Sáng kiến kinh nghiệm SKKN ứng dụng CNTT trong dạy học giải quyết vấn đề qua tiết ôn tập hình học 9 (chương 1) - Pdf 39

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

ĐỀ TÀI:
“ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC GIẢI
QUYẾT VẤN ĐỀ QUA TIẾT ÔN TẬP HÌNH 9 (CHƯƠNG I)”


I) TÊN ĐỀ TÀI:
ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
QUA TIẾT ÔN TẬP HÌNH 9 (CHƯƠNG I)
II) ĐẶT VẤN ĐỀ:
1) Sự cần thiết khách quan và tác dụng của việc vận dụng công nghệ thông tin trong
giảng dạy ôn tập hình học lớp 9.
Tiết ôn tập môn hình học luôn cần thiết cho giáo viên và học sinh qua mỗi chương
học. Nhưng sự chăm chỉ của học sinh yếu và trung bình môn toán chưa cao, do đó đến
tiết ôn tập học sinh đại trà cảm thấy luôn bị dồn tải lượng kiến thức. Việc hệ thống lý
thuyết chương bằng phương pháp bảng phấn chưa hấp dẫn học sinh; bài tập ôn tập
chương thường là các bài tổng hợp kiến thức, phong phú và đa dạng. Việc tư duy nhanh
khi hệ thống các kiến thức, vận dụng các định lý, kỹ năng tính toán, cách lập luận trong
chứng minh hình học của học sinh đại trà còn hạn chế; do đó học sinh chưa thấy thích
học tiết ôn tập và luôn cho đó là trở ngại lớn.
Thực hiện việc dạy học tích cực đòi hỏi người thầy phải rèn cho học sinh từng bước
nắm vững và vận dụng tốt kiến thức đã học, hình thành cho học sinh phương pháp tự học
tốt. Một trong những phương tiện để dạy tốt tiết ôn tập nhằm giúp học sinh nắm vững
chắc kiến thức và biết tư duy một cách độc lập là người thầy biết vận dụng công nghệ
thông tin qua bài giảng điện tử có hiệu quả.
- Tác dụng: bài giảng điện tử của tiết ôn tập đem lại sự lôi cuốn, hấp dẫn, giúp học
sinh tập trung học tập, giúp học sinh tự tái hiện được các kiến thức đã học qua kênh hình,
các hình ảnh trực quan với nhiều nội dung ôn luyện, chẳng những rèn học sinh kỹ năng
thực hành phong phú, giúp học sinh phát huy tốt óc phân tích tổng hợp khi tự hệ thống
kiến thức trọng tâm của chương học còn giúp giáo viên tận dụng tối đa thời gian ôn luyện

môn hình của học sinh khá giỏi vẫn còn khiếm khuyết, còn học sinh đại trà luôn cho bài
tập hình trong các đề kiểm tra là một trở ngại lớn.
3) Nguyên nhân:
Những tồn tại trong thực trạng vừa nêu trên do các nguyên nhân sau:
- Trong các tiết giảng dạy trên lớp, việc chú trọng đổi mới phương pháp giảng dạy về đặt
và giải quyết vấn đề của giáo viên chưa được thường xuyên. Khâu hướng dẫn học và làm
bài tập về nhà cho học sinh chưa được cụ thể, công việc cho học sinh làm về nhà để phục
vụ cho tiết học sau chỉ được giáo viên dặn dò sơ sài. Việc chuẩn bị bài mới hay bài tập về
nhà cho tiết ôn tập của đa số học sinh trung bình thường thiếu sót do việc nắm kiến thức
và vận dụng kiến thức vào giải bài tập ở học sinh còn sai sót, tính chịu khó khi làm bài
tập về nhà lại chưa cao. Giáo viên và phụ huynh chưa có thời gian để thường xuyên kiểm
tra hầu uốn nắn sai sót, chỉnh sửa tính cẩu thả của học sinh nên hứng thú học toán Hình
nhất là chuẩn bị bài cho tiết ôn tập thì đa số học sinh đại trà chuẩn bị chưa tốt.
- Một số học sinh ít chú ý đến việc sử dụng trang thiết bị hiện đại phục vụ học tập như
truy cập mạng tìm hiểu các kiến thức có liên quan đến môn học, hoặc tự tham gia các
chương trình vui học đang phổ biến trên các phương tiện thông tin đại chúng hay trao


đổi thông tin học tập với nhau qua internet, mà phần đông học sinh chỉ thích sử dụng
sách giải.
Từ những tồn tại trên, tôi đã lên kế hoạch và tìm giải pháp để phát huy tính tích cực học
tập của học sinh qua bài giảng điện tử. Tôi đã tăng cường đổi mới phương pháp dạy học
qua đặt và giải quyết vấn đề trong giảng dạy hình học trên bài giảng điện tử và ghi nhận
được:
- Trong tiết học, với phương pháp đặt vấn đề trên các hình ảnh trình chiếu của giáo viên,
học sinh nắm được nhanh các yêu cầu của bài học, sự tập trung của học sinh vào vấn đề
cần giải quyết của một bài tập được học sinh lớp tham gia tích cực hơn.
- Việc rèn kỹ năng giải bài tập cho học sinh đại trà cũng như phát huy trí lực học sinh
giỏi có chuyển biến tốt. Thực tế giảng dạy cho thấy đa số học sinh biết vận dụng kiến
thức vừa hệ thống ở phần lý thuyết vào giải quyết vấn đề mà giáo viên nêu ra đạt mục

đường cao trong tam giác vuông.
và góc trong tam giác vuông.
- Tiết 3: Luyện tập.

- Tiết 13: Luyện tập

- Tiết 5: Tỉ số lượng giác của góc - Tiết 17 & 18: Ôn tập chương I.
nhọn.

III) CƠ SỞ LÝ LUẬN:
Mục tiêu giáo dục cấp Trung Học Cơ Sở trong giai đoạn mới:
Việc đổi mới phương pháp dạy học thực hiện đúng theo quyết định số 16/ 2006/
QĐ- BGD & ĐT ngày 5/ 5/ 2006: “Phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng
tạo của học sinh; phù hợp với đặc trưng môn học, đặc điểm đối tượng học sinh, điều kiện
của từng lớp học, bồi dưỡng cho học sinh phương pháp tự học, khả năng hợp tác, rèn
luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm
vui, hứng thú và trách nhiệm học tập cho học sinh”
Với giáo viên: Thực hiện đúng một trong các nhiệm vụ năm học là ứng dụng công
nghệ thông tin trong đổi mới phương pháp dạy học: dạy học theo “phương pháp dạy học
tích cực” nhằm giúp học sinh hình thành được các năng lực: tự học, sáng tạo, hợp tác
theo nhóm, kỹ năng vận dụng kiến thức vào những tình huống khác nhau trong học tập,
kỹ năng vận dụng kiến thức Toán vào đời sống và các môn học khác, hình thành được
nhận thức đúng ở học sinh: học để đáp ứng những yêu cầu của cuộc sống hiện tại và
tương lai thì trong đó phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết những vấn đề
trong học tập luôn cần thiết, đó luôn là phương pháp giúp học sinh tự giải quyết vấn
đề để chủ động chiếm lĩnh kiến thức. Từ đó, học sinh tự hình thành hiểu biết, năng lực
và phẩm chất để hoàn thiện nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, đi vào cuộc
sống lao động với đầy đủ trách nhiệm người công dân mới tham gia xây dựng đất nước.



- Bài học, bài tập về nhà của học sinh đại trà vẫn còn vài tiết chưa chuẩn bị tốt, việc sử
dụng 15 phút truy bài đầu giờ để chép bài giải của bạn vẫn còn.


- Khi hoạt động nhóm với yêu cầu giải quyết vấn đề của giáo viên nêu ra, thường chỉ có
học sinh khá giỏi tham gia.
- Khả năng diễn đạt ngôn ngữ toán cho một sơ đồ phân tích ở một bài tập, hay hệ thống
kiến thức trên sơ đồ tư duy khi giáo viên đặt vấn đề cho lớp, đa số học sinh lúng túng,
cách ghi bài giải toán chưa chuẩn.
Tôi đã thống kê kết quả điểm kiểm tra một tiết chương I của năm học 2011- 2012
trước khi giáo viên chưa tăng cường giảng dạy đặt và giải quyết vấn đề có vận dụng ứng
dụng công nghệ thông tin cho thấy phần hạn chế:
Năm
học
20112012

Điểm

Điểm

8.0

6.5
7.8

-> 10.0

Điểm
-> 5.0


TỈ LỆ:

TỈ LỆ:

TỈ LỆ:

TỈ LỆ:

TỈ LỆ:

TỈ LỆ:

12,5 %

20 %

45 %

12,5 %

7,5 %

2,5 %

Chất
lương
kiểm tra
hình

Số


Biện pháp hỗ trợ

1) Biện pháp 1: Đầu tư soạn giảng, đổi mới 1) Biện pháp 1: Rèn
việc thiết kế bài soạn qua các phần mềm tin học sinh đổi mới
học.
phương pháp học tập
2) Biện pháp 2: Chú trọng khâu chuẩn bị bài qua các bài trong
học, rèn phương pháp tự học cho học sinh ở chương I.
nhà đồng thời tổ chức cho học sinh tăng cường 2) Biện pháp 2:
các hoạt động học ở lớp.
Tăng cường hoạt
3) Biện pháp 3: Thực hiện nội dung và phương động học của học
pháp kiểm tra, đánh giá mới theo chuẩn kiến sinh qua vui học, hoạt
thức – kỹ năng.
động nhóm.
4) Biện pháp 4: Kết hợp tốt sự chỉ đạo chuyên
môn của Ban Giám Hiệu, Tổ chuyên môn,
Phòng bộ môn và hỗ trợ đắc lực của phụ huynh
học sinh.
MINH HOẠ CÁC BIỆN PHÁP:
1) Biện pháp 1: Đầu tư soạn giảng, đổi mới việc thiết kế bài soạn qua các phần mềm
tin học.
Đầu tư soạn giảng đổi mới thiết kế bài soạn là khâu quan trọng cho việc đổi mới tư
duy trong cách học của học sinh. Tôi đã đầu tư bài soạn, lên phương án thiết kế bài mới,


phần nào cần vận dụng tin học, đơn vị kiến thức nào cần rèn luyện kỹ năng cho học sinh.
Ví dụ khi dạy ôn tập chương, tôi đã thiết kế bài soạn: ôn tập lý thuyết theo sơ đồ tư duy
trên phần mềm iMindMaps 6.0 kết hợp Powerpoint, phần bài tập: cho học sinh nắm yêu

đúng)
- Các công thức này vận
dụng làm gì? Mỗi công
thức, hãy phát biểu
thành lời?
- Tương tự, giáo viên
đặt câu hỏi cho học sinh
tự hệ thống lần lượt các
kiến thức trọng tâm ở
chương I
- Học sinh tham gia


luyện ngôn ngữ, nhận
xét và hoàn chỉnh nội
dung lý thuyết cần ôn.
Hiệu quả: Điểm sáng tạo mới của giáo viên trong thiết kế bài giảng
trên phần mềm imindmap 6.0 có kết hợp powerpoint đã giúp học
sinh phát huy tính chủ động, độc lập trong việc tự hệ thống lại các
đơn vị kiến thức cần ôn, đem đến sự chủ động tự tổng hợp các
mạch kiến thức đã học. Học sinh không bị buột tư duy theo hình
ảnh trình chiếu hay dẫn dắt của giáo viên, điều đó giúp học sinh
nhớ lâu bài học hơn.
(Xin xem thêm minh họa trong dĩa mềm tiết 17: ôn tập chương)
Hay bài tập cần rèn kỹ năng, trên Powerpoint tôi đã xây dựng nội dung:
Hình ảnh trình chiếu trực quan

Hoạt động của GV và HS
- GV lần lượt trình chiếu
các hình ảnh, cho học sinh


Trên sơ đồ tư duy, về lý thuyết: học sinh tự hệ thống được các kiến thức cần học, giáo
viên kiểm tra được việc nắm kiến thức cũ của học sinh với thời gian nhanh nhất.
Phần bài tập: Với từng hình ảnh động trên màn hình, học sinh biết tư duy xây dựng
được bài tập mới, giáo viên giúp học sinh động não liên hệ các kiến thức đã học, sáng
tạo trong nếp nghĩ, biết lập sơ đồ minh họa các bước giải qua các hình ảnh trình
chiếu cùng câu hỏi gợi ý của giáo viên và từ sơ đồ: học sinh tự trình bày bài, biết nhận
xét lẫn nhau khi giải quyết vấn đề của bài tập. Việc tự xây dựng được đề bài tập và
biết vạch hướng cụ thể giải quyết bài toán là một việc cần thiết trong ôn tập và rèn kỹ
năng cho học sinh, nhất là phát huy đội ngũ học sinh khá giỏi. Điều này giúp học sinh
biết tư duy khoa học và sáng tạo trong nếp nghĩ, làm cơ sở cho nề nếp tự học, xây
dựng được sự tự tin khi giải quyết mỗi yêu cầu bài toán.
(Xin tham khảo thêm bài ôn tập tiết 17 & 18 trên powerpoint trong phần phụ lục trên
word và trong dĩa mềm).
2) Biện pháp 2: Chú trọng khâu chuẩn bị bài học, rèn phương pháp tự học cho học
sinh ở nhà đồng thời tổ chức cho học sinh tăng cường các hoạt động học ở lớp.
Khâu chuẩn bị bài của học sinh luôn đem lại chất lượng cho mỗi tiết học, nhất là
tiết ôn tập. Với cách đặt vấn đề của giáo viên qua sơ đồ tư duy, học sinh biết tự hệ thống
lại kiến thức trọng tâm trong chương đã học, tự củng cố lại phần lý thuyết với thời gian ít
nhất, đồng thời giúp giáo viên ôn luyện được nhiều dạng bài tập, sự tương tác giữa trò
với trò; thầy với trò luôn đạt mục tiêu bài học. Tôi đã rèn phương pháp tự học ở nhà cho
học sinh qua khâu hướng dẫn bài tập về nhà vào cuối mỗi tiết học.
Ví dụ: khi dạy tiết ôn tập 17 & 18, trong tiết dạy 16 tôi đã hướng dẫn về nhà cho
học sinh tự học phần lý thuyết của chương, sau đó đến lớp hướng dẫn học sinh tự hệ
thống phần lý thuyết qua sơ đồ tư duy:
Hướng dẫn của giáo Nội dung cần ôn luyện và hiệu quả đạt
viên với phương pháp được
đặt và giải quyết vấn
đề
- Giáo viên trình chiếu * Nội dung học sinh tự hệ thống phần lý

nào? Hãy nêu định nghĩa công thức một cách trôi chảy, học sinh
có được cách học nhớ lâu của từng đơn
từng đại lượng đó?
vị kiến thức trong chương, tự học sinh
- Tỉ số lượng giác trong tam rèn cho mình cách học nhớ và hiểu.
giác vuông còn có tính chất
- Sơ đồ tư duy giúp giáo viên tóm tắt nội
gì?
dung ôn tập từng chủ đề kiến thức
- Vận dụng tỉ số lượng giác trong chương, các mối liên hệ của nội
trong các bài tập ta cần nhớ dung từng chủ đề rõ ràng; tải đến học
các công thức nào?
sinh phần ôn luyện kiến thức với cách
- Các tỉ số lượng giác này học khắc sâu kiến thức. Đồng thời giáo
giúp ta giải quyết những vấn viên cũng đánh giá được việc nắm kiến
thức cũ của học sinh với thời gian ít
đề nào trong bài tập?
Phương pháp tương tự cho nhất, chỉnh sửa có hiệu quả nhất trong
hệ thức giữa cạnh và góc việc rèn ngôn ngữ toán cho học sinh.


trong tam giác vuông.
Để học sinh tự hình thành cách học ở nhà một cách độc lập, tôi đã soạn các bài tập
trên HotPotatoes và tổng hợp kiến thức phần lý thuyết qua sơ đồ tư duy rồi gởi qua email
cho các nhóm học sinh để các em về nhà có thời gian ôn luyện hơn. Ví dụ:
Nội dung cần cho học sinh tự rèn luyện ở nhà

Hiệu quả đạt được

* Kiến thức tự ôn về hệ thức lượng trong tam - Học sinh được ôn

Internet. Kỹ năng


giao tiếp của học
sinh được dần hoàn
thiện, Thầy và Trò
luôn có niềm vui
trong giảng dạy và
học tập.

Để tăng cường các hoạt động học của học sinh tại lớp, tôi đã trình chiếu nội dung
câu hỏi trắc nghiệm rồi rèn kỹ năng giải bài tập trên bảng con của mỗi học sinh: qua đó
tôi đã đánh giá được việc nắm bài học đồng thời luyện ngôn ngữ toán học cho học sinh
trong thời gian ít nhất, sự tương tác của học sinh luôn làm không khí học tập sôi nổi.
- Gv trình chiếu nội dung câu hỏi

- Học sinh tự làm trên bảng con

- GV cho học sinh làm bài tập - Học sinh tự đối thoại lẫn nhau,
miệng: nhóm 1 hai câu 1&2; nhóm nhận xét, tự củng cố kiến thức.
2 câu 3&4


Tôi còn tăng cường sự tự tin, cách học độc lập và đối thoại giữa học sinh với nhau
qua các bài tập trắc nghiệm khách quan có định lượng thời gian (từ 1 đến 3 phút) trên
phần mềm HotPotatoes. Ví dụ:
- Gv trình chiếu nội dung
bài tập, cho học sinh hoạt
động nhóm: mỗi nhóm có
một bài tập với ba phút

giám hiệu, Phòng bộ môn, Phụ huynh học sinh.
Với biện pháp này, ngay từ đầu năm, theo kế hoạch tôi đã tham mưu tốt với Hiệu
phó chuyên môn, thực hiện tốt việc thực tập giảng dạy, dự giờ đồng nghiệp, cùng nhau
trao đổi các hình thức và phương pháp giảng dạy mới qua việc tiếp cận và triển khai các
chuyên đề của Phòng Giáo Dục & Đào Tạo thành phố Tam Kỳ đã chỉ đạo trong thực hiện
nhiệm vụ năm học.
Ví dụ: Hệ thức giữa cạnh và góc là một đơn vị kiến thức mà bài tập thường mang tính
thực tế, nhưng học sinh đại trà ít tư duy trừu tượng, thường cho là loại bài tập khó. Để rèn
kỹ năng giải bài tập cho học sinh, tôi đã đổi mới hình thức và thống nhất định hướng cách
giải: đưa nội dung bài với phương pháp qui lạ về quen trên các hình vẽ, rồi hướng dẫn
học sinh vạch đường lối giải quyết yêu cầu bài toán trên sơ đồ tư duy, từ sơ đồ đó luyện
học sinh cách trình bày bài giải rồi cho học sinh nêu lại kiến thức vận dụng. Ví dụ:
Đề bài: Một người đi xe đạp lên một cái dốc (hình vẽ). Biết
4,3 km; BC = 2,8 km.

µ = 190 ,
µA = 110 , B

độ dài AB =


a) Hãy tính độ cao của dốc tại đỉnh C.
b) Nếu người ta làm một dây cáp treo từ A đến C thì cần một dây cáp có độ dài tối
thiểu là bao nhiêu?
Đặt vấn đề của giáo viên với phương Hiệu quả đạt được
pháp quy lạ về quen, định hướng
giải trên sơ đồ tư duy
- Giáo viên cho học sinh đọc đề, nắm
yêu cầu đề, quan sát màn hình nhận
biết độ cao dốc được cụ thể hóa theo


Định hướng cách giải:

- Bên cạnh đó, cần thực hiện đúng kế hoạch soạn giảng tôi đã kết hợp Phòng bộ
môn của Trường để được hỗ trợ tốt đồ dùng giảng dạy như máy tính xách tay, phòng dạy
đèn chiếu ..v..v… Hay kịp thời trao đổi với phụ huynh học sinh về những tồn tại của học
sinh yếu như thái độ học tập, cách học ở nhà; sự chuẩn bị đồ dùng học tập ..v…v... đồng
thời yêu cầu phụ huynh nhắc nhở và kiểm tra việc học và làm bài tập về nhà của học sinh
tốt hơn.
* MINH HỌA CÁC BIỆN PHÁP HỖ TRỢ:
1) Biện pháp 1: Rèn học sinh đổi mới phương pháp học tập qua các bài trong chương
I.
- Rèn cho học sinh nhận biết nhanh vấn đề đặt ra của giáo viên ở từng đơn vị kiến
thức là điều kiện không thể thiếu trong mỗi bài dạy, mỗi đơn vị kiến thức cần ôn luyện.
Để có tiết ôn tập chương hiệu quả, từng bài học trong chương, tôi đã dần dần luyện học
sinh làm quen với phương pháp đặt và giải quyết vấn đề, tăng cường hoạt động học bằng
cách đặt ra một vấn đề mới có nội dung liên quan đến tiết học, cho học sinh tiếp cận nắm
bắt kiến thức mới và hướng dẫn học sinh vận dụng kiến thức vừa học định hướng giải
quyết vấn đề đó.
Ví dụ khi dạy bài: “Tỉ số lượng giác của góc nhọn”, tôi đã đặt vấn đề cho học sinh
như sau:


Cho VABC vuông tại A giả sử có độ dài các cạnh tăng theo bảng kê, em có nhận xét gì về
tỉ số các độ dài của chúng? (chưa trình chiếu tỉ số AC và BC)
Hình vẽ
C

A


- Học sinh nhận xét được: khi độ dài các cạnh tăng, tỉ số giữa hai độ dài cạnh AC và BC
đều bằng 0,53 là một số không đổi.
- Giáo viên trình chiếu tiếp hình ảnh trên Sketchpad: giới thiệu cạnh huyền BC và độ dài
AC là cạnh đối của góc B trong tam giác vuông ABC, giáo viên cho học sinh quan sát
điểm C di chuyển chậm trên tia BM đồng thời nắm bắt sự thay đổi độ dài của hai cạnh,
từ đó học sinh thấy được: khi độ lớn cạnh đối của một góc nhọn và cạnh huyền trong tam
giác vuông thay đổi thì tỉ số giữa chúng vẫn là một số không đổi.

- Từ đó giáo viên giới thiệu khái niệm tỉ số lượng giác của một góc nhọn trong tam giác
vuông, giới thiệu tiếp: đại diện cho tỉ số đó mà chúng ta vừa tính gọi là sin góc B, kí hiệu
là sin B.


- Tương tự, giáo viên trình chiếu trên bảng kê độ dài cạnh AB (hàng tiếp theo) với số
liệu tăng dần, cho học sinh hoạt động nhóm tính các tỉ số còn lại (kề- huyền, đối- kề; kềđối) để hình thành các tỉ số lượng giác của góc nhọn B. Sau khi học sinh nắm định nghĩa
tỉ số lượng giác của góc nhọn trong tam giác vuông, giáo viên trình chiếu tiếp sự tăng
giảm kích thước đồng thời tăng giảm độ lớn góc (qua chuyển động của điểm C) để học
sinh được ghi nhớ tỉ số lượng giác qua quan sát các số liệu

Tiếp theo giáo viên trình chiếu khung sơ đồ tư duy, cho học sinh tự củng cố lại định
nghĩa tỉ số lượng giác bằng hoạt động luyện nói cho mỗi học sinh.

Và củng cố kiến thức vừa học bằng bài tập trắc nghiệm:


Giáo viên trình chiếu hình ảnh và Mỗi học sinh tự làm trên bảng con.
nêu yêu cầu công việc
• Hiệu quả đạt được so với lúc chưa vận dụng dạy học bằng cách
đặt vấn đề trên bài giảng điện tử:
So sánh với cách dạy truyền thống, giáo viên phải vẽ hình

1
a.h với
2

a: đáy,

h:chiều cao)
- Vậy ta cần làm gì? (HS: vẽ thêm
AH ⊥ BC ; H ∈ BC )
- Học sinh nắm yêu cầu bài
toán và hiểu được: tìm diện tích
VABC bằng kiến thức mới trong
tiết học.

- Kẻ đường cao AH xong, ta cần tính
các độ dài nào? Các độ dài AH; BC có
tìm được bằng cách dùng kiến thức PiTa- Go không?
- Vậy để tính được độ dài đường cao
AH và cạnh đáy BC, ta cần nắm nội
dung bài mới: “Hệ thức giữa cạnh và
góc trong tam giác vuông”

Sau khi học sinh nắm được các công thức liên hệ giữa cạnh và góc trong tam giác
vuông, giải các bài tập vận dụng [?] ở sách giáo khoa, tôi cho học sinh giải quyết vấn đề
đặt ra đầu tiết học bằng cách hướng dẫn học sinh vạch hướng giải quyết bài toán qua sơ
đồ:

* Hiệu quả:
Tăng cường hoạt động nhận thức cho học sinh từ những hình ảnh đặt vấn đề
cùng câu hỏi gợi ý của giáo viên đã giúp học sinh đổi mới cách học: phải tìm tòi, suy

họa:
- Giáo viên: Với từ “H” gắn với tam giác vuông; nhóm I có mấy đáp án? Còn nhóm hai
có đáp án nhiều hơn không?
- Học sinh nêu được các đáp án: Hệ thức giữa cạnh và đường cao trong tam giác vuông;
hệ thức giữa cạnh và góc trong tam giác vuông; hệ thức liên quan về tỉ số lượng giác hai
góc phụ nhau.


- Giáo viên: Các nhóm hãy ghi các công thức của nhóm mình lên bảng? Rồi cho học sinh:
từ các công thức đó phát biểu thành lời. Nhóm nào hoàn thành số lượng nhiều nhất với
thời gian ít nhất là thắng.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status