Đề tài “Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học lịch sử ở trường THPT” doc - Pdf 15

Trường THPT Dĩ An Nguyễn Chí Thuận
LỜI CÁM ƠN
Xin chân thành cám ơn Phòng Giáo dục Trung học –Thường
xuyên, Tổ nghiệp vụ bộ môn Lịch sử Sở GD&ĐT Bình Dương, Ban giám
hiệu, Ban chấp hành Công đoàn Trường THPT Dĩ An, Tổ Sử - Địa - Giáo
dục công dân, đã trực tiếp giúp đỡ, hướng dẫn và đóng góp những ý kiến
chủ đạo cho nội dung đề tài sáng kiến kinh nghiệm nầy.
Những nội dung đã học tập và kinh nghiệm tích lũy được từ đề tài
“Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học lịch sử ở trường THPT” nầy sẽ là
hành trang vô cùng quý báu cho quá trình đổi mới phương pháp dạy học
lịch sử của bản thân chúng tôi trong thời gian sắp tới.
Dĩ An, ngày 09 tháng 3 năm 2012
Người thực hiện,
Nguyễn Chí Thuận
1
Trường THPT Dĩ An Nguyễn Chí Thuận
“SỬ DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY
TRONG DẠY HỌC LỊCH S Ở TRƯỜNG THPT”
MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 3
1. Lí do chọn đề tài 3
2. Mức độ nghiên cứu đề tài 8
3. Đối tượng, khách thể, phạm vị nghiên cứu 8
4. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 9
5. Kết cấu của đề tài 12
NỘI DUNG 13
Phần I . Nêu thực trạng của vấn đề 13
1. Thuận lợi 13
2. Khó khăn 14
Phần II . Mô tả và giới thiệu các nội dung, biện pháp chính 15
1. Thực trạng và giải pháp 15

nào và học sinh “chép” ra sao mới là quan trọng. Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ
3
Trường THPT Dĩ An Nguyễn Chí Thuận
trương chống việc dạy học “chủ yếu qua đọc chép – nhìn chép” nghĩa là chống
việc chỉ đọc chép, truyền thụ kiến thức một chiều trong cả một tiết lên lớp.
Với cách dạy này, người thầy đã máy móc, rập khuôn trong dạy học,
dễ có tư tưởng phó mặc, không hứng thú trong cập nhật kiến thức, không sáng
tạo trong việc tìm kiếm các phương án thiết kế bài dạy phù hợp với mọi đối
tượng học sinh trong lớp mình phụ trách để kết quả giảng dạy đạt mức tối ưu.
Người học theo cách này sẽ trở nên thụ động, chỉ biết thu nhận kiến thức một
chiều, không động não suy nghĩ, không biết tự mình chiếm lĩnh tri thức, trở
nên thui chột về tư duy, khó vận dụng kiến thức vào cuộc sống.
Hơn nữa, đã dạy theo kiểu “đọc – chép” thì đề thi phải ra theo kiểu học
thuộc. Học sinh khi học, chép được điều gì thì lúc thi, lại chép những điều ấy
vào bài làm, không có khả năng sáng tạo, học sinh hiểu bài một cách máy móc
không sáng tạo, không thể hiện được “cái riêng” của mình hoặc không dám thể
hiện “cái riêng” của mình. Bài dạy học đọc – chép tất yếu phải được tổ chức
theo phương thức diễn dịch, do đó tiết dạy “đọc – chép” sẽ nhàm chán và
mang tính áp đặt.
Việc giáo viên sử dụng cách dạy học theo kiểu đọc – chép, có thể kể
ra một số nguyên nhân sau:
Do một số bài học của chương trình có lượng kiến thức nhiều, trong
một tiết học chỉ có 45 phút, mà đã mất 10 đến 15 phút ổn định tổ chức, kiểm
tra bài cũ, dặn dò học, làm bài tập ở nhà…Như vậy, chỉ còn khoảng 30 phút
để giảng bài mới nên giáo viên chọn cách “đọc – chép”.
Học sinh hiện nay khả năng tự ghi bài là rất chậm, rất hạn chế, thụ
động trong học tập nên cũng có thầy cô chọn cách đọc bài, học trò chép bài.
Học sinh về nhà chỉ cần học thuộc nội dung đã được ghi, khi kiểm tra bài chỉ
cần đọc đúng, ghi đúng là được điểm cao…
Cũng còn một số giáo viên không chịu khó đầu tư cho việc thiết kế bài

động lực để đổi mới. Còn với học sinh, dẫu biết rằng phải chép bài của thầy
đọc từ sách giáo khoa, cái mà các em có thể tự đọc – là một sự miễn cưỡng.
Nhưng biết làm sao, khi thầy yêu cầu trả bài phải đúng, thậm chí đúng nguyên
văn những lời thầy đọc.
5
Trường THPT Dĩ An Nguyễn Chí Thuận
Đã có những bài thi ngây ngô đến mức khó tin, bởi thiếu phương pháp
tư duy, rập khuôn máy móc do việc học lệ thuộc hoàn toàn vào thầy, còn thầy
thì lệ thuộc sách giáo khoa. Cách dạy và học này còn tiếp tay cho nạn quay
cóp, gian lận trong thi cử, tạo ra sự thiếu công bằng giữa những người học
nghiêm túc và những người thầy thực sự muốn đổi mới cách dạy học.
Thầy đọc, trò chép trên lớp, cộng với việc học quá tải liên miên khiến
các em không đủ thời gian suy ngẫm và tự học, thì lấy đâu ra việc tìm tòi, suy
luận để có kiến thức thực sự? Nhưng vấn đề đặt ra, thế nào là thầy không đọc,
trò không chép? Không đọc kiến thức đã có sẵn trong sách giáo khoa, thì thầy
sẽ nói gì để các em ghi lại và phát triển tư duy?
Chỉ thị không đọc – chép trên lớp sẽ thực hiện từ năm học này. Nếu
không chuẩn bị kỹ lưỡng với một tinh thần hưởng ứng nhiệt tình, có thể xảy ra
tình trạng, giáo viên photo bài giảng và bộ câu hỏi rồi phát cho học sinh tự
đọc, tự trả lời để tránh tiếng “thầy đọc, trò chép”. Và cũng không loại trừ xảy
ra chuyện, thầy cứ giảng, trò muốn ghi gì cũng được mà không biết đâu là nội
dung chính để tập trung học hỏi. Rồi khi thi kiểm tra chất lượng, thầy có chấp
nhận nội dung bài thi khác với ý của mình hay không.
Đội ngũ giáo viên hiện nay phần lớn cũng được đào tạo bằng phương
pháp “đọc – chép” nên để thay đổi cách giảng dạy cũng khó có thể đạt kết quả
một sớm một chiều. Trong khi đó, bộ sách giáo khoa bậc phổ thông đang tiếp
tục được thay đổi và nội dung còn khá nặng nề cũng là một lực cản trong quá
trình nói không với “đọc – chép”.
Thực tế những năm qua có nhiều giáo viên (kể cả bậc đại học) đã áp
dụng phương pháp giảng dạy không đọc chép cho học sinh, sinh viên và đem

không thì các em trả lời ở Trường THCS các em cũng đã được dạy rồi.
Từ đó tôi mới tìm hiểu và áp dụng theo phương pháp “Sử dụng sơ đồ
tư duy trong dạy học lịch sử ở trường THPT” và bài trả lời cho câu hỏi làm thế
nào để đổi mới phương pháp dạy học “không đọc – chép ; không nhìn – chép”
theo chỉ thị của Bộ Giáo dục và Đào tạo mà tôi trăn trở băn khoăn bấy lâu nay
đã có cách để giải quyết
Qua một năm học áp dụng cho học sinh lớp 10 và lớp 12 ở Trường
THPT Dĩ An do tôi phụ trách ở bộ môn lịch sử, tôi nhận thấy đây là cách dạy
7
Trường THPT Dĩ An Nguyễn Chí Thuận
mang lại hiệu quả cao nếu giáo viên biết vận dụng các kĩ năng CNTT vào tiêt
dạy thì sẽ giúp học sinh hứng thú, yêu thích tiết học lịch sử hơn so với một tiết
dạy bằng giáo án điện tử thông thường.
2. Mức độ nghiên cứu đề tài
Năm học 2011 – 2012 là năm học đầu tiên Bộ GD – ĐT triển khai thực
hiện “Chấm dứt hoàn toàn việc đọc – chép; nhìn – chép ở các trường THPT”.
Vì trong năm học nầy tôi chỉ được phân công giảng dạy Lịch sử lớp 10
và lớp 12 nên tôi chỉ tập trung nghiên cứu hai khối lớp của mình phụ trách.
Trong phạm vi nghiên cứu đề tài nầy, mức độ nghiên cứu chỉ giới hạn trong
vấn đề lớn : “Hướng dẫn học sinh ghi bài theo sơ đồ tư duy”.
3. Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu
+ Đối tượng nghiên cứu : “Soạn giảng bộ môn Lịch sử 10 và 12 theo sơ đồ tư
duy và chuẩn KTKN được điều chỉnh giảm tải trong năm học 2011 – 2012”.
+ Khách thể nghiên cứu : Môn LS lớp 10 và lớp 12 ở trường THPT.
+ Phạm vi nghiên cứu : Hướng dẫn học sinh ghi bài theo sơ đồ tư duy.
4. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
8
Trường THPT Dĩ An Nguyễn Chí Thuận
Cuộc vận động chấm dứt cách dạy học “đọc chép” nếu thành công, sẽ
góp phần nâng cao chất lượng giáo dục. Theo GS – TS Đinh Quang Báo,

các em có cảm giác như bị “tra tấn” trong học tập bộ môn.
Để “Nói không với đọc chép”, đòi hỏi giáo viên phải có tâm huyết với
nghề nghiệp, phải luôn thấy được trách nhiệm và uy tín cá nhân của mình
trước hết là đối với học sinh. Cần phải tích cực đầu tư chuyên môn và không
ngừng học tập nâng cao trình độ nghiệp vụ. Việc đầu tư chuyên môn đòi hỏi
phải tiếp cận với thông tin khoa học chuyên ngành. Điều kiện sách vở, tài liệu
tham khảo và các nguồn thông tin cần thiết hiện nay không đến nổi quá khó
khăn. Mỗi khi đã có sự hiểu biết sâu sắc về chuyên môn, giáo viên dễ dàng lựa
chọn phương pháp để giảng dạy, vì phương pháp là sự vận động của tri thức.
Mỗi phương pháp dạy học có một giá trị riêng, tuỳ theo nội dung kiến
thức và đối tượng mà lựa chọn phương pháp cho phù hợp nhằm tạo biểu
tượng, hình thành khái niệm, khắc sâu kiến thức cơ bản… cho học sinh. Để
phát huy tính tích cực của học sinh trong học tập, phương pháp dạy học sử
dụng sơ đồ tư duy tỏ ra có ưu thế. Mỗi bài học chứa đựng một số vấn đề cơ
bản của lịch sử, bằng sự hiểu biết của mình, giáo viên nêu vấn đề, tổ chức cho
học sinh giải quyết bằng cách sáng tạo thành sơ đồ tư duy nhằm phát huy tính
tích cực và huy động bộ não các em làm việc hết công suất cho mỗi bài học, sẽ
không còn tình trạng học sinh ngồi im thụ động chỉ có vài em được phát biểu
và làm việc với giáo viên trong tiết học.
Việc học sinh tham gia trực tiếp vào việc giải quyết những yêu cầu
của bài học vừa có tác dụng phát triển tư duy vừa gây hứng thú học tập. Tất
nhiên vai trò dẫn dắt của người thầy là hết sức quan trọng. Dạy học là một
nghệ thuật, bằng tâm hồn, sự hiểu biết và nghệ thuật của giáo viên, những
“phần xác” lịch sử sẽ được “phả hồn” vào một cách sinh động và đẹp đẽ, giúp
các em cảm nhận tốt hơn, yêu thích hơn bộ môn lịch sử.
Phương tiện dạy học bằng sơ đồ tư duy ngày càng trở nên phóng phú
và được các nước tiên tiến trên thế giới sử dụng đạt hiệu quả cao. Nếu biết
khai thác tốt sơ đồ tư duy sẽ hỗ trợ đắc lực cho giáo viên trong quá trình giảng
dạy. Cùng với sự kết hợp các phương pháp, phương tiện trực quan và kỹ thuật
10

lượng đào tạo và mới có thể “Nói không với tiêu cực trong thi cử”.
11
Trường THPT Dĩ An Nguyễn Chí Thuận
5. Kết cấu của đề tài sáng kiến kinh nghiệm
Ngoài phần đặt vấn đề, kết luận, tài liệu tham khảo, đề tài gồm có 3
phần :
-Phần I : Nêu thực trạng của vấn đề.
-Phần II : Mô tả và giới thiệu các nội dung, biện pháp chính.
-Phần III : Kết quả, bài học kinh nghiệm và kiến nghị
12
Trường THPT Dĩ An Nguyễn Chí Thuận
NỘI DUNG
Phần I . Nêu thực trạng của vấn đề
1. Thuận lợi khi thực hiện đề tài SKKN
Năm học 2011 – 2012 Bộ Giaó dục và Đào tạo giảm tải nội dung sách
giáo khoa tạo điều kiện thuận lợi cho giáo viên trong việc dạy và học hơn nững
năm qua.
Tôi được Sở GD&ĐT Bình Dương cử tham dự lớp tập huấn “Phương
pháp dạy học mới” và những năm qua đã soạn giảng khá tốt bộ giáo án điện tử
lớp 10 và lớp 12 nên có thuận lợi hơn khi áp dụng đề tài hướng dẫn học sinh
bậc THPT thực hiện ghi bài theo sơ đồ tư duy.
Trường THPT Dĩ An được Sở GD&ĐT Bình Dương đâu tư xây dựng
thành đơn vị Trường THPT chất lượng cao của Tỉnh Bình Dương và được Sở
đầu tư lắp đặt mỗi phòng học đều có một bộ máy chiếu để giáo viên giảng dạy
tại lớp. Mỗi giáo viên chỉ cầng dùng một USB ghi nội dung bài dạy và đến lớp
13
Trường THPT Dĩ An Nguyễn Chí Thuận
để sử dụng ngay trong tiêt dạy tại lớp nên rất thuận tiện cho giáo viên và học
sinh khi áp dụng phương pháp giảng dạy mới sử dụng sơ đồ tư duy.
Học sinh các lớp THPT của Bình Dương bước đầu đã được làm quen

15
Trường THPT Dĩ An Nguyễn Chí Thuận
hình vẽ tay với những màu sắc, hình ảnh, từ ngữ diễn đạt khác nhau nhằm giúp
học sinh có thể nắm bắt và nhớ được phần cốt lõi của bài giảng ngay tại lớp học.
Sơ đồ tư duy đặc biệt chú trọng về màu sắc, hình ảnh với từ ngữ ngắn
gọn thể hiện qua mạng liên tưởng (các nhánh trong bài giảng). Từ phần nội
dung chính, giáo viên vẽ ra từng nhánh nhỏ theo từng tiểu mục chính của bài
giảng và chú thích, giảng giải theo một ngôn ngữ dễ hiểu và gần gũi với học
sinh.
Như vậy, thay vì phải học thuộc lòng các khái niệm, định nghĩa hay cả
bài giảng đọc chép như lúc trước, giờ đây học sinh có thể hiểu và nắm được
khái niệm qua hình vẽ. Chính sự liên tưởng theo hướng dẫn của giáo viên
cũng giúp các em nhớ được phần trọng tâm của bài giảng.
Cách học này còn phát triển được năng lực riêng của từng học sinh
không chỉ về trí tuệ, vẽ, viết gì trên sơ đồ tư duy, hệ thống hóa kiến thức chọn
lọc những phần nào trong bài để ghi, thể hiện dưới hình thức kết hợp hình vẽ,
chữ viết, màu sắc, vận dụng kiến thức được học qua sách vở vào cuộc sống.
Để giảng dạy theo sơ đồ tư duy, giáo viên có thể chủ động vẽ hình trên
bảng rồi cho học sinh tiếp tục lên phân nhánh sơ đồ hay để học sinh chia thành
từng nhóm nhỏ rồi tự vẽ sơ đồ theo cách hiểu của mình sau đó giáo viên định
hướng lại từng nội dung cho học sinh.
Sơ đồ tư duy thực chất là một sơ đồ mở không theo một khuôn mẫu hay
tỷ lệ nhất định mà là cách hệ thống kiến thức tạo ra một tiết học sinh động, đầy
màu sắc và thực sự hiệu quả. Giảng dạy theo sơ đồ tư duy phát huy tính tích
cực nhiều nhất trong các giờ ôn tập. Khi học sinh trở thành chủ thể thành
nhân vật trung tâm trong mỗi tiết học, các em sẽ trở nên hào hứng và hăng
say hơn trong học tập.
1.2 Giáo viên trở thành người hướng dẫn, hỗ trợ
Trước đây, giáo viên vẫn thường sử dụng sơ đồ để hệ thống kiến thức
cho học sinh nhưng học sinh vẫn là người tiếp thu một cách thụ động. Với

của bộ não, giúp học sinh học tập tích cực, hỗ trợ hiệu quả các phương pháp
dạy học.
Vận dụng sơ đồ tư duy trong dạy học, giáo viên giúp học sinh có thói
quen tự tay ghi chép hay tổng kết một vấn đề, một chủ đề đã đọc – đã học,
theo cách hiểu của học sinh với dạng sơ đồ tư duy.
Sau khi cho học sinh làm quen với một số sơ đồ tư duy có sẵn, giáo
viên đưa ra một chủ đề chính, đặt chủ đề này ở vị trí trung tâm bảng (hoặc vào
trang vở, tờ giấy/ bìa) rồi đặt câu hỏi gợi ý để học sinh vẽ tiếp các nhánh cấp 1,
cấp 2, cấp 3 Mỗi bài học được tự vẽ kiến thức trọng tâm trên một trang
giấy, giúp học sinh dễ ôn tập, dễ xem lại kiến thức khi cần.
18
Trường THPT Dĩ An Nguyễn Chí Thuận
Đối với học sinh: Học sinh thường xuyên tự lập sơ đồ tư duy sẽ phát
triển khả năng thẩm mỹ do việc thiết kế nó phải bố cục màu sắc, các đường
nét, các nhánh sao cho đẹp, sắp xếp các ý tưởng khoa học, súc tích… Và đó
chính là để học sinh “Học cách học”: Học sinh được học để tích lũy kiến thức,
nhưng từ trước đến nay học sinh chưa biêt cách học cách để lĩnh hội những
kiến thức bộ môn lịch sử một cách hiệu quả.
Khái niệm của sơ đồ tư duy: Nguyên lý hoạt động theo nguyên tắc
liên tưởng “ý này gợi ý kia” của bộ não. Học sinh có thể tạo một sơ đồ tư duy
ở dạng đơn giản theo nguyên tắc phát triển ý: từ một chủ đề tạo ra nhiều nhánh
lớn, từ mỗi nhánh lớn lại tỏa ra nhiều nhánh nhỏ và cứ thế mở rộng ra vô tận.
(Cách vẽ cũng rất giản đơn và còn rất nhiều tiện ích khác khiến cho sơ đồ tư
duy ngày càng trở nên phổ biến toàn cầu).
1.3 Những lưu ý học sinh khi sử dụng sơ đồ tư duy
Màu sắc cũng có tác dụng kích thích bộ não như hình ảnh. Tuy nhiên,
học sinh cũng không cần phải sử dụng quá nhiều màu sắc. Học sinh có thể chỉ
cần dùng một hai màu nếu thích và muốn tiết kiệm thời gian.
Nếu học sinh thấy mất quá nhiều thời gian để tô đậm màu trong một
nhánh, thì học sinh có thể gạch chéo, đánh dấu cộng, hay chấm bi trong đó –

thức, tư duy, óc tưởng tượng và khả năng sáng tạo…Một trong những công cụ
hết sức hữu hiệu để tạo nên các “hình ảnh liên kết” là sơ đồ tư duy.
2.2 Nguyên lý và ứng dụng sơ đồ tư duy trong dạy học
Sơ đồ tư duy (Mind Map) là một hình thức ghi chép sử dụng màu sắc
và hình ảnh, để mở rộng và đào sâu các ý tưởng. Kỹ thuật tạo ra loại sơ đồ này
được gọi là Mind Mapping và được phát triển bởi Tony Buzan vào những năm
1960.
Ở vị trí trung tâm sơ đồ là một hình ảnh hay một từ khóa thể hiện một
ý tưởng hay khái niệm chủ đạo. Ý trung tâm sẽ được nối với các hình ảnh hay
từ khóa cấp 1 bằng các nhánh chính, từ các nhánh chính lại có sự phân nhánh
đến các từ khóa cấp 2 để nghiên cứu sâu hơn. Cứ thế, sự phân nhánh cứ tiếp
tục và các khái niệm hay hình ảnh luôn được nối kết với nhau. Chính sự liên
20
Trường THPT Dĩ An Nguyễn Chí Thuận
kết này sẽ tạo ra một “bức tranh tổng thể” mô tả về ý trung tâm một cách đầy
đủ và rõ ràng.
Những yếu tố đã làm cho sơ đồ tư duy có tính hiệu quả cao và nền
tảng của chúng là:
Sơ đồ tư duy đã thể hiện ra bên ngoài cách thức mà não bộ chúng ta
hoạt động. Đó là liên kết, liên kết và liên kết. Mọi thông tin tồn tại trong não
bộ của con người đều cần có các mối nối, liên kết để có thể được tìm thấy và
sử dụng. Khi có một thông tin mới được đưa vào, để được lưu trữ và tồn tại,
chúng cần kết nối với các thông tin cũ đã tồn tại trước đó.
Việc sử dụng các từ khóa, chữ số, màu sắc và hình ảnh đã đem lại một
công dụng lớn vì đã huy động cả bán cầu não phải và trái cùng hoạt động. Sự
kết hợp này sẽ làm tăng cường các liên kết giữa 2 bán cầu não, và kết quả là
tăng cường trí tuệ và tính sáng tạo của chủ nhân bộ não.
Sơ đồ tư duy là một công cụ hữu ích trong giảng dạy và học tập ở
trường phổ thông cũng như ở các bậc học cao hơn vì chúng giúp giáo viên và
học sinh trong việc trình bày các ý tưởng một cách rõ ràng, suy nghĩ sáng tạo,

số. Với cách ghi chép này, chúng ta mới chỉ sử dụng một nửa của bộ não – não
trái, mà chưa hề sử dụng kỹ năng nào bên não phải, nơi giúp chúng ta xử lý các
thông tin về nhịp điệu, màu sắc, không gian và sự mơ mộng. Hay nói cách khác,
chúng ta vẫn thường đang chỉ sử dụng 50% khả năng bộ não của chúng ta khi ghi
nhận thông tin. Với mục tiêu giúp chúng ta sử dụng tối đa khả năng của bộ não,
Tony Buzan đã đưa ra sơ đồ tư duy để giúp mọi người thực hiện được mục tiêu này
23
Trường THPT Dĩ An Nguyễn Chí Thuận

P
3. Tiến trình một tiết dạy theo sơ đồ tư duy
24
Trường THPT Dĩ An Nguyễn Chí Thuận
Trước khi áp dụng phương pháp "Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy
học lịch sử ở trường THPT” giáo viên giới thiệu cho học sinh xem một số
đoạn phim ngắn (có gửi kèm theo đĩa CD gắn chung với SKKN) cho học sinh
thấy hiệu quả của việc sử dụng sơ đồ tư duy khi ghi bài, học bài và hướng dẫn
học sinh cách vẽ sơ đồ tư duy gồm nội dung cả bài học trên một trang giấy rất
dễ học, dễ thực hiện và học sinh sẽ rất thích thú với mỗi tác phẩm sơ đồ tư duy
của mình. (Xem phim hướng dẫn phần mềm sơ đồ tư duy đính kèm trong dĩa
CD)
Sơ đồ tư duy là một công cụ tổ chức tư duy. Đây là phương pháp dễ
nhất để chuyển tải thông tin vào bộ não của học sinh rồi đưa thông tin ra
ngoài bộ não. Nó là một phương tiện ghi chép đầy sáng tạo và rất hiệu quả
theo đúng nghĩa của nó là “Sắp xếp” ý nghĩ của học sinh.
Với cách thể hiện gần như cơ chế hoạt động của bộ não, Bản đồ tư duy
sẽ giúp học sinh:
• Sáng tạo hơn
• Tiết kiệm thời gian
• Ghi nhớ tốt hơn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status