặp lại, không được biểu diễn trong
phòng thí nghiệm. Hơn nữa, vấn đề nhận thức môn Lịch sử cũng khác so với các
môn học khác: nó có nhận thức chung của quy luật loài người từ trực quan sinh
động đến tư duy trừu tượng và thực tiễn. Đồng thời nhận thức lịch sử cũng có
sắc thái riêng: nhận thức các sự kiện lịch sử phải tuân theo logic sự kiện, sự thật
khách quan chứ không phải tùy theo trí tưởng tượng của con người. Mỗi tác
động của giáo viên đều ảnh hưởng đến học sinh. Vì vậy, giảng dạy môn lịch sử
mỗi giáo viên phải dạy thế nào đó để tác động vào đúng quy luật nhận thức, giúp
học sinh lĩnh hội được đầy đủ những kiến thức mà mình truyền tải, từ đó biết
đánh giá, nhận định cũng như chủ động lĩnh hội kiến thức trên lớp.
Nhưng một thực tế cho thấy, từ lâu dạy học theo kiểu “đọc – chép” được
coi là một phương pháp dạy học để truyền tải kiến thức cho học sinh và được sử
dụng phổ biến ở nhiều trường trong cả nước. Ngành Giáo dục và Đào tạo cũng
đã có nhiều cuộc hội thảo và cũng đã đưa ra nhiều phương pháp dạy học tích cực
hơn… nhưng hiện tại không ít giáo viên vẫn sử dụng cách dạy học theo kiểu
“đọc – chép”
Phải nói rằng trong một tiết dạy, cũng có lúc giáo viên cần phải đọc cho
học sinh chép như môn chính tả ở bậc Tiểu học, đọc hoặc ghi lên bảng các
công thức toán học, bảng cửu chương, một sự kiện lịch sử, một số yếu tố địa lý,
đoạn thơ, các khái niệm ở bậc Trung học, điều này không có nghĩa là giáo viên

trong học tập đặc biệt là khối bổ túc văn hóa nên cũng có thầy cô chọn cách đọc
bài, học trò chép bài. Học sinh về nhà chỉ cần học thuộc nội dung đã được ghi,
khi kiểm tra bài chỉ cần đọc đúng, ghi đúng là được điểm cao…
Cũng còn một số giáo viên không chịu khó đầu tư cho việc thiết kế bài
dạy sao cho phù hợp với từng đối tượng học sinh mình đang phụ trách, sợ mất
sức, cứ sẵn giáo án mẫu đọc cho học sinh chép, khi cần thỉnh thoảng mới dừng
lại ghi vài chữ lên bảng. Như thế, vừa không sợ sai kiến thức cơ bản, lại vừa
không tốn sức.
Trang thiết bị và các phòng học chức năng không đủ hoặc không có để
đáp ứng nhu cầu dạy học theo hướng đổi mới, hiện đại hóa, học sinh không có
nhiều điều kiện để thực hành hoặc học theo phương pháp trực quan sinh động.
Khắc phục tình trạng đọc – chép là một yêu cầu cần thiết để nâng cao
chất lượng dạy học đối với tất cả các môn học. Đó là một nhiệm vụ vô cùng khó
khăn phức tạp trong điều kiện hiện nay của nhiều trường. Thực hiện tốt việc
chống dạy học theo kiểu “đọc – chép” là cả một quá trình lâu dài với sự cố gắng
của nhiều đối tượng khác nhau trong đó sự tận tâm của thầy cô giáo là điều hết
sức quan trọng mới có thể có kết quả.
Dạy theo kiểu “đọc cái có sẵn cho học sinh chép vào vở” cứ lặp đi lặp lại
nhiều năm, khiến công việc của các nhà giáo trở nên nhàm chán, không có động
lực để đổi mới. Còn với học sinh, dẫu biết rằng phải chép bài của thầy đọc từ
sách giáo khoa, cái mà các em có thể tự đọc – là một sự miễn cưỡng. Nhưng biết
làm sao, khi thầy yêu cầu trả bài phải đúng, thậm chí đúng nguyên văn những lời
thầy đọc.
Đã có những bài thi ngây ngô đến mức khó tin, bởi thiếu phương pháp tư
duy, rập khuôn máy móc do việc học lệ thuộc hoàn toàn vào thầy, còn thầy thì lệ
thuộc sách giáo khoa. Cách dạy và học này còn tiếp tay cho nạn quay cóp, gian
lận trong thi cử, tạo ra sự thiếu công bằng giữa những người học nghiêm túc và
những người thầy thực sự muốn đổi mới cách dạy học.
Thầy đọc, trò chép trên lớp, cộng với việc học quá tải liên miên khiến
các em không đủ thời gian suy ngẫm và tự học, thì lấy đâu ra việc tìm tòi, suy

2. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
+ Đối tượng nghiên cứu : Học sinh TTGDTX Yên Lạc khối 10,11,12
+ Phạm vi nghiên cứu : Hướng dẫn học sinh ghi bài theobằng cách hệ
thống hóa kiến thức Lịch sử bằng sơ đồ.
+ Không gian nghiên cứu: Trung tâm GDTX Yên Lạc
3. Giả thuyết khoa học
Nếu xây dựng hệ thống sơ đồ và vận dụng các biện pháp để hướng dẫn HS hệ
thống kiến thức lịch sử sẽ có hiệu quả. Đặc biệt là khả năng tư duy Lịch sử theo
cấu trúc sơ đồ.
4. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích tổng hợp: Tôi sử dụng phương pháp này theo
hướng sưu tầm tìm đọc các tài liệu liên quan để phục vụ cho việc xây dựng cơ
sở lí luận của đề tài
- Phương pháp thực nghiệm: Tôi đã tiến hành dạy lớp 11A1, chia thành 2
nhóm, một nhóm sử dụng sơ đồ, một nhóm sử dụng phương pháp dạy truyền
thống, sau đó cho làm bài kiểm tra 15 phút.
Đề tài: Sử dụng sơ đồ để hệ thống hóa kiến thức Lịch sử THPT
Người thực hiện: Nguyễn Thị Huyền – Giáo viên Trung tâm GDTX Yên Lạc
4
- Phương pháp toán học thống kê: Sử dụng công thức toán học thông kê
để tính điểm kiểm tra đã chấm trong thực nghiệm sư phạm.
- Đúc rút kinh nghiệm trong việc dạy học của bản thân thông qua
phương pháp thực nghiệm sư phạm tiến hành dạy thử lớp 11A1.
5. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Cuộc vận động chấm dứt cách dạy học “đọc chép” nếu thành công, sẽ
góp phần nâng cao chất lượng giáo dục. Theo GS – TS Đinh Quang Báo,
nguyên Hiệu trưởng trường Đại học Sư phạm Hà Nội, để cuộc vận động này
thành công, thì đội ngũ giáo viên là yếu tố quyết định. Do vậy ngay từ khâu đào
tạo giáo viên ở các trường đại học, cao đẳng phải đào tạo họ biết cách “không
đọc chép”. Nhiều đồng nghiệp đã nhận thức được sự tai hại của việc dạy học

-Phần II : Mô tả và giới thiệu các nội dung, biện pháp chính.
-Phần III : Kết quả, bài học kinh nghiệm và kiến nghị
Đề tài: Sử dụng sơ đồ để hệ thống hóa kiến thức Lịch sử THPT
Người thực hiện: Nguyễn Thị Huyền – Giáo viên Trung tâm GDTX Yên Lạc
5

PHẦN II: NỘI DUNG
CHƯƠNG I. THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ

1. Thực trạng dạy và học ở TTGDTX Yên Lạc:
1.1. Thuận lợi:
Giáo viên có nhiều cố gắng thay đổi phương pháp giảng dạy của mình
theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh thông qua các phương pháp dạy
học như: sử dụng dồ dùng trực quan, phương pháp giải quyết vấn đề, miêu tả, kể
chuyện, nêu đặc điểm nhân vật …. Giáo viên tích cực hướng dẫn học sinh thảo
luận nhóm, hỗ trợ kiến thức cho nhau, thông qua hoạt động này những học sinh
yếu kém sẽ được sự hướng dẫn của giáo viên và các học sinh khá giỏi, học sinh
sẽ nắm chắc kiến thức và hiểu sâu hơn về bản chất của sự kiện, hiện tượng lịch
sử. Trong quá trình giảng dạy, giáo viên kết hợp và khai thác triệt để các đồ
dùng và phương tiện dạy học như tranh ảnh, bản đồ, sơ đồ, mô hình, ứng dụng
công nghệ thông tin…
Học sinh có chú ý nghe giảng, tập trung suy nghĩ trả lời các câu hỏi giáo
viên đặt ra, một số em có chuẩn bị bài mới ở nhà. Học sinh tham gia tích cực
trong việc thảo luận nhóm và đã đưa hiệu quả cao trong quá trình lĩnh hội kiến
thức. Học sinh yếu, kém đã và đang nắm bắt kiến thức trọng tâm cơ bản thông
qua các hoạt động như thảo luận nhóm, đọc sách giáo khoa, vấn đáp… các em
đã mạnh dạn trả lời các câu hỏi ghi nhớ các sự kiện, nhân vật, một quá trình
cách mạng trong việc chiếm lĩnh kiến thức của mình.
1.2. Hạn chế:
Đặc thù của học sinh TTGDTX là nhận thức của các em còn hạn chế, tư

chương, chưa nắm rõ các sự kiện lịch sử qua các giai đoạn hay lẫn lộn giữa sự
kiện này với sự kiện khác. Cụ thể:

Lớp Sĩ số
Giỏi Khá Trung bình Yếu Kém
SL % SL % SL % SL % SL %
12A1 35 0 0 6 17,1

18 51,4 10 28,6

1 2,9
11A1 30 0 0 2 6.7 19 63,3 9 30 0 0

2. Giải Pháp thực hiện:
2.1. Đối với học sinh:
Học sinh phải đọc trước bài mới trong sách giáo khoa, chuẩn bị tất cả các
câu hỏi trong SGK phần sẽ học.
Trong giờ học phải chú ý nghe giảng bài, tích cực phát biểu ý kiến, xây
dựng bài, không tiếp thu máy móc phải có suy nghĩ.
Biết cách làm việc theo nhóm, hợp tác với bạn để hoàn thành nhiệm vụ
giáo viên giao cho.
Học sinh tự giác học tập, dựa vào kiến thức giáo viên truyền thụ học sinh
phải biết tự mình tìm tòi, sáng tạo, phân tích sự kiện hoặc so sánh sự kiện này
với sự kiện khác.
Học sinh cần có quyển sổ tay để ghi những vấn đề, những thông tin giáo
viên cung cấp mà không có trong sách giáo khoa.
Học sinh phải biết sử dụng bản đồ, lược đồ trình bày diễn biến một cuộc
khởi nghĩa hoặc một giai đoạn lịch sử.
2.2. Đối với giáo viên:
Chuẩn bị tất cả đồ dùng dạy học khi lên lớp: giáo án (hoặc giáo án điện
Đề tài: Sử dụng sơ đồ để hệ thống hóa kiến thức Lịch sử THPT
Người thực hiện: Nguyễn Thị Huyền – Giáo viên Trung tâm GDTX Yên Lạc
8

CHƯƠNG II.
MÔ TẢ VÀ GIỚI THIỆU CÁC NỘI DUNG, BIỆN PHÁP CHÍNH

1. Một số giải pháp thực tế trong việc hệ thống kiến thức lịch sử bằng sơ đồ
trong dạy học lịch sử.
Chương trình lịch sử lớp 11 gồm 3 phần: Lịch sử thế giới cận đại (tiếp
theo), lịch sử thế giới hiện đại (từ năm 1917 – 1945), lịch sử Việt Nam (1858 –
1918). Các phần này kế tiếp chương trình lớp 10, vì thế khi học tập học sinh
không thể nắm những kiến thức từng giai đoạn, từng nội dung cụ thể, mà còn

vụ đời sống

Thương
nghiệp
- Độc chiếm thị
trường, tăng
thuế

Giao thông
vận tải
- Xây dựng hệ
thống giao
thông phục vụ
cuộc khai thác,
vừa phục vụ
mục đích quân
sự
Chính sách khai thác lần thứ nhất của thực

dân Pháp
Đề tài: Sử dụng sơ đồ để hệ thống hóa kiến thức Lịch sử THPT
Người thực hiện: Nguyễn Thị Huyền – Giáo viên Trung tâm GDTX Yên Lạc
9
sang trồng cây công nghiệp phục vụ chiến tranh. Đó cũng là những điểm khác
trong chính sách về kinh tế của Pháp so với trước chiến tranh.
Chính sách kinh tế của Pháp trong chiến tranh đã ảnh hưởng rất lớn đến
nền kinh tế Việt Nam. Giáo viên có thể cho học sinh xem sơ đồ và sau đó học
sinh thảo luận tự rút ra kết luận về chuyển biến của kinh tế Việt Nam dưới tác
động của cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của thực dân Pháp


Sơ đồ sự thay đổi cơ cấu xã hội Việt Nam sau khi bị Pháp đô hộ

Chính sách của thực dân Pháp
Cơ cấu mất

cân đ
ối

Lạc hậu,
què quặt
Phụ thuộc
Kinh tế phong kiến
Việt Nam
Chế độ thuộc địa

n
ửa phong kiến

Chế độ
phong kiến
Địa chủ
Chế độ
thuộc địa
Tư sản
Nông dân
TTS, trí
thức
Công nhân
Đề tài: Sử dụng sơ đồ để hệ thống hóa kiến thức Lịch sử THPT
Người thực hiện: Nguyễn Thị Huyền – Giáo viên Trung tâm GDTX Yên Lạc

nội dung sau:
- Về các cuộc cách mạng tư sản TK VI – giữa TK XIX
- Các nước tư bản chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa
- Phong trào công nhân TK XIX – đầu TK XX và sự ra đời của chủ
nghĩa xã hội khoa học
- Về các nước Châu Á, Châu Phi và khu vực Mĩ Latinh từ giữa TK XIX
đến đầu TK XX
- Về cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất và kết cục của nó
Lịch sử thế giới cận đại là giai đoạn hình thành và phát triển mạnh mẽ
của chủ nghĩa tư bản. Chủ nghĩa tư bản được hình thành và xác lập qua các cuộc
cách mạng tư sản. Từ giữa TK XIX đến đầu TK XX, chủ nghĩa tư bản chuyển
Chính sách của thực dân Pháp

Lạc hậu
Phụ thuộc
Nô dịch
Ngu dân
Mị dân

Kinh tế

Độc quyền
Chuyên chế
Chính trị

Xã hội,
văn hóa
Đề tài: Sử dụng sơ đồ để hệ thống hóa kiến thức Lịch sử THPT
Người thực hiện: Nguyễn Thị Huyền – Giáo viên Trung tâm GDTX Yên Lạc
11

lệ nhất định mà là cách hệ thống kiến thức tạo ra một tiết học sinh động, đầy màu
sắc và thực sự hiệu quả. Giảng dạy theo sơ đồ tư duy phát huy tính tích cực nhiều
nhất trong các giờ ôn tập. Khi học sinh trở thành chủ thể thành nhân vật trung
tâm trong mỗi tiết học, các em sẽ trở nên hào hứng và hăng say hơn trong học
tập.
2.2 Giáo viên trở thành người hướng dẫn, hỗ trợ
Trước đây, giáo viên vẫn thường sử dụng sơ đồ để hệ thống kiến thức cho
học sinh nhưng học sinh vẫn là người tiếp thu một cách thụ động. Với việc giảng
dạy bằng sơ đồ tư duy, nhất là cho học sinh tự phát huy khả năng sáng tạo của
mình bằng cách tự vẽ, tự phân bố và thể hiện nội dung bài học qua sơ đồ sau đó
yêu cầu các bạn khác bổ sung những phần còn thiếu. Kết thúc bài giảng, thay vì
phải ghi chép theo cách truyền thống, học sinh có thể tự “vẽ” bài học theo cách
hiểu của mình với nhiều màu sắc và hình ảnh khác nhau. Đến tiết học sau, chỉ cần
Đề tài: Sử dụng sơ đồ để hệ thống hóa kiến thức Lịch sử THPT
Người thực hiện: Nguyễn Thị Huyền – Giáo viên Trung tâm GDTX Yên Lạc
12
nhìn vào sơ đồ, các em có thể nhớ được những phần trọng tâm của bài học. Giảng
dạy theo sơ đồ tư duy mang tính khả thi cao vì có thể vận dụng được với bất kỳ
điều kiện cơ sở vật chất nào của các nhà trường, có thiết kế trên giấy, bìa, bảng
bằng cách sử dụng bút chì màu, phấn màu hoặc cũng có thể thiết kế trên phần mềm
sơ đồ tư duy đã được triển khai đến từng trường. Việc vận dụng sơ đồ tư duy trong
dạy học sẽ dần hình thành cho học sinh tư duy mạch lạc, hiểu biết vấn đề một cách
sâu sắc, có cách nhìn vấn đề một cách hệ thống, khoa học.
Vận dụng sơ đồ tư duy trong dạy học, giáo viên giúp học sinh có thói
quen tự tay ghi chép hay tổng kết một vấn đề, một chủ đề đã đọc – đã học, theo
cách hiểu của học sinh với dạng sơ đồ tư duy.
Khái niệm của sơ đồ tư duy: Nguyên lý hoạt động theo nguyên tắc liên
tưởng “ý này gợi ý kia” của bộ não. Học sinh có thể tạo một sơ đồ tư duy ở
dạng đơn giản theo nguyên tắc phát triển ý: từ một chủ đề tạo ra nhiều nhánh
lớn, từ mỗi nhánh lớn lại tỏa ra nhiều nhánh nhỏ và cứ thế mở rộng ra vô tận.

13
 Mỗi từ/hình ảnh phải đứng một mình và trên một dòng riêng.
 Những đường thẳng cần phải được kết nối, bắt đầu từ bức ảnh trung
tâm. Những đường nối từ trung tâm dày hơn, có hệ thống và bắt đầu ốm dần khi
toả ra xa.
 Những đường thẳng dài bằng từ/hình ảnh.
 Sử dụng màu sắc – mật mã riêng của bạn – trong khắp sơ đồ.
 Phát huy phong cá ch cá nhân riêng của học sinh.
 Sử dụng những điểm nhấn và chỉ ra những mối liên kết trong sơ đồ
tư duy của mỗi học sinh.
 Làm cho sơ đồ rõ ràng bằng cách phân cấp các nhánh, sử dụng số
thứ tự hoặc dàn ý để bao quát các nhánh của sơ đồ tư duy.
Khi kiểm tra bài cũ giáo viên goi học sinh lên bảng thuyết trình sơ đồ tư
duy của bài học cũ trước lớp. Giáo viên và các bạn khác có thể đặt thêm câu hỏi
để học sinh trả lời. Bắt buộc 100% hoc sinh phải có sơ đồ tư duy bài học cũ và
các sơ đồ tư duy được học sinh lưu trong bìa giấy hoặc một túi hồ sơ để sử dụng
khi ôn tập và khi giáo viên kiểm tra thay cho vỡ ghi bài. Học sinh cũng có thể có
một tập nháp vẽ sơ đồ tư duy ngay tại lớp trong giờ học.
Ví dụ minh họa : Sơ đồ tư duy bài 23 lịch sử 12 Sơ đồ tư duy, là hình thức ghi chép nhằm tìm tòi đào sâu, mở rộng một ý
tưởng, hệ thống hóa một chủ đề hay một mạch kiến thức,… bằng cách kết hợp
việc sử dụng đồng thời hình ảnh, đường nét, màu sắc, chữ viết với sự tư duy tích
cực. Đặc biệt đây là một sơ đồ mở, không yêu cầu tỉ lệ, chi tiết chặt chẽ như bản
Đề tài: Sử dụng sơ đồ để hệ thống hóa kiến thức Lịch sử THPT
Người thực hiện: Nguyễn Thị Huyền – Giáo viên Trung tâm GDTX Yên Lạc
14
đồ địa lí, có thể vẽ thêm hoặc bớt các nhánh, mỗi người vẽ một kiểu khác nhau,
dùng màu sắc, hình ảnh, các cụm từ diễn đạt khác nhau, cùng một chủ đề nhưng

tẩy,… hoặc cũng có thể thiết kế trên phần mềm sơ đồ tư duy. Với trường có điều
kiện cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin tốt có thể cài vào máy tính phần mềm
Mindmap cho giáo viên và học sinh sử dụng, bằng cách vào trang web
www.download.com.vn gõ vào ô “tìm kiếm” cụm từ Mindmap, ta có thể tải về
bản demo ConceptDraw MINDMAP 5 Professional, phần mềm này không hạn
chế số ngày sử dụng và việc sử dụng nó cũng khá đơn giản.
Bước đầu cho phép kết luận: Việc vận dụng sơ đồ tư duy trong dạy học
sẽ dần hình thành cho học sinh tư duy mạch lạc, hiểu biết vấn đề một cách sâu
sắc, có cách nhìn vấn đề một cách hệ thống, khoa học. Sử dụng sơ đồ tư duy kết
hợp với các phương pháp dạy học tích cực khác như vấn đáp gợi mở, thuyết
trình,… có tính khả thi cao góp phần đổi mới phương pháp dạy học, đặc biệt là
đối với các lớp ở cấp THCS và THPT.

14 46.7

9 30,0 1 3,3 0 0

Còn thực tế khi sử dụng sơ đồ tư duy trong giờ dạy lịch sử sẽ bắt buộc tất
cả 100% học sinh đều phải động não, sáng tạo và chỉ trong một tờ giấy các em
có thể trình bày nội dung của bài học. Học sinh sẽ tự khám phá và khi tạo được
một tác phẩm đẹp, ý tưởng hoàn chỉnh được giáo viên và các bạn ngợi khen sẽ
phấn khởi rất nhiều.
Các em khác cũng sẽ cố gắng tự hoàn thiện mình và mỗi học sinh có một
tính cách, một ý tưởng rất khác nhau khi trình bày sơ đồ tư duy của mình nhưng
điều quan động là các em biết cách tự ghi chép đầy đủ nội dung bài học để học ở
nhà có thể trinh bày trước tập thể lớp và ghi nhớ lâu kiến thức bài học.
2. Bài học kinh nghiệm
Giáo viên lịch sử phải luôn tìm tòi sáng tạo và đổi mới trong phương
pháp dạy học. Có kế hoạch cụ thể trong việc tìm kiếm và thiết kế các đồ dùng
dạy học đẹp chính xác phù hợp với nội dung bài dạy.
Giáo viên cần nghiên cứu kĩ sách giáo khoa, thường xuyên nghiên cứu
thêm tài liệu tham khảo để cung cấp thêm thông tin và kiến thức ở mỗi bài học.
kết hợp các phương tiện dạy học khác nhau như đồ dùng trực quan, hình ảnh,
tranh vẽ, hệ thống thao tác sư phạm khi lên lớp để góp phần phát huy tính tích
cực chủ động của học sinh trong mỗi tiết học, nâng cao hiệu quả giờ dạy.
Giáo viên phải biết hướng dẫn tổ chức cho học sinh tự mình khám phá
kiến thức mới, dạy cho học sinh không chỉ có kiến thức mà cả phương pháp học
trong đó, cốt lõi là tự học. Chính trong các hoạt động tự lực được giao cho từng
cá nhân hoặc nhóm nhỏ tiềm năng sang tạo của mỗi học sinh được bộc lộ và
phát huy, Giáo viên phải biết luyện tập cho các em có thói quen nhìn nhận sự
kiện dưới những góc độ khác, biết đặt ra nhiều giả thuyết khi lí giải một hiện
Đề tài: Sử dụng sơ đồ để hệ thống hóa kiến thức Lịch sử THPT
Người thực hiện: Nguyễn Thị Huyền – Giáo viên Trung tâm GDTX Yên Lạc

mất quốc gia dân tộc mình.
Cần cho học sinh thấy học lịch sử không có giới hạn mà là học suốt đời
như các môn học khác. Các em có thể học bất cứ lúc nào nếu muốn miễn là lòng
đam mê với lịch sử là không có giới hạn.Làm cho học sinh thấy được học lịch sử
có lợi cho nghề nghiệp của mình sau này. Lịch sử có trong tất cả các lĩnh vực,
bởi ngành nghề nào mà chẳng có lịch sử hình thành và phát triển.
Khi dạy học các thầy cô không nên quá cứng nhắc về phương pháp, mà
phải có sự linh hoạt trong từng bài giảng. Không dạy theo kiểu “thầy đọc trò
chép”, vì hậu quả của nó là đến khi đi thi học trò sẽ “chép hết gì thầy đã đọc”.
Nên dạy cho học sinh cách phân tích, đánh giá, thậm chí là phê phán các sự kiện
lịch sử. Để học sinh thực sự nhập cuộc vào bài học, chủ động trong lối suy và
cách nghĩ, các thầy cô cần đưa ra các chủ đề lịch sử để các em tham gia thảo
luận, nhất là thảo luận theo các nhóm. Trước đây theo cách thảo luận nhóm cũ
học sinh quay mặt vào nhau cùng phát biểu những nội dung trong bài học chỉ vài
Đề tài: Sử dụng sơ đồ để hệ thống hóa kiến thức Lịch sử THPT
Người thực hiện: Nguyễn Thị Huyền – Giáo viên Trung tâm GDTX Yên Lạc
18
phút rất máy móc và phản tự nhiên. Dạy học theo sơ đồ tư duy mỗi nhóm sẽ
cùng nhau hình thành một tác phẩm sơ đồ tư duy theo ý tưởng riêng của từng
học sinh hoặc từng nhóm rất đa dạng phong phú và hấp dẫn tất cả học sinh cả
lớp cùng tham gia. Chúng ta cần đa dạng hóa cách dạy và cách học. Dạy học mà
khuôn cứng là bóp chết lòng đam mê học tập của học trò.
PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

1. Kết luận:
“Dân ta phải biết sử ta” không chỉ là mối quan tâm của Bác, đó cũng là
nỗi trăn trở của những giáo viên dạy môn lịch sử, chúng tôi luôn mong muốn
học sinh của mình hiểu được nội dung bài, hiểu được lịch sử của dân tộc từ đó
các em sẽ cảm thấy yêu thương gắn bó với quê hương đất nước mình hơn.
Phương pháp trên đã và sẽ được áp dụng tại TTGDTX Yên Lạc và cũng
đạt được kết quả phát huy được tính tích cực của học sinh, rèn được kĩ năng
tổng hợp, phân tích, so sánh, các em biết sử dụng sách giáo khoa, vận dụng kiến
thức cũ để hiểu kiến thức mới. Giúp học sinh hiểu bài nhanh, thu hút sự cảm
hứng đối với môn học này và học sinh có thể hiểu và nhớ bài ngay tại lớp, đồng
thời giúp học sinh nhận thức được một cách sâu sắc về vị trí tầm quan trọng của
lịch sử trong xã hội mà bấy lâu nay hầu như các em chưa mấy quan tâm. Hệ
thống hóa kiến thức lịch sử bằng sơ đồ, Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học kiến
thức mới giúp học sinh học tập một cách chủ động, tích cực và huy động được
tất cả 100% học sinh tham gia xây dựng bài một cách hào hứng. Với sản phẩm
độc đáo “kiến thức + hội họa” là niềm vui sáng tạo hàng ngày của học sinh và
cũng là niềm vui của chính thầy cô giáo và phụ huynh học sinh khi chứng kiến
thành quả lao động của học sinh của mình. Cách học này còn phát triển được
năng lực riêng của từng học sinh không chỉ về trí tuệ (vẽ, viết gì trên sơ đồ tư
duy), hệ thống hóa kiến thức (huy động những điều đã học trước đó để chọn lọc
các ý để ghi), khả năng hội họa (hình thức trình bày, kết hợp hình vẽ, chữ viết,
màu sắc), sự vận dụng kiến thức được học qua sách vở vào cuộc sống.
2. Kiến nghị
Cùng với việc đổi mới mục tiêu và nội dung dạy học, vấn đề đổi mới
phương pháp dạy học theo triết lý lấy người học làm trung tâm được đặt ra một
cách bức thiết. Bản chất của dạy học lấy người học làm trung tâm là phát huy
cao độ tính tự giác, tích cực, độc lập, sáng tạo của người học.
Để làm được điều đó thì vấn đề đầu tiên mà người giáo viên cần nhận
Đề tài: Sử dụng sơ đồ để hệ thống hóa kiến thức Lịch sử THPT
Đề tài: Sử dụng sơ đồ để hệ thống hóa kiến thức Lịch sử THPT
Người thực hiện: Nguyễn Thị Huyền – Giáo viên Trung tâm GDTX Yên Lạc
22

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Bản đồ Tư duy trong công việc – Tony Buzan – NXB Lao động – Xã hội.
2. www.mind-map.com (trang web chính thức của Tony Buzan)
3. www.peterussell.com/mindmaps/mindmap.htm
4. Bài giảng của ThS Trương Tinh Hà về Mind Mapping và các Kỹ năng giải
quyết vấn đề.
5. Lớp tập huấn của Bộ GD&ĐT hướng dẫn sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy và
học (xem phim hứng dẫn đính kèm)
6. Hướng dẫn sử dụng phần mềm sơ đồ tư duy (xem phim minh họa)
7. Phim giới thiệu một số giáo viên và học sinh các trường THPT, TTGDTX áp
dụng thành công việc sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy và học của đài truyền hình
(gửi kèm theo SKKN)
8. Trần Đình Châu, Sử dụng Bản đồ tư duy – một biện pháp hiệu quả hỗ trợ học
sinh học tập Tạp chí Giáo dục, kì 2, tháng 9-2009.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status