Sáng kiến kinh nghiệm SKKN sử dụng tài liệu văn học giúp học sinh hứng thú học tập lịch sử việt nam lớp 8, 9 - Pdf 40

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

ĐỀ TÀI:
"SỬ DỤNG TÀI LIỆU VĂN HỌC GIÚP HỌC SINH HỨNG THÚ
HỌC TẬP LỊCH SỬ VIỆT NAM LỚP 8, 9"

1


Phần một
ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Đặc điểm bộ môn
Dạy học lịch sử ở trường phổ thông là một quá trình giáo viên cung cấp cho học sinh
những kiến thức cơ bản của sử dân tộc nói riêng và lịch sử nhân loại nói chung, nhằm
phục vụ cho việc giáo dục học sinh phát triển toàn diện. Lịch sử vốn tồn tại khách quan
và đã diễn ra trong quá khứ, cho nên muốn học sinh tiếp thu được vấn đề đòi hỏi giáo
viên phải lựa chọn các phương pháp dạy học khác nhau sao cho đạt kết quả cao.
Với phương pháp dạy học lấy học sinh làm trung tâm, học sinh chủ động lĩnh hội tri thức,
càng đòi hỏi người thầy giáo phải khai thác triệt để các phương pháp dạy học tích cực để
thu hút sự chú ý của học sinh. Đồng thời lôi cuốn sự ham mê đối với học sinh học môn
lịch sử trong tình hình hiện nay.
Đặc thù của bộ môn Lịch sử là: dài, nhiều sự kiện với những mốc Lịch sử khác nhau nên
khó ghi nhớ.
2. Lí do chọn đề tài
Trong nhà trường phổ thông, bộ môn lịch sử là một trong những bộ môn có tầm
quan trọng và có tính giáo dục rất lớn, nó cung cấp cho học sinh một bức tranh sinh động
về lịch sử loài người và lịch sử dân tộc
Từ đặc điểm bộ môn và yêu cầu thực tế, đòi hỏi chúng ta phải đổi mới phương
pháp dạy học lịch sử nhằm giúp học sinh hứng thú học tập, phát huy tính tích cực của học
sinh, giúp học sinh tư duy và nắm được nội dung kiến thức trọng tâm.
Vì vậy người giáo viên phải sử dụng đến kiến thức các môn học khác như: Địa,

1.1. Cơ sở lí luận
Bác Hồ kính yêu dạy “Dân ta phải biết sử ta
Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”
Tại kỳ họp của Quốc hội khoá X năm 2000, Quốc hội X đã thông qua Nghị quyết số
40/2000/QH10 về vấn đề đổi mới chương trình giáo dục phổ thông. Tiếp đó ngày
11/6/2001 Thủ tướng Chính phủ ra Chỉ thị số 14/2001/CT-TTg về đổi mới giáo dục phổ
thông. Trong đó nhấn mạnh mục tiêu của chương trình đổi mới giáo dục phổ thông là
nhằm thay đổi cách dạy và học theo hướng tích cực hoá hoạt động của học sinh. Một
trong những phương pháp để tích cực hoá hoạt động dạy và học đó là việc dạy học liên
môn.
Dạy học liên môn là một trong những nguyên tắc quan trọng của dạy học ở trường
phổ thông nói chung, môn lịch sử nói riêng. Nó góp phần bổ sung lượng kiến thức các
môn học khác cho bài học, giúp học sinh hứng thú say mê học tập, góp phần nâng cao
hiệu quả bài học, đồng thời từ đó học sinh hướng đến và làm theo những điều tốt đẹp vì
con người.

3


Mặt khác, bộ môn lịch sử cung cấp cho học sinh những tri thức ở nhiều lĩnh vực
của đời sống xã hội trong quá trình phát triển của lịch sử dân tộc và thế giới (cả tri thức
về khoa học xã hội và khoa học tự nhiên). Do đó việc dạy học liên môn là dùng các kiến
thức ở các bộ môn khác bổ sung, hỗ trợ làm sáng rõ hơn kiến thức mà học sinh đang
được học trong môn học, cụ thể ở đây là bộ môn lịch sử và việc sử dụng tài liệu văn học
trong dạy học lịch sử. Từ cơ sở đó tôi mạnh dạn xin trình bày những kinh nghiệm về sử
dụng tài liệu văn học trong giờ học lịch sử.
1.2. Cơ sở thực tiễn
“Lịch sử là những gì đã diễn ra trong quá khứ; lịch sử loài người mà chúng ta học là
toàn bộ những hoạt động của con người từ khi xuất hiện đến nay”
(SGK Lịch sử 6 – trang 3 – NXB Giáo dục năm 2002)

quan.... thì chúng ta cần sử dụng nhiều hơn nữa nguồn tài liệu văn học trong giờ học lịch
sử để làm bài giảng thêm sinh động, hấp dẫn hơn.
Chƣơng II
THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. Những thuận lợi và khó khăn khi thực hiện đề tài
2.1.1. Thuận lợi
Thứ nhất: Bản thân là một giáo viên có nhiều năm tham gia giảng dạy môn Lịch sử 8, 9
nên nắm bắt rất rõ đặc điểm của bộ môn, mục đích, yêu cầu của chương trình và nắm bắt
rất rõ những khó khăn mà các em gặp phải khi lĩnh hội kiến thức lịch sử.
Thứ hai: Từ năm học 2011-2012 trường tôi có hai giáo viên giảng dạy bộ môn Lịch sử
với trình độ chuẩn trở lên, đó là điều kiện để chúng tôi thường xuyên thực hiện các
chuyên đề, dự giờ, thao giảng và rút kinh nghiệm nhằm nâng cao chất lượng bộ môn.
Thứ ba: Ngày nay với sự bùng nổ của các phương tiện thông tin truyền thông đã giúp các
em tiếp cận Lịch sử với nhiều nguồn khác nhau để lĩnh hội kiến thức Lịch sử một cách
đầy đủ nhất. Bên cạnh đó các em nhìn nhận bộ môn Lịch sử cũng theo chiều hướng tích
cực hơn.
Thứ tư: Học sinh Trường trung học cơ sở Ba Vinh đa số các em đều ngoan, được trang bị
đầy đủ sách giáo khoa, và có thư viện với các đầu sách để các em tham khảo.
Thứ năm: Bản thân có sức kho tốt, có thời gian công tác giảng dạy; được Ban giám hiệu,
tổ chuyên môn cùng đồng nghiệp trong đơn vị giúp đỡ, tạo điều kiện để hoàn thành tốt
nhiệm vụ.
2.1.2. Khó khăn
Thứ nhất: Học sinh Trường trung học cơ sở Ba Vinh có đến 99 % là con em đồng bào các
dân tộc thiểu số, đời sống vật chất khó khăn, trình độ không đồng đều nên chất lượng bộ
môn thấp, có hạn
Thứ hai: Chưa có phòng học bộ môn, các trang thiết bị phục vụ dạy học vẫn còn thiếu,
xuống cấp.
Thứ ba: Đa số các em chưa biết khai thác các kênh thông tin để nâng cao hiệu quả lĩnh
hội kiến thức Lịch sử.
5

1

Lịch sử chỉ là môn học phụ

2

Môn lịch sử rất khô khan và dài dòng

3

Học lịch sử rất thú vị vì nó giúp em tìm hiểu được
lịch sử loài người và lịch sử dân tộc

4

Học lịch sử chỉ cần học những gì thầy cô cho ghi là

Đúng

Sai

6


được, không cần phải tìm tòi thêm
Kết qủa thu được như sau:
Câu 1: 82 học sinh trả lời đúng, 31 học sinh trả lời sai
Câu 2: 75 học sinh trả lời đúng, 38 học sinh trả lời sai
Câu 3: 50 học sinh trả lời đúng, 63 học sinh trả lời sai
Câu 4: 72 học sinh trả lời đúng, 41 học sinh trả lời sai


3

Trong đó, con số 1 chỉ phần tài liệu tham khảo không có trong SGK, giáo viên đưa vào
bài giảng nhằm nâng cao tính khoa học, sự trong sáng vừa sức, sự hấp dẫn lôi cuốn của
giờ học lịch sử.
Ngoài SGK, tài liệu tham khảo có vị trí, ý nghĩa quan trọng trong việc làm phong
phú kiến thức lịch sử đang học, hiểu sâu hơn quá khứ, tạo bài giảng hấp dẫn, sinh động
có sức lôi cuốn học sinh.
Phân loại tài liệu tham khảo, theo tài liệu BDTX chu kì III, nó có các loại như sau:
- Tài liệu lịch sử gốc: Gồm các văn kiện, tài liệu có liên quan trực tiếp đến sự kiện,
ra đời vào thời điểm xảy ra sự kiện như các hiệp ước, điều ước, tuyên ngôn.... Ví dụ:
Hiệp ước Hác Măng (1883); tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước VNDCCH (2/9/1945).
- Tài liệu, văn kiện của Đảng, Nhà nước, phong trào công nhân và cộng sản Quốc
tế....
- Các tài liệu văn học (văn học dân gian, văn học bác học, văn học hiện đại...)
- Tài liệu lịch sử rút ra từ các công trình nghiên cứu sử học, dân tộc học....
Như vậy, trong giờ dạy học việc sử dụng tài liệu tham khảo giúp học sinh có thêm
cơ sở để nắm vững, hiểu bản chất sự kiện lịch sử, hình thành khái niệm, hiểu rõ quy luật,
bài học của lịch sử, nó giúp các em khắc phục việc “hiện đại hoá” lịch sủ hoặc “hư cấu”
sai sự thực lịch sử.
3.2. Sử dụng tài liệu văn học trong dạy học Lịch sử
3.2.1. Vai trò, ý nghĩa của tài liệu văn học
Tài liệu văn học trong quá trình dạy học lịch sử ở trường phổ thông có vai trò to
lớn.
Trước hết, các tác phẩm văn học với những hình tượng cụ thể có tác động mạnh mẽ
đến tư tưởng, tình cảm của học sinh, nó giúp học sinh tiếp nhận kiến thức, khắc sâu kiến
thức một cách dễ dàng hơn.
Ví dụ: Khi dạy bài 20 (lịch sử 6) – “Từ sau Trưng Vương đến trước Lí Nam Đế”
ở mục 4. Cuộc khởi n ghĩa Bà Triệu (năm 248) để khắc sâu hình ảnh oai phong của Bà

Ngoài ra, việc sử dụng tài liệu văn học dân gian còn giúp học sinh biết được, hiểu được
về chí khí con người, về địa danh của một nhân vật lịch sử nào đó.
Ví như khi nói về Lí Công Uẩn giáo viên có thể dùng 4 câu thơ sau:
“Màn có trời cao, chiếu đất liền
Đêm trăng thanh thả giấc thần tiên
Suốt đêm nào dám vung chân duỗi
Chỉ sợ sơn hà xã tắc nghiêng.”

9


Bên cạnh những tác dụng trên, việc sử dụng tài liệu văn học dân gian sẽ giúp cho
việc giáo dục tư tưởng, đạo đức nói chung và giáo dục truyền thống dân tộc nói riêng có
kết quả hơn. Chẳng hạn như: để giáo dục truyền thống đấu tranh bất khuất của dân tộc,
giáo viên có thể sử dụng trong bài giảng những tác phẩm như: Hịch Tướng Sĩ; bài thơ
Thần của Lí Thường Kiệt;.... Hoặc để giáo dục lòng biết ơn các vua Hùng, giáo viên sử
dụng hai câu nói của Bác Hồ: “Các vua Hùng đã có công dựng nước
Bác cháu ta phải cùng nhau giữ nước.”
b. Các tác phẩm văn học ra đời vào thời kì diễn ra các sự kiện lịch sử
Đối với các tác phẩm văn học này, nó có ý nghĩa rất lớn đối với khi khui lại
hình ảnh quá khứ. Nó làm quá khứ của sự kiện lịch sử trở lên sống động hơn, chân
thật hơn. Sự kiện trở nên có sức sống hơn và thu hút học sinh hơn khi theo dõi bài
giảng.
Trong quá trình lịch sử từ đầu thế kỉ XX, khi nói về sự biến đổi của xã hội Việt
Nam, cũng như thân phận của người nông dân trong xã hội thuộc Pháp. Giáo viên có thể
sử dụng nhiều tác phẩm văn học có giá trị như: “Tắt đèn” của Ngô Tất Tố; “Bước đường
cùng” của Nguyễn Công Hoan; “Lão Hạc” của Nam Cao.... để khắc sâu hình ảnh thân
phận người nông dân trong lòng xã hội cũ.
Như vậy có thể nói rằng các tác phẩm văn học, xuất hiện cùng thời kì diễn ra các sự kiện
lịch sử, đã giúp học sinh thấy được “bức tranh” sống động của lịch sử, làm cho các em

trị văn học.
Thứ hai: Tài liệu ấy phải là một bức tranh sinh động về những sự kiện, nhân vật
lịch sử đang học phải phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh.
Thứ ba: Đối với giáo viên:
- Trước khi sử dụng, cần có sự lựa chọn kĩ càng, phải loại bỏ những yếu tố không
phù hợp. Đặc biệt đối với tài liệu văn học dân gian như thần thoại, cổ tích, ca dao, dân
ca.... giáo viên cần loại bỏ những yếu tố thần bí hoang đường giữ lại những điểm cơ bản,
khoa học phục vụ bài giảng.
- Khi sử dụng giáo viên chỉ đưa vào những nội dung phù hợp, tránh việc lạm
dụng đưa vào quá nhiều, làm loãng nội dung bài học lịch sử, biến giờ học sử thành giờ
giới thiệu các tác phẩm văn học, ảnh hưởng tới sự tập trung nhận thức của học sinh
vào những vấn đề đang học. Đồng thời, giáo viên cần sử dụng ngữ điệu phù hợp với
tài liệu văn học, với nội dung sự kiện lịch sử cần minh hoạ phải đưa vào bài giảng một
cách hợp lí, lôgíc.... làm được điều đó thì tính thuyết phục, hấp dẫn sẽ tăng lên rất
nhiều.
Nói tóm lại, việc sử dụng tài liệu văn học trong giờ học sử là một trong những cách
thức để giáo viên đưa tài liệu tham khảo vào trong giờ dạy sử. Thực hiện theo sơ đồ dạy
học của Đairi, qua đó hoàn thành mục tiêu bài học, kế hoạch dạy học và nâng cao chất
lượng bộ môn trong trường phổ thông.
3.5. Minh họa cách “Sử dụng tài liệu văn học giúp học sinh hứng thú học tập lịch sử
Việt Nam lớp 8, 9”
11


3.5.1. Minh họa cách sử dụng tài liệu văn học trong dạy học trong một số bài ở
chương trình lịch sử Việt Nam lớp 9
Bài 14: Việt Nam sau chiến tranh Thế giới thứ nhất
Ở mục I. Chương trình khai thác lần thứ hai của thực dân Pháp
Khi giảng đến phần Thực dân Pháp tăng cường đầu tư vào nông nghiệp và khai mỏ giáo
viên có thể minh họa bằng câu thơ:

Mục II. Nguyễn Ái Quốc ở Liên Xô (1923-1924)
“Tuyết Mát -cơ -va sáng ấy lạnh trăm lần
Trông tuyết trắng như đọng nghìn nước mắt
Lê Nin mất rồi nhưng Bác chẳng dừng chân
Luận cương của Lê Nin theo người về quê Việt
Biên giới còn xa nhưng Bác đã đến rồi
Kìa bóng Bác đang hôn lên hòn đá
Lắng nghe trong màu hồng hình đất nước phôi thai”
(Trích: "Người đi tìm hình của nước" của Chế Lan Viên)
Hoặc: “Tháng giêng, Mạc Tư Khoa tuyết trắng
Một người đi quên rét buốt xương
Anh tìm ai? Lê-nin vĩ đại
Tinh hoa trên đất chất kim cương”
(Trích: "Theo chân Bác" của Tố Hữu)
Trên đây là dẫn chứng nhằm cung cấp thêm tư liệu cho học sinh về “Bản yêu sách của
nhân dân An Nam” của Nguyễn Ái Quốc gửi đến hội nghị Véc-xai, qua các dẫn chứng
này, chúng ta còn giúp học sinh dễ nhớ được các mốc lịch sử và giáo dục cho học sinh
tình cảm của mình dành cho Bác Hồ.
Bài 17: Cách mạng Việt Nam trước khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời.
Mục III. Việt nam quốc dân đảng và cuộc khởi nghĩa Yên Bái (1930)
Khi nói về chủ nghĩa “Tam dân” của Tôn Trung Sơn giáo viên có thể trích dẫn câu: “Độc
Lập - Tự Do - Hạnh Phúc” trong quốc hiệu của nước ta và liên hệ cách mạng Trung Quốc
với cách mạng Việt Nam.
Dân tộc: Độc lập
Dân quyền: Tự do.
Dân sinh: Hạnh phúc.
Bài 19: Phong trào cách mạng trong những năm1930 -1935
Nhằm khắc sâu địa danh cách mạng trong thời kì này giáo viên đọc đoạn thơ trong bài
"Thơ cách mạng”:
14

15


(Trích: "Theo chân Bác" của Tố Hữu)
Qua bài thơ này học sinh dễ dàng nhớ được mốc thời gian Bác Hồ về nước là mùa xuân
năm 1941 và năm ra đi tìm đường cứu nước là 1911 ( ba mươi năm ấy…)
Để thấy không khí cách mạng sôi sục dâng trào, ta liên hệ các câu thơ sau:
“Đồng cỏ héo đã bùng lên lửa cháy
Nước non ơi hết thảy vùng lên
Bắc, Trung, Nam khắp 3 miền
Toàn dân khởi nghĩa chính quyền về tay”
Học sinh thấy được vai trò quần chúng để làm nên lịch sử, củng cố nhận thức, tư tưởng
của các em làm cho các em càng khắc sâu truyền thống anh hùng của dân tộc.
Bài 23: Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 và sự thành lập nước Việt Nam Dân Chủ
Cộng Hòa.
Mục I: Lệnh tổng khởi nghĩa được ban bố.
Trong mục này giáo viên cần trích đoạn:
“Việt Nam độc lập đồng minh
Có bản chương trình đánh Nhật, đánh Tây
Quyết làm cho nước non này,
Cờ treo độc lập, nền xây bình quyền
....Rồi ra sự nghiệp hoàn thành
Rõ tên Nam Việt, rạng danh Lạc Hồng
Khuyên ai nên nhớ chữ đồng,
Đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh”
(Bản diễn ca: "Mười chính sách của Việt Minh" của Hồ Chí Minh)
Bản diễn ca này giúp cho chúng ta nắm được các chính sách của mặt trận Việt Minh.
Mục III. Giành chính quyền trong cả nước
Nhân sự kiện Bác Hồ đọc tuyên ngôn độc lập, nhà thơ Tố Hữu viết:
“Hôm nay sáng mồng hai, tháng chín

Hỡi anh em binh sĩ, tự vệ, dân quân!
Giờ cứu nước đã đến, ta phải hi sinh đến giọt máu cuối cùng để giữ gìn đất nước, dù phải
gian lao kháng chiến, nhưng với một lòng kiên quyết hi sinh, thắng lợi nhất định về dân
tộc ta.
Việt Nam độc lập và thống nhất muôn năm! Kháng chiến thắng lợi muôn năm!
(Trích: "Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến" của Hồ Chí Minh)
17


Lời kêu gọi của Chủ Tịch Hồ Chí Minh rất ngắn gọn và súc tích, lời kêu gọi đã nói rõ
được âm mưu của thực dân Pháp và tinh thần đấu tranh vì độc lập của nhân dân Việt
Nam, qua đó học sinh biết được khí thế cách mạng của những năm đầu kháng chiến
chống Pháp.
Hoặc: Giọng của Người không phải sấm trên cao
Thấm từng tiếng ấm vào lòng mong ước
Con nghe Bác tưởng nghe lời non nước
Tiếng ngày xưa và cả tiếng mai sau
Học sinh thấy rằng lời kêu gọi của Bác là tiếng gọi của non sông đất nước, là mệnh lệnh
của cách mạng tiến công dục dã soi đường chỉ lối cho mọi người Việt Nam đứng dậy cứu
nước.
Mục IV. Chiến dịch Việt Bắc Thu- Đông năm 1947
Qua thơ ca giúp học sinh xác định được các địa danh trong chiến dịch:
“Anh kể chuyện tôi nghe
Trận chợ Đồn chợ Rã
Ta đánh giặc chạy re
Hai đứa cười ha ha”
Bài 26: Bước phát triển mới của cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp (19501953)
Mục I. Chiến dịch Biên giới Thu- Đông 1950
Bác Hồ của chúng ta đã trực tiếp ra trận để chỉ đạo chiến dịch. Khi dạy bài này giáo viên
có thể cung cấp thêm cho học sinh bài thơ “Đêm nay Bác không ngũ”

học sinh hiểu rõ sự hi sinh, gian khổ và đã làm nên một Điện Biên Phủ chấn động địa
cầu. Niềm tự hào dân tộc, thôi thúc các em ra sức học tập và rèn luyện nêm người...
Qua khổ thơ học sinh thấy được sự đồng lòng đồng sức của nhân dân ta trong Chiến dịch
Điện Biên Phủ: “Dốc Pha Đin chị gánh anh thồ
Đèo Lũng Lô anh hò chị hát”
Hoặc: “Súng nổ rung trời giận dữ
Người lên như nước vỡ bờ
Nước Việt Nam từ máu lửa
Rủ bùn đứng dậy sáng loà”
(Nguyễn Đình Thi)
19


Mục III. Hiệp Định Giơnevơ năm 1954
“Sông Bến Hải bên bồi bên lỡ
Cầu Hiền Lương bên nhớ bên thương
Cách chia mười mấy năm trường
Khi mô mới nối được đường vô ra”
Một giới tuyến quân sự tạm thời, nhưng đế quốc Mĩ đã âm mưu chia cắt đất nước ta lâu
dài Nam- Bắc ngăn cách nước:
“Nhưng súng gươm đâu ngăn được tình thương
Đâu ngăn được mặt trời đỏ rực
Khi lòng tôi đã hoá hướng dương”
(Lê Anh Xuân)
Bài 28: Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Miền Bắc, đấu tranh chống Đế Quốc Mĩ và chính
quyền Sài Gòn ở Miền Nam (1954-1965)
Với chính sách tố cộng, diệt cộng và đạo luật 10/59 của Mĩ - Diệm, qua khổ thơ học sinh
thấy được tộ ác của Mĩ- Ngụy
“Có những ông già chúng khảo tra
Chẳng khai nó chém giữa sân nhà

khủng hoảng trầm trọng kéo theo khủng hoảng về kinh tế, xã hội như nông nghiệp sa sút,
đất đai khai khẩn được lại rơi vào tay địa chủ, dân phiêu tán khắp nơi. Giáo viên có thể
trích một bài vè nói về tình cảnh của nhân dân ở giai đoạn này:
“Cơm thì chẳng có
Rau cháo cũng không
Đất trắng xóa ngoài đồng
Nhà giàu niêm kín cổng
Còn một bộ xương sống
Vơ vất đi ăn mày”
Mục 2: Chiến sự ở Gia Định 1959.
- Ngày 17/2/1859, Pháp nổ súng đánh thành Gia Định, quân triều đình nhanh chóng tan
rã, Nguyễn Đình Chiểu đã ghi lại sự kiện bi thảm này qua bài thơ “Chạy giặc”
“Tan chợ vừa nghe tiếng súng Tây,
Một bàn cờ thế phút sa tay.

21


Bỏ nhà lũ t lơ xơ chạy,
Mất ổ đàn chim dáo dát bay
Bến Nghé của tiền tan bọt nước,
Đồng Nai tranh ngói nhuốm màu mây
Hỡi trang dẹp loạn rày đâu vắng,
Nỡ để dân đen mắc nạn này”
(Theo thơ văn Nguyễn Đình Chiểu – NXB Văn học, Hà Nội 1963)
- Trong khi phong trào chống Pháp diễn ra khắp nơi thì triều đình nhà Nguyễn lại lần
lược kí với Pháp từ hiệp ước Nhâm Tuất làm cho nhân dân vô cùng phẫn nộ, giáo viên có
thể minh họa:
“Tan nhà cám nổi câu ly hận
Cắt đất thương thay cuộc giảng hòa

của các tên đao phủ, chúng tôi không bao giờ ghi nhận được một sự yếu đuối nào”.
Bài 25 “Kháng chiến lan rộng ra toàn quốc (1873-1884)
- Chiến thắng tiêu biểu trong cuộc đấu tranh của quân dân Bắc Kì là chiến thắng Cầu
Giấy lần nhất (21/12/1873) và chiến thắng Cầu Giấy lần hai (19/5/1883), chiến thắng này
công lớn thuộc về đội quân cờ đen của Lưu Vĩnh Phúc, để khắc họa về tài cũng như tinh
thần chống Pháp của Lưu Vĩnh Phúc như sau:
“Cung kiếm tài cao ít k lường
Đáo để anh hùng lòng bất khuất
Về Tàu còn nguyện giết Tây dương”
- Sau hiệp ước Giáp Tuất 1874, nhân dân phản đối mạnh mẽ, nhân dân không chỉ đánh
Tây mà chống cả triều đình:
“Dập dìu trống đánh cờ xiêu
Phen này quyết đánh cả Triều lẫn Tây”
Mục II – phần 2: Nhân dân Bắc Kì tiếp tục kháng Pháp.
Để làm cho học sinh hiểu rõ tình cảnh rối ren của triều Nguyễn khi Tự Đức mất cũng như
hiểu tại sao Pháp lại không nhân nhượng triều Nguyễn như năm 1874 nữa. Giáo viên có
thể đọc cho học sinh nghe hai câu ca dao sau:
“Một nhà sinh được Ba vua
Vua sống, vua chết, vua thua chạy dài”
(Ba vua này là Đồng Khánh (sống), Kiến Phúc (chết), Hàm Nghi chạy ra Sơn
phòng đều là con của Kiến Thái Vương (một nhà))

23


Bài 29: Chính sáh khai thác thuộc địa của thực dân Pháp và những chuyển biến về
kinh tế, xã hội ở Việt Nam.
Phần I mục 1: Xã hội Việt Nam trong cuộc khai thác lần thứ nhất của thực dân Pháp,
dưới tác động của chính sách khai thác thuộc địa lần thứ nhất của thực dân Pháp đã làm
cho kinh tế cũng như xã hội Việt Nam có nhiều chuyển biến, khi phân tích cuộc sống của

các buổi diễn thuyết bhay bình văn thu hút được nhiều tầng lớp tham gia như có quan lại,
binh lính, viên chức, nông dân … một bài văn thời đó đã viết:
“Buổi diễn thuyết, người đông như hội
Kì bình văn, khách đến như mưa”
- Khi nói về sự biến đổi của xã hội Việt Nam, cũng như thân phận của người nông
dân trong xã hội thuộc Pháp. Giáo viên có thể sử dụng nhiều tác phẩm văn học có giá trị
như: “Tắt đèn” của Ngô Tất Tố; “Bước đường cùng” của Nguyễn Công Hoan; “Lão
Hạc” của Nam Cao.... để khắc sâu hình ảnh thân phận người nông dân trong lòng xã hội
cũ.
Ngoài ra tài liệu văn học được sử dụng để tổ chức những buổi hoạt động ngoại khóa cho
môn lịch sử, nhằm cung cấp thêm kiến thức và phát triển tư duy cho học sinh, muốn đưa
tài liệu văn học vào dạy lịch sử trong hoạt động ngoại khóa có hiệu quả thì giáo viên phải
giúp học sinh lập danh mục sách cần đọc, nêu một số tác phẩm truyện hoặc thơ có liên
quan để học sinh tìm dễ dàng. Giáo viên có thể khơi dậy tính hiếu kì và lòng ham hiểu
biết của học sinh bằng cách tóm tắt sơ lược nội dung trong sách, kể một vài chi tiết,
những đoạn nhỏ trong sách để kích thích học sinh tiếp tục đọc để tìm hiểu.
Trên đây là một số dẫn chứng trong việc sử dụng yếu tố Văn học trong dạy học Lịch sử,
nội dung văn học gắn liền với sự kiện Lịch sử, Văn học phản ánh Lịch sử dân tộc, nếu
trong quá trình giảng dạy giáo viên biết vận dụng một cách linh hoạt kiến thức Văn học
thì sẽ làm cho bộ môn đỡ khô khan, đỡ nhàm chán hơn cho các em, gây cho học sinh sự
thích thú tìm tòi, khai thác kiến thức Lịch sử và hơn hết là giúp các em dễ nhớ, dễ thuộc.
Chƣơng IV
KẾT QUẢ ĐẠT ĐƢỢC
Tôi đã sử dụng kinh nghiệm này vào các tiết dạy và đạt được kết quả khả quan, khi sử
dụng một số câu thơ, câu văn, câu trích dẫn… minh họa cho một sự kiện lịch sử, bài học
lịch sử làm giờ học sinh động hơn, hấp dẫn học sinh hơn, giờ học đạt hiệu quả cao. Trong
dạy học dùng thơ văn cho học sinh có vai trò tích cực, chủ động trong việc học tập, qua
đó các em chủ động tìm những kiến thức đã học để hiểu sâu, toàn diện một sự kiện lịch
sử, đồng thời học sinh còn ôn tập, củng cố, tổng hợp kiến thức ở mức độ cao hơn. Kết
quả năm học 2012-2013 cao hơn năm học 2011-2012 và kết quả học kì I năm học 20132014 cụ thể như sau:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status