SKKN sử dụng thí nghiệm trong giảng dạy vật lý 7 để có giờ dạy hiệu quả” - Pdf 40

r ờn

v

c

T VẤN Ề
Như chúng ta đã biết Vật lý là bộ môn khoa học thực nghiệm với phương
pháp nghiên cứu là đi từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng. Mọi kết
luận của nó đều rút ra được nhờ thực tiễn và kiểm chứng bằng quan sát và thí
nghiệm. Chính vì vậy trong các giờ dạy Vật lý cần phải có thiết bị dạy học để
khơi dạy và phát triển năng lực tư duy khả năng tự học, hình thành cho các em
biết rõ phương pháp học và nghiên cứu bộ môn.
Đối với tình hình thực tế của việc đổi mới phương pháp dạy học và thay
sách giáo khoa cho các lớp 6,7,8,9 với bộ môn Vật lý: Thiết bị dạy học có đủ cho
giáo viên và học sinh làm việc: Song vấn đề đặt ra là sử dụng các thiết bị đó như
thế nào? và làm thế nào để các em có thể tự tay thực hành thành công các thí
nghiệm đó dưới sự chỉ đạo của giáo viên từ đó tìm ra kiến thức của bài học các
em áp dụng kiến thức đó vào cuộc sống nhằm đạt kết quả cao đó là vấn đề mà
mỗi giáo viên dạy vật lý đều phải quan tâm.
Trong những năm gần đây, nghị quyết của Đại hội Đảng và nhiều văn kiện
khác của nhà nước, của Bộ Giáo dục- Đào tạo đều nhấn manh việc đổi mới
phương pháp là một nhiệm vụ quan trọng của tất cả các cấp học và bậc học ở
nước ta, nhằm đào tạo những con người tích cực, tự giác, năng động sáng tạo, có
năng lực giải quyết vấn đề, vận dụng kiến thức vào cuộc sống: “ Đổi mới mạnh
mẽ ph ơn pháp iáo dục - đ o tạo, kh c phục lối truyền thụ một chiều, rèn
luyện th nh nếp t duy sán tạo của n

ời học.

ừn b ớc áp dụn nhữn ph ơn pháp tiên tiến v ph ơn tiện hiện đại

Vật lý là một trong những môn học có ưu thế trong việc phát huy tính tích
cực chủ động sáng tạo của học sinh, trong đó sách giáo khoa là một trong những
phương tiện thể hiện phương pháp dạy học tích cực. Trong chương trình Vật lý
6, học sinh đã nhiều lần tập đưa ra “Dự đoán” và được giáo viên hướng dẫn làm
thí nghiệm để kiểm tra tính đúng đắn của dự đoán. Đến lớp 7 phương pháp
nghiên cứu đó cần được phát triển và nâng cao hơn cần hướng dẫn học sinh
thường xuyên đưa ra nhiều dự đoán khác nhau về cùng một hiện tượng và tự lực
2


r ờn

v

c

đề xuất các phương án làm thí nghiệm để kiểm tra dự đoán.
Đặc biệt trong chương trình Vật lý 7 có sử dụng nhiều đến phương pháp
thực nghiệm, tiếp tục rèn luyện cho học sinh kĩ năng làm thí nghiệm và từ thí
nghiệm rút ra kiến thức của bài học. Bên cạnh việc áp dụng phương pháp thực
nghiệm cần phải sử dụng phương pháp suy luận lôgic mới có thể rút ra kết luận
khoa học. Chẳng hạn như căn cứ vào quan sát thí nghiệm, rút ra được các dạng
giống nhau cho nhiều trường hợp, dạng đặc biệt của một trường hợp , xác định
mối quan hệ định lượng giữa các hiện tượng, xử lí sự chênh lệch giữa các số
liệu áp dụng luận 3 đoạn để suy ra hệ quả .
II . CƠ SỞ THỰC TIỄN
Trước đây trong khi giảng dạy các môn học giáo viên chỉ chú trọng đến khối
lượng kiến thức cần truyền đạt mà coi nhẹ phương pháp học tập và nghiên cứu
mang tính đặc thù của từng môn . Vật lý là môn khoa học thực nghiệm thế
nhưng tình trạng phổ biến hiện nay vẫn là :

thí nghiệm học sinh nhận biết được sự dao động của một số nguồn âm, phát hiện
sự truyền âm trong chất rắn, chất lỏng, chất khí ...
Trong các phần này, chủ yếu là các thí nghiệm biểu diễn hình thành tri
thức mới và một vài thí nghiệm chứng minh. Thí nghiệm kiểm tra đóng vai trò
khai thác sâu kiến thức biến kiến thức thành kỹ năng kỹ xảo vận dụng vào giải
bài tập.
Để khai thác các thí nghiệm làm phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo
của học sinh một cách cao nhất cần có một số biện pháp sau:
III. NHỮNG BIỆN PHÁP THỰC HIỆN.
Vật lí là môn khoa học thực nghiệm, các tri thức vật lí hoá là sự
khái quát hoá các kết quả nghiên cứu thực nghiệm và các hiện tượng diễn ra
trong đời sống. Dựa trên các thí nghiệm học sinh thực hiện được các thao tác tư
duy để tiếp thu tri thức mới. Bài học có thí nghiệm kích thích óc tò mò khám phá
khoa học, ham hiểu biết, rèn luyện óc độc lập suy nghĩ và tư duy sáng tạo cho
học sinh.
4


r ờn

v

c

Sau đây tôi xin được chia sẻ một số kinh nghiệm cũng như được trao đổi
với các đồng nghiệp về biện pháp tổ chức học sinh tiếp thu kiến thức và đặc biệt
là việc làm thí nghiệm để để đạt hiệu quả trong bài học:
1 Chuẩn bị thí nghiệm
Nói chung thí nghiệm phải kích thích được hứng thú óc sáng tạo của học
sinh. Muốn đạt được điều đó giáo viên phải tìm hiểu thật kỹ nội dung bài dạy,

2 Tiến hành thí nghiệm.
*Bƣớc 1: Thu thập thông tin
Giáo viên hướng cho học sinh quan sát các sự kiện, hiện tượng, thí
nghiệm, tìm được những thông tin cần thiết từ thực tế, sách giáo khoa, báo....
Lập kế hoạch khám phá thiết kế thí nghiệm, lựa chọn dụng cụ thiết bị thí
nghiệm, chỉ ra đại lượng cần đo, những điều cần xác định trong thí nghiệm, chỉ
ra những yếu tố cần giữ nguyên, không thay đổi khi làm thí nghiệm.
Tiến hành thí nghiệm: Bố trí lắp đặt dụng cụ thiết bị thí nghiệm; thực hiện thí
nghiệm theo hướng dẫn, thay đổi phương án thí nghiệm nếu kết quả không phù
hợp với vấn đề đặt ra
Ghi kết quả khám phá. Đọc số chỉ của các dụng cụ thí nghiệm ở mức độ
cẩn thận và chính xác cần thiết, lập bảng kết quả, biểu diễn kết quả bằng đồ thị ,
sơ đồ ......
*Bƣớc 2: Xử lí thông tin
Ví dụ như : lập bảng, biểu, vẽ đồ thị theo những cách khác nhau, từ đó phân tích
dữ liệu, kết quả thí nghiệm và nêu ý nghĩa của chúng. Tìm quy luật từ kết quả thí
nghiệm từ biểu bảng đồ thị. Phân loại dấu hiệu giống nhau, khác nhau, nhận biết
những dấu hiệu bản chất của những nhóm đối tượng đã quan sát......, so sánh,
phân tích, tổng hợp dữ liệu và rút ra kết luận
*Bƣớc 3:Thông báo kết quả làm việc
Mô tả lại những thí nghiệm đã làm, trình bày, giải thích những việc đã làm bằng
lời, bằng hình vẽ hoặc bằng đồ thị...nêu kết luận đã tìm thấy được.
6


r ờn

v

c


v

c

cách chủ động sáng tạo. Điều vô cùng quan trọng là giáo viên phải biết kết hợp
thí nghiệm với hệ thống câu hỏi dẫn dắt. Ở chương II phần Âm học hầu hết các
thí nghiệm biểu diễn và thí nghiệm kiểm chứng để xây dựng và mở rộng kiến
thức. Ví dụ bài “Nguồn âm” ngoài các dụng cụ như dây cao su, trống, âm
thoa....giáo viên có thể tạo thêm một thí nghiệm nhạc cụ (đàn ống nghịêm) và
hướng cho học sinh tự làm và kiểm tra được kết luận. Với thí nghiệm củng cố
này học sinh sẽ rất hứng thú và nắm vững được đặc điểm của nguồn âm đó là
“Vật dao độn phát ra âm”. Có làm được như vậy theo tôi đã đạt được mục
đích đặt ra.
3 Trao đổi ở tổ nhóm
Ngoài sự nỗ lực của bản thân mỗi giáo viên cần tích cực học hỏi, trao đổi
dự giờ bạn nhất là giao lưu chuyên môn, các giờ dạy tốt dạy giỏi ở trường bạn.
Đặc biệt trong trường hàng tuần tổ chức một buổi sinh họat chuyên môn của
nhóm, tổ theo hình thức sinh hoạt chuyên môn theo hướng đổi mới về việc vận
dụng đổi mới phương pháp giảng dạy vào từng tiết học. Bàn bạc trong tổ về cách
thức sáng tạo các thí nghiệm trong từng bài dạy. Nhờ đó mà kỹ năng thí nghiệm
và chất lượng giảng dạy được nâng nên rõ rệt.
IV. ÁP DỤNG VÀO MỘT TRƢỜNG HỢP CỤ THỂ
Tiết 11: Bài 10- Nguồn âm
I/ Mục tiêu:
1.Kiến thức.
- Nhận biết được một số nguồn âm thường gặp
- Nêu được nguồn âm là một vật dao động
2. Kỹ năn .
- Chỉ ra được một số vật phát ra nguồn âm.

Nội dung ghi bảng

Tổ chức tình

huống học tập
GV: Yêu cầu học sinh tìm hiểu mục
tiêu của chương II.
GV: Chương âm học nghiên cứu các
hiện tượng gì?
9


r ờn

v

c

HS: Đọc mở bài và nêu mục đích của
bài
GV: Vậy âm thanh được tạo ra như thế
nào ta nghiên cứu bài hôm nay.
* oạt độn

2: Nhận biết nguồn âm I. Nhận biết nguồn âm

(10ph)
GV: Yêu cầu học sinh đọc thông tin C1
và giữ yên lặng 1phút để trả lời câu hỏi
C1.


c

cầu các nhóm làm thí nghiệm(vừa lắng
nghe vừa quan sát)
GV: Theo dõi giúp đỡ những nhóm
yếu.
hí n hiệm 2: H10.2 SGK. Thay cốc Thí nghiệm 2: H10.2 SGK
bằng trống
GV: Yêu cầu học sinh đọc thông tin
trong SGK và làm thí nghiệm như
H10.2 SGK
GV: Yêu cầu học sinh trả lời câu hỏi
sau:
Phải kiểm tra như thế nào để biết mặt
trống có rung động không?
HS: Trả lời câu hỏi C4 SGK
GV: Thông báo: Sự rung động qua lại
vị trí cân bằng của vật gọi là dao động.
hí n hiệm 3:

Thí nghiệm 3: H10.3 SGK

GV: Yêu cầu học sinh quan sát H10.3
SGK và tiến hành làm thí nghiệm.
HS: Làm thí nghiệm. Gõ vào một
nhánh của âm thoa, lắng nghe, quan sát
và trả lời câu hỏi C5 SGK
GV: Yêu cầu học sinh tìm phương án


GV: Yêu cầu họcc sinh thảo luận và trả - HS trả lời câu C6, C7, C8
lời C6, C7, C8.
HS: Nhận xét.
GV: Gọi học sinh làm thí nghiệm củng
cố sau đó trả lời câu hỏi C9 SGK
2/ Củng c - Tích h p BVMT
GV:Các vật phát ra âm có chung đặc
điểm gì?
HS: đọc phần có thể em chưa biết
GV: Bộ phận nào trong cổ phát ra âm(

12


r ờn

v

c

cổ họng phát ra âm do dây âm thanh
trong cổ dao động)
HS: Nêu phương án kiểm tra (Đặt tay
vào sát ngoài cổ họng)
- Để bảo vệ giọng nói của n

ời, ta

cần luyện tập th ờng xuyên, tránh
nói quá to, không hút thuốc lá.

T.bình

YếuKém

Khá Giỏi

T.bình

Yếu-Kém

7A

32%

40%

28%

53%

44%

3%

7B

31%

42%


r ờn

v

c

C BÀI HỌC RÚT R .
Việc đổi mới phương pháp giảng dạy là vấn đề cấp bách góp phần nâng
cao chất lượng giáo dục. Tuy nhiên cũng giống như các hoạt động khác trong
nhà trường nhân tố quyết định vẫn là đội ngũ giáo viên. Theo tôi người thầy phải
có nhận thức đúng, yêu nghề, chăm chỉ có sự chuẩn bị kĩ ( sau khi đã nghiên
cứu kĩ bài dạy) các thí nghiệm phải được thầy chủ động tiến hành trước nhiều
lần, với các phương thức khác nhau để chọn ra phương pháp hay nhất, học sinh
dễ áp dụng khai thác được tốt kiến thức từ các thí nghiệm này, học sinh phải tự
mình được làm các thí nghiệm, ngôn ngữ của thầy phải trong sáng, chính xác,
trình bày ngắn gọn xúc tích để học sinh tiếp thu bài nhanh. Bên cạnh đó người
thầy phải luôn tìm tòi, sáng tạo, học tập, lắng nghe ý kiến góp ý của đồng
nghiệp, rút ra kiến thức mang tính tinh chắc thực tiễn và vận dụng phương pháp
tốt nhất cho mỗi bài dạy.
Môn Vật lí là môn khoa học thực nghiệm rất gần với cuộc sống đó là
thuận lợi nhưng để khai thác hết hiệu quả của từng tiết học theo tôi là vô cùng
khó cho nên chắc chắn trên đây cũng chỉ là những kinh nghiệm nhỏ của tôi cũng
như của nhóm Vật lý trường PTDT Nội trú THCS

THPT Bắc Hà chúng tôi.

Rất mon đ ợc sự óp ý chân th nh của các đồn n hiệp
c

, ngày 18 tháng 3 năm 2014


3

6. Biện pháp thực hiện

4

7. Áp dụng vào một trường hợp cụ thể

8

8. Bài học kinh nghiệm

15

16


r ờn

v

c

NHẬN XÉT- ÁNH GIÁ VÀ XẾP LOẠI CỦ B N GIÁM KHẢO
……………………………………………………………………………………………………………………......
……………………………………………………………………………………………………………………......
……………………………………………………………………………………………………………………......
……………………………………………………………………………………………………………………......
……………………………………………………………………………………………………………………......

……………………………………………………………………………………………………………………......
……………………………………………………………………………………………………………………......
……………………………………………………………………………………………………………………......
……………………………………………………………………………………………………………………......

17


r ờn
v
c
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO LÀO CAI
TRƢỜNG PTDT NỘI TRÚ THCS&THPT BẮC HÀ

SÁNG KIẾN KINH NGIỆM
“SỬ DỤNG THÍ NGHIỆM TRONG GIẢNG DẠY VẬT LÝ 7
ĐỂ CÓ GIỜ DẠY HIỆU QUẢ”

Họ và tên: Nguyễn Ngọc Sáng
Chức vụ: Giáo viên
Tổ: Toán- Lý- Tin- Công Nghệ
ơn vị: Trƣờng PTDT Nội trú THCS&THPT Bắc Hà

Bắc Hà, ngày 22 tháng 5 năm 2014

18





Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status