Sáng kiến kinh nghiệm về một số biện pháp giúp học sinh lớp 2 học tốt môn toánh - Pdf 40

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

ĐỀ TÀI:


"MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH LỚP 2 HỌC TỐT MÔN

TOÁN"


A-

Đặt vấn đề

I. Bối cảnh của đề tài:

Chương trình toán của tiểu học có vị trí và tầm quan trọng rất lớn. Toán học góp phần
quan trọng trong việc đặt nền móng cho việc hình thành và phát triển nhân cách học sinh.
Trên cơ sở cung cấp những tri thức khoa học ban đầu về số học, các số tự nhiên, các số
thập phân, các đại lượng cơ bản, giải toán có lời văn ứng dụng thiết thực trong đời sống
và một số yếu tố hình học đơn giản.

Môn toán ở tiểu học bước đầu hình thành và phát triển năng lực trừu tượng hoá, khái
quán hoá, kích thích trí tưởng tượng, gây hứng thú học tập toán, phát triển hợp lý khả
năng suy luận và biết diễn đạt đúng bằng lời, suy luận đơn giản, góp phần rèn luyện
phương pháp học tập và làm việc khoa học, linh hoạt sáng tạo.


Mục tiêu nói trên được thông qua việc dạy học các môn học, đặc biệt là môn toán. Môn
này có tầm quan trọng vì toán học với tư cách là một bộ phận khoa học nghiên cứu hệ
thống kiến thức cơ bản và sự nhận thức cần thiết trong đời sống sinh hoạt và lao động của

Đáp ứng việc đổi mới nội dung, phương pháp dạy học năm học 2009 - 2010 tôi đã thực
hiện đề tài này cho thấy kết quả dạy học đã được nâng lên , bước đầu khuyến khích học
sinh học tốt hơn. Qua một năm thử nghiệm bổ sung nhiều thiếu sót, đúc rút kinh nghiệm ,
năm học 2010 - 2011 tôi tiếp tục vận dụng đề tài “Một số biện pháp giúp học sinh học tốt
môn toán lớp 2” trong giảng dạy môn toán 2 phần cộng , trừ có nhớ trong phạm vi 100,
nhằm trang bị cho học sinh một tư duy mới, một phương pháp mới khoa học và ưu việt.

III. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu:

- Đề tài này áp dụng cho tập thể giáo viên lớp 2 trường Tiểu học Tân Phú A.

- Rèn cho học sinh lớp 2 kĩ năng tính toán.

IV. Mục đích nghiên cứu:


- Từ đầu năm học tôi đã chú trọng đến việc rèn kĩ năng thực hiện phép tính cộng, trừ để
học sinh tiếp thu tri thức có hệ thống, đó là việc rất quan trọng và cần thiết của người
giáo viên hiện nay nhằm giúp cho học sinh bắt kịp trình độ khoa học kĩ thuật tiên tiến và
sự đổi mới đất nước, sự cần thiết phải đổi mới con người chính vì vậy tôi mới đặt vấn đề
nghiên cứu.

V. Điểm mới trong kết quả nghiên cứu:

+ Kết quả nghiên cứu cho thấy:

- Học sinh có hứng thú học môn toán hơn vì trước đây bài làm của các em thường bị
điểm thấp.

- Làm thay đổi suy nghĩ trước đây của đồng nghiệp, xuất phát từ những quan điểm trên,

lập suy nghĩ, óc sáng tạo v.v...

II. Thực trạng của vấn đề:

Giáo viên thực hiện đầy đủ các yêu cầu của tiết dạy, tăng cường luyện tập thực hành ,
hình thành kĩ năng toán học cho học sinh , song việc khuyến khích học sinh tính bằng
nhiều cách, lựa chọn cách tính còn hạn chế. Học sinh thuộc bảng cộng trừ , nắm được


thuật tính, chưa thấy được sự đa dạng phong phú của các bài tập , khả năng vận dụng
cộng trừ nhẩm trong đòi sống chậm .

III. Những biện pháp pháp thực hiện :

Đơn vị cơ bản của quá trình dạy học là các tiết dạy vì vậy trong uqá trình dạy học giáo
viên phải nghĩ đến từng tiết học .Bất cứ tiết học nào cũng có một số bài tập để củng cố ,
thực hành trực tiếp các kiến thức mới, giáo viên vừa giúp học sinh nắm chắc kiến thức kĩ
năng cơ bản nhất vừa hình thành được phương pháp học tập cho các em .

Cùng với việc đổi mới về cấu trúc, nội dung sách giáo khoa, trong mỗi tiết học giáo viên
tổ chức hướng dẫn học sinh hoạt động học tập giúp các em nắm được kién thức cơ bản về
phép cộng trừ có nhớ trong phạm vi 100, khuyến khích học sinh tìm ra kết quả bằng
nhiều cách .Đồng thời hình thành và rèn cho học sinh các kĩ năng thực hành về cộng trừ,
đặc biệt là kĩ năng tính và giải quyết vấn đề thông qua cách cộng trừ nhẩm. Với cách


cộng trừ nhẩm giúp học sinh khắc sâu kiến thức thấy được sự đa dạng và phong phú của
các bài tập , từ đó tập cho học sinh thói quen khai thác nội dung tiềm ẩn trong từng bài
tập, lựa chọn cách giải tốt nhất cho bài làm của mình , vận dụng ngay cách cộng trừ nhẩm
của tiết học trước trong các tiết dạy tiếp liền, vận dụng trong đời sống một cách chủ

gồm 1 và 4) để tự phát hiện nội dung mới và chuẩn bị cơ sở cho việc lạp bảng cộng có
nhớ.


- Lập bảng cộng dạng 9 cộng với một số và học thuộc chẳng hạn

9+2=

9+3=

9+4=

...

9+9=

+ Cách 1”

Học sinh tự tìm ra kết quả bằng các thao tác trên que tính .

+ Cách 2:

Cho học sinh nhận xét về các phép tính ? ( số hạng thứ nhất của các phép tính đều là 9)
khi cộng 9 với một số tách 1 ở số sau để có 9 +1 = 10 cộng với số còn lại của số sau rồi
tính nhẩm . Với cách này học sinh khắc sâu kiến thức, tránh lạm dụng đồ dùng trực quan.


Học thuộc công thức cũng chỉ là bước đầu chiếm lĩnh kiến thức, giáo viên giúp học sinh
nhận ra: học không phải chỉ để biết mà học còn để làm, để vận dụng. Thông qua hệ thống
bài tập học sinh biết cách vận dụng những kiến thức cơ bản đã học để làm bài, giáo viên

- Giáo viên yêu cầu học sinh chọn phương pháp giải, chẳng hạn : 9+9 +1 =18 +1 =19

- Hay 9+9+1=9+10=19

- Bài 29 +5

+ Cách 1 (SGK) 29 +5 =?

29

+ 5

*9 cộng 5 bằng 14, viết 4 nhớ 1

*2 thêm 1 bằng 3, viết 3.

34

+ Cách 2 Vận dụng cách tính nhẩm của bài 9+5 các em có thể tính như sau: 29 +5 =


29 +1+4=30+4=34

- Bài 49 +25

+ Cách 1 (SGK) 49 +25 =

49

+25


(Học sinh nắm được thuật tính)

-5

6

- Dựa vào hình vẽ SGK trang 48 học sinh tìm ra cách tính nhẩm: 11-5 =11-1-4=10-4=6

- Hướng dãn thực hiện các thao tác

11-5 =(11+5)-(5+5)


= 16 - 10

= 6

- Phát hiện cách trừ nhẩm : muốn trừ nhẩm ta làm tròn chục số trừ: khi thêm vào số trừ
bao nhiêu đơn vị để số đó tròn chục thì phải thêm vào số bị trừ bấy nhiêu đơn vị.

+ Bài tập 1: Tính nhẩm trang 48

9+2=

8+3=

7+4= 6+5= 2+9= 3+8= 4+7= 5+6=

11-9= 11-2= 11-8= 11-3= 11-7= 11-4= 11-5= 11-6=


10 = 26

+ Bài 51-15

- Cách 1 (SGK) 51 -15=?

52

*1 không trừ được 5 lấy 11-5 bằng 6 viết 6 nhớ 1.


-15

*1 thêm 1 bằng 2, 5 trừ 2 bằng 3, viết 3

36

- Cách 2 tính nhẩm:

51-15 =(51+5) -(15+5)=

56 -

20

= 36

* Các bài dạng 12-8;32-8; 52-28;13-5;33-5;53-15;14-8;34-8;54-18


sinh

SL

%

SL

%

SL

%

SL

Đầu năm

199

65

16,4%

71

45,1% 54

32,9% 9


%

5,6%


Qua thực nghiệm dạy tính nhẩm ta thấy hiệu quả rất khả quan, số học sinh giỏi được
tăng lên đáng kể, số học sinh yếu không còn.

C. PHẦN KẾT LUẬN

I. Những bài học kinh nghiệm:

Hướng dẫn và giúp học sinh cộng, trừ nhanh nhằm giúp các em phát triển tư duy trí tuệ,
tư duy phân tích và tổng hợp, khái quát hoá, trừu tượng hoá, rèn luyện tốt phương pháp
suy luận lôgric.

Do vậy, việc giảng dạy tính toán một cách hiệu quả giúp các em trở thành những
con người linh hoạt, sáng tạo, làm chủ trong mọi lĩnh vực và trong cuộc sống thực tế

hàng ngày.

II. Ý nghĩa của sáng kiến kinh nghiệm:


Những kết quả mà chúng tôi đã thu được trong quá trình nghiên cứu không phải là cái
mới so với kiến thức chung về môn toán ở bậc tiểu học, song lại là cái mới đối với tổ
khối 2. Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi đã phát hiện và rút ra nhiều điều lý thú về
nội dung và phương pháp dạy học môn toán có lời văn ở bậc tiểu học nói chung và ở lớp
2 nói riêng. Chúng tôi cảm thấy mình được bồi dưỡng thêm lòng kiên trì, nhẫn nại, sự
ham muốn, say xưa với việc giảng dạy. Tuy nhiên đề tài này của chúng tôi là giai đoạn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status