Sáng kiến kinh nghiệm sử dụng đồng hồ vạn năng nâng cao chất lượng dạy thực hành môn công nghệ 12 - Pdf 40

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

ĐỀ TÀI:
“KINH NGHIỆM SỬ DỤNG ĐỒNG HỒ VẠN NĂNG NÂNG CAO
CHẤT LƢỢNG DẠY THỰC HÀNH MÔN CÔNG NGHỆ 12”

1


MỞ ĐẦU
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lý do chọn đề tài
Đổi mới phương pháp dạy học là nhiệm vụ cấp thiết đang đặt ra cho ngành giáo dục
hiện nay. Nghị quyết Đại hội đại biểu lần XI của Đảng đã chỉ rõ: “Đổi mới phương
pháp dạy và học, phát huy tư duy sáng tạo và năng lực tự đào tạo của người học, coi
trọng thực hành, thực nghiệm, ngoại khoá, làm chủ kiến thức, tránh nhồi nhét, học
vẹt, học chay…”. Tiếp tục triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa
XI về: “Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục và đào tạo…”
Như chúng ta biết môn Công Nghệ có những đặc thù riêng so với môn học khác đây
là môn học tương đối mới so với môn học khác và chương trình môn học gắn với thực
tiễn, với công nghệ với sản xuất. Do đó bên cạnh việc truyền thụ kiến thức cho học sinh,
người giáo viên cần phải rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo, các thao tác làm việc trong lao động
sản xuất.
Môn Công Nghệ là môn học mang nhiều tính thực tiễn do vậy phương pháp chủ yếu
trong giảng dạy là kết hợp lí thuyết với thực hành, thực hành một mặt cũng cố lý thuyết
cho học sinh mặt khác để hình thành những kỹ năng cần thiết cho học sinh và tập cho học
sinh vận dụng các kiến thức kỹ năng đã được học vào thực tế vào cuộc sống hàng ngày,
qua đó gây thêm sự hứng thú và lòng say mê của học sinh đối môn học góp phần chuẩn
bị cho học sinh phân luồng để một bộ phận sẽ vào học các lĩnh vực giáo dục phổ thông,
giáo dục nghề nghiệp, số còn lại sẽ đi vào cuộc sống lao động.
Muốn tăng hiệu quả học tập, nhằm rèn luyện kỹ năng, thái độ đúng đắn, khoa học

Xét về tâm lí lứa tuổi, đối với các các em học sinh ở lứa tuổi THPT hầu hết thích tìm
tòi những cái mới lạ. Việc đưa các đồ dùng trực quan, và được thử tay nghề của mình vào
các bài thực hành là rất cần thiết, sẽ làm cho học sinh thích thú, say mê học tập. Tuy
nhiên nếu giáo viên không có kỹ năng thành thạo, không sử dụng thiết bị đồ dung trực
quan hợp lý, không có phương pháp hướng dần học sinh một cách khoa học thì rất dễ gây
phản tác dụng( không đúng với kết quả lý thuyết…) hoặc có thể dẫn đến việc mất tập
trung vào nội dung bài giảng và có thể gây ra tai nạn lao động.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Về phía Thầy:
- Có kiến thức về phương pháp dạy học đặc biệt là phương pháp dạy học thực hành; có
kĩ năng, thao tác thành thạo việc sử dụng thiết bị đồ dùng trong dạy thực hành, có tay
nghề của người thợ điện tử.
- Có kiến thức sâu về chuyên ngành điện tử và điện kỹ thuật được đào tạo.
- Biết phối hợp các phương pháp giáo dục truyền thống và hiện đại để có kết quả giáo
dục cao nhất.
3


Về phía trò:
- Tích cực chủ động trong việc tiếp thu kiến thức, có khả năng tư duy sáng tạo trong
quá trình học tập.
- Có hứng thú trong việc học thực hành, say mê công việc, có kiến thức về an toàn lao
động.
- Biết lắp ráp một số mạch điện tử đơn giản trong các bài thực hành.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài: “Kinh nghiệm sử dụng đồng hồ vạn năng nâng cao
chất lượng dạy thực hành môn Công Nghệ 12” được xây dựng và thực hiện trong các
bài dạy thực hành môn Công Nghệ lớp 12 tại trường THPT Phù Cừ từ năm học 2010 2011 đến nay.
II. PHƢƠNG PHÁP TIẾN HÀNH
1. Cơ sở định hƣớng nghiên cứu đề tài
Trong nhiều năm qua tôi đã suy nghĩ đổi mới cách dạy và học bộ môn nói chung và


NỘI DUNG
I. MỤC TIÊU
Với mục tiêu chung của giáo dục phổ thông hiện nay là “Giúp học sinh phát triển toàn
diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kĩ năng cơ bản; phát triển năng lực cá
nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ
nghĩa, xây dựng tư cách, trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên
hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia bảo vệ Tổ quốc”.
Kết quả cần đạt được của đề tài này là nghiên cứu sâu phương pháp sử dụng thiết bị
đồ dùng trong dạy học thực hành, xây dựng các bài dạy thực hành có hiệu quả cao nhằm
rèn luyện kỹ năng thực hành cho học sinh khối 12. Nhằm “Phát huy tính tích cực, tự
giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc trưng môn học, đặc điểm đối
tượng học sinh, điều kiện của từng lớp học; bồi dưỡng cho học sinh phương pháp tự
học, khả năng hợp tác; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động
đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú và trách nhiệm học tập của học sinh; góp
phần định hướng cho học sinh khối 12 biết cách lựa chọn nghề nghiệp cho bản thân”.
II. TÌM HIỂU THIẾT BỊ THỰC HÀNH
Như chúng ta đã biết, phương pháp dạy thực hành là phương pháp dạy học mà trong
đó học sinh dựa vào sự quan sát giáo viên làm mẫu và tiến hành thực hành tự lực dưới sự
hướng dẫn của giáo viên, nhằm giúp cho học sinh rèn luyện kỹ năng thực hành. Do đó,
người dạy muốn có các thao tác chuẩn mực, kỹ năng thành thạo trong dạy thực hành thì
cần phải hiểu rõ tính năng tác dụng của các thiết bị. Ở đây trong giới hạn của đề tài này
tôi chỉ đề cập tới : Đồng hồ vạn năng kim hiển thị SANWUA – YX – 960TR và các
thiết bị liên quan được sử dụng phổ biến trong các trường THPT (Thực tế có nhiều loại:
Đồng hồ vận năng hiển thị số,…….).
1. Tìm hiểu cấu tạo bên ngoài đồng hồ vạn năng kim hiển thị
a. Hình dạng bên ngoài

6


1 – Kim chỉ thị

9 – Thang đo điện trở

2 – Mặt chỉ thị

10 – Chuyển mạch chọn thang đo

3 – Vít điều chỉnh điểm 0 tĩnh

11 – Thang đo điện áp xoay
chiều

4 – Đầu đo điện áp thuần xoay 12 –
Nút
chiều
(0Ω ADJ)
5 – Thang đo điện áp một chiều

điều

chỉnh

0Ω

13 - Cung chia đo điện áp xoay
chiều

6 – Đầu đo chung (Com)(căm que 14 - Cung chia đo điện áp và
đen)


Bảo vệ bằng cầu chì và điôt

·

DCV : Thang đo điện áp một chiều.

·

ACV : Thang đo điện áp xoay chiều.

·

DCA : Thang đo dòng điện một chiều.

·

Ω: Thang đo điện trở

·

0Ω ADJ : Chỉnh không ôm (chỉnh điểm không động)

·

COM (Common): Đầu chung, cắm que đo màu đen

·

(+) : Đầu đo dương, cắm que đo màu đỏ



- DC 2,5A: Đo dòng điện một chiều đến 2,5A
- Ω: Đo điện trở, có 5 thang đo, từ X1Ω đến X 10k
Lƣu ý:
- Trong đề tài này, tôi chỉ đề cập nghiên cứu chức năng của đồng hồ vạn năng kim hiển
thị phần nội dung có liên quan đến việc sử dụng trong các bài thực hành môn Công Nghệ
12. Những phần ứng dụng khác, cấu tạo bên trong và nguyên lý hoạt động,….. xin không
trình bày ở đây.
- Với mỗi loại đồng hồ kim hiển thị khác nhau thì cách bố trí thang đo, cung chia độ,
chức năng, …có những điểm khác nhau không nhiều; phần chính cơ bản là giống nhau.
2. Một số hình ảnh về đồng hồ vạn năng kim chỉ thị khác

III. NHỮNG GIẢI PHÁP THỰC HIỆN
Trong phân phối chương trình môn Công Nghệ lớp 12 hiện nay( đã giảm tải theo
hướng dẫn của Bộ GD&ĐT và có sự thống nhất của Sở GD&ĐT Hưng Yên) thì còn 5 bài
thực hành có sử dụng thiết bị đồng hồ vạn năng. Do vậy, tôi trình bày giải pháp theo từng
bài cụ thể:
1. Bài 3: Thực hành: Điện trở - Tụ điện – Cuộn cảm
Các linh kiện: Điện trở - Tụ điện – Cuộn cảm là các linh kiện thụ động nhưng
đóng vai trò quan trọng và có mặt hầu hết trong các mạch điện tử. Để tìm hiểu về các linh
kiện này, sách giáo khoa mới chỉ đề cập đến mục tiêu nhận biết, phân loại, đọc sơ đồ; còn
vấn đề đo trị số ( với linh kiện ghi trị số chưa rõ hoặc bị mờ), kiểm tra linh kiện còn tốt
10


hay xấu( dùng được – hay hỏng) thì chưa đề cập rõ ràng dẫn đến việc sử dụng các linh
kiện trong việc lắp ráp mạch điện tử gặp nhiều khó khăn.
a. Đo điện trở:
Trị số điện trở được ghi trên thân điện trở bằng cách ghi trực tiếp hoặc ghi theo kí

thang
đo
X
thang
đo
Ví dụ : nếu để thang x 100 ôm và chỉ số báo là 27 thì giá trị là = 100 x 27 = 2700
ôm = 2,7 K .



Bước 4 : Nếu ta để thang đo quá cao thì kim chỉ lên một chút , như vậy đọc trị số sẽ
không chính xác.



Bước 5 : Nếu ta để thang đo quá thấp , kim lên quá nhiều, và đọc trị số cũng không
chính xác.



Lƣu ý: - Khi đo điện trở ta chọn thang đo sao cho kim báo gần vị trí giữa cung
chia vạch đo thì sẽ cho độ chính xác cao nhất.
- Khi chuyển thang đo khác nhất thiết phải “chỉnh không”.
b. Xác định chất lƣợng của tụ điện

Tụ điện có rất nhiều loại( phân loại theo chất điện môi, theo trị số, phân cực, không phân
cực,…), đa số tụ điện có trị số được ghi trực tiếp trên vỏ tụ, riêng có tụ gốm ghi theo kí
hiệu( Ví dụ: 103 có trị số 10000 = 10n). Ở đây ta dùng thang điện trở để kiểm tra tụ
thường(không phân cực) và tụ hoá (có phân cực).
12

tụ mới có cùng điện dung.


Cách xác định tụ hoá tương tự như tụ thường, song góc quét của kim rộng hơn
nhiều(với tụ có điện dung lớn kim có thể quay đến chỉ 0 ôm rồi từ từ trở về vị trí
cũ).



Ở trên là phép đo so sánh hai tụ hoá cùng điện dung, trong đó tụ C1 là tụ mới còn
C2 là tụ cũ, nếu thấy tụ C2 có độ phóng nạp yếu hơn tụ C1 thì chứng tỏ tụ C2 bị
khô ( giảm điện dung )



Chú ý khi đo tụ phóng nạp, ta phải đảo chiều que đo vài lần để xem độ phóng nạp.

c. Đo kiểm tra cuộn cảm, dây quấn máy biến áp, thông mạch của một đoạn dây
dẫn, đoạn mạch in, loa,…
Cuộn cảm là cuộn dây dẫn điện có vỏ cách điện được quấn thành vòng (có thể ít
hoặc nhiều vòng). Có nhiều loại cuộn cảm: lõi không khí, lõi ferit, lõi sắt từ,….. Để
xác định trị số điện cảm ( trị số điện cảm được ghi trên nhãn gắn trên vỏ) người ta phải
đo kích thước, tính toán theo công thức hoặc gián tiếp bằng thực nghiệm, đo trực tiếp
là việc làm rất khó khăn. Ở đây chỉ xác định tính thông mạch của cuộn cảm và còn sử
dụng được hay không.

14


Hình ảnh một số cuộn cảm

sau:
a. Điôt bán dẫn
15


Điốt bán dẫn thực chất là một tiếp giáp P-N , có 2 điện cực và có vỏ bảo vệ. Có nhiều
loại điốt: điốt điểm, điốt mặt; điốt chỉnh lưu, ổn áp; điốt LED, xung,… Điốt bán dẫn dùng
để chỉnh lưu, tách sóng, ổn áp, phát quang, thu quang, biến dung,….

Một số loại điôt bán dẫn
Phƣơng pháp đo kiểm tra Điốt:


Đặt đồng hồ ở thang x 1 hoặc x 10Ω, chỉnh không và đặt hai que đo vào hai cực, nếu :



Đo phân cực thuận que đen vào Anôt, que đỏ vào Katôt mà kim lên, đảo chiều đo kim
không lên là Điốt tốt



Nếu đo cả hai chiều kim lên = 0Ω là Điôt chập.



Nếu đo thuận chiều mà kim không lên là Điốt bị đứt.

16


Đặt que đen vào Anôt, que đỏ vào Katôt của Tirixto, dùng Tovit chập
chân A vào chân G (trường hợp UGK > 0) thấy kim đồng hồ lên, sau đó bỏ Tovit ra kim
đồng hồ vẫn lên, như vậy là Tirixto còn tốt; đảo lại chiều que đo thì kim đồng hồ không
lên . Trái với kết quả trên thì Tirixto hỏng.


18


c. Triac
Triac là linh kiện bán dẫn gồm 6 miền bán dẫn ghép với nhau, có 3 điện cực là Anot(
A1), Katot( A2,) và cực điều khiển( G). Triac dùng để điều khiển các thiết bị điện trong
mạch điện xoay chiều như: động cơ điện, quạt, đèn,…..

Kí hiệu và hình dạng của Triac
Phƣơng pháp kiểm tra Triac
Cách đo kiểm tra Triac, cũng làm giống như cách
đo của Tirixto, trong cách đo Triac, khi đảo
chiều Triac, và cho kích cực điều khiển, nó cũng
sẽ vào trạng thái dẫn điện, trong khi đó thì SCR
lại không dẫn điện.
A1 A2 G

- Bước 1: Khi cực khiển( G) để hở, đo điện
trở hai cực A1, A2 thì kim đồng hồ đều không
lên (chỉ vô cùng).
- Bước 2: Đặt que đen của m kế vào cực A2,
que đỏ vào cực A1, kim không lên, cho cực G
chạm nhẹ vào cực A2 thì kim lên; lúc này để hở
cực G kim vẫn lên vì có tính tự giữ.

độ ẩm, do điện áp nguồn tăng cao hoặc do chất lượng của bản thân Tranzito, để kiểm tra
cần nhớ cấu tạo của chúng.

NPN

PNP

a. Trƣờng hợp đã phân biệt loại và các cực của Tranzito
Kiểm tra Tranzito ngược NPN tương tự kiểm tra hai Điôt đấu chung cực Anôt, điểm
chung là cực B, nếu đo từ B sang C và B sang E ( que đen vào B) thì tương đương như
đo hai điôt thuận chiều thì kim lên, tất cả các trường hợp đo khác kim không lên. Kiểm
tra Tranzito thuận PNP tương tự kiểm tra hai Điot đấu chung cực Katôt, điểm chung là
cực B, nếu đo từ B sang C và B sang E ( que đỏ vào B ) thì tương đương như đo hai điôt
thuận chiều thì kim lên , tất cả các trường hợp đo khác kim không lên. Trái với các điều
trên là Tranzito bị hỏng. Các bước thực hiện như sau:
* Tranzito NPN:


Bước 1 : Chuẩn bị đo để đồng hồ ở thang x10 Ω hoặc x100 Ω



Bước 2 : Đặt que đen vào cực B. Đo thuận chiều B - E và B - C thấy kim lên .



Bước 3: Đặt que đỏ vào cực B. Đo ngược chiều B - E và B - C thấy kim không lên.




Kết luận: Tranzito còn tốt.

b. Trƣờng hợp chƣa biết thông tin gì về Tranzito( kể cả chƣa biết tên).
- Bước 1: Chuẩn bị đo để đồng hồ ở thang x10 Ω hoặc x100 Ω
- Bước 2: Giữ một que trong hai que đo ở một cực cố định, que còn lại chuyển lần
lượt sang hai cực còn lại( thay đổi cực chọn làm cố định, thực hiện nhiều lần). Tới khi
xác định được một cực thông với hai cực còn lại( kim lên) thì cực đó sẽ là cực B của
Tranzito.

22


- Bước 3: Nếu que cố định là que đen thì là tranzito NPN , nếu que cố định là que
đỏ thì là PNP.
- Bước 4: Dùng hai que đo của đồng hồ đặt lên hai cực chưa xác định ( E và C), sau
đó dùng ngón tay thấm ướt quệt vào cực B (đã được xác định) thấy:
+ Nếu kim nhúc nhích thì xác định như sau: tranzito PNP thì que đen sẽ là cực E,
que đỏ sẽ là cực C; nếu là NPN thì que đỏ là cực E, que đen là cực C
+ Nếu đo lần đầu mà kim không nhúc nhích thì đảo que đo ở hai cực, rồi quệt tay
ướt vào cực B.
Lƣu ý: Trong trường hợp ngoại lệ khi mà Tranzito có điện trở lớp tiếp giáp nhỏ (lúc
bóng chưa mở) thì khi đặt que đo vào hai cực C và E trong hai trường hợp đều thấy kim
chỉ nhúc nhích. Lúc này ta đặt ngón tay ướt vào chân B và nếu là trường hợp đặt đúng thì
kim chỉ góc quay lớn hơn trường hợp còn lại.
4. Bài 10: Thực hành: Mạch nguồn điện một chiều:
Mạch nguồn một chiều là mạch điện được dùng khá phổ biến trong thực tế, để thực
hiện tốt mục tiêu bài học cần nắm vững cách đo điện áp xoay chiều, điện áp một chiều,
đo nhiều mức điện áp khác nhau; lưu ý ở đây là đo nóng( đo có điện). Trong quá trình đo
nếu không để ý sẽ mắc sai sót như: nhầm thang đo xoay chiều sang một chiều, điện áp
sang dòng điện,….gây sự cố, hỏng đồng hồ.

Dùng đồng hồ vạn năng mắc nối tiếp với tải tiêu thụ, thực hiện theo các bước sau:
- Đặt đồng hồ ở nấc đo dòng điện cao nhất.
- Đặt que đo nối tiếp với tải, que đỏ về chiều dương, que đen về chiều âm
- Nếu kim lên thấp thì giảm nấc đo
- Cách đọc giá trị giống như đo điện áp một chiều, nhớ là quan sát kim và đọc trên
cung đo dòng điện một chiều.
Sử dụng cách đo điện áp và dòng điện trên để xác định các giá trị của Mạch nguồn
điện một chiều:

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status