Sáng kiến kinh nghiệm môn hóa THPT dạy học gắn với thực tiễn nhằm tăng hứng thú học tập cho học sinh - Pdf 40

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

ĐỀ TÀI:
"DẠY HỌC GẮN VỚI THỰC TIỄN NHẮM TĂNG HỨNG THÚ
HỌC TẬP CHO HỌC SINH"

0


Phần 1. ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Phân môn hoá học trong trường trung học phổ thông giữ một vai trò quan trọng trong
việc hình thành và phát triển trí dục của học sinh. Mục đích của môn học là giúp cho học
sinh hiểu đúng đắn và hoàn chỉnh, nâng cao cho học sinh những tri thức, hiểu biết về thế
giới, con người thông qua các bài học, giờ thực hành... của hoá học. Học hoá là để hiểu,
để giải thích được các vấn đề thực tiễn thông qua cơ sở cấu tạo nguyên tử, phân tử, sự
chuyển hoá của các chất bằng các phương trình phản ứng hoá học... Đồng thời là khởi
nguồn, là cơ sở phát huy tính sáng tạo ra những ứng dụng phục vụ trong đời sống của con
người. Hoá học góp phần giải tỏa, xoá bỏ hiểu biết sai lệch làm phương hại đến đời sống,
tinh thần của con người...
Để đạt được mục đích của học hoá học trong trường phổ thông thì giáo viên dạy hoá học
là nhân tố tham gia quyết định chất lượng. Do vậy, ngoài những hiểu biết về hoá học,
người giáo viên dạy hoá học còn phải có phương pháp truyền đạt thu hút gây hứng thú
khi lĩnh hội kiến thức hoá học của học sinh. Đó là vấn đề cần quan tâm và nghiên cứu
nghiêm túc. Trong sáng kiến kinh nghiệm (SKKN) này, tôi có đề cập đến một khía cạnh
“Dạy học hóa học gắn với thực tiễn nhằm tăng hứng thú học tập cho học sinh lớp 11 THPT” với mục đích xây dựng hệ thống các hiện tượng hóa học thực tiễn cho các bài
giảng trong chương trình hóa học lớp 11, nhằm giáo dục ý thức và tăng hứng thú học tập
bộ môn cho học sinh… Để hoá học không còn mang tính đặc thù khó hiểu như một
“thuật ngữ khoa học”.
1.2.


2.1.1. Tổ chức hoạt động hƣớng dẫn học sinh học tập theo hƣớng tích hợp:
Khi dạy kiến thức hóa học trong bất kì lĩnh vực nào: cấu tạo nguyên tử, phương trình
hóa học, dung dịch… đều liên quan đến các hiện tượng vật lí hay nhiều hiện tượng thiên
nhiên, hóa hữu cơ có liên quan đến sinh học như: gluxit, protein, lipit… nên khi sử dụng
những câu hỏi mở rộng theo hướng tích hợp làm cho học sinh chủ động tìm tòi câu trả
lời, đồng thời thấy được mối liên quan giữa các môn học với nhau.
Ví dụ: Tại sao càng lên cao không khí càng loãng?
Trả lời: Do phân tử khối của O2 lớn nên ảnh hưởng của lực hút mạnh hơn nên tập trung
chủ yếu ở dưới gần mặt đất.
2.1.2. Tổ chức hoạt động hƣớng dẫn học sinh cách thiết lập sự liên hệ các
nội dung học với thực tiễn.
2


Học sinh sẽ thấy hứng thú và dễ ghi nhớ hơn nếu trong quá trình dạy và học giáo viên
luôn có định hướng liên hệ giữa kiến thức sách giáo khoa với thực tiễn đời sống hằng
ngày.
Ví dụ: Tại sao khi ta để muối ăn khan trong lọ không có nắp lại dễ chảy nước?
Trả lời: Trong muối ăn ngoài thành phần chính là NaCl còn có lượng nhỏ MgCl 2.
Chính MgCl2 rất ưa nước nên hút ẩm làm cho muối ăn chảy nước.
2.1.3. Tổ chức hoạt động hƣớng dẫn học sinh thông qua các tình huống
giả định bằng các hiện tƣợng thực tiễn.
Trong quá trình dạy học nếu giáo viên luôn sử dụng một kiểu dạy sẽ làm
cho học sinh nhàm chán. Giáo viên có thể áp dụng nhiều phương pháp lồng ghép
vào nhau, trong đó hình thức đưa ra các tình huống giả định để học sinh tranh
luận vừa phát huy tính chủ động sáng tạo cho học sinh, vừa tạo môi trường thoải
mái để các em trao đổi từ đó giúp học sinh thêm yêu thích môn học hơn.
2.2. THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ
Trước tình hình học hoá học phải đổi mới phương pháp dạy học đã và đang thực sự là
yếu tố quyết định hiệu quả giờ dạy. Một trong những yếu tố để đạt giờ dạy có hiệu quả và

gia vị trong đời sống không thể thay cho thức ăn nhưng thiếu nó thì kém đi hiệu quả ăn
uống”.
2.3.1. Các giải pháp thực hiện:
“Dạy học hóa học gắn với thực tiễn nhằm tăng hứng thú học tập cho học sinh lớp 11 THPT” bằng cách:
2.3.1.1. Nêu hiện tượng thực tiễn xung quanh đời sống ngày, thường sau khi đã kết thúc
bài học. Cách nêu vấn đề này có thể tạo cho học sinh căn cứ vào những kiến thức đã học
tìm cách giải thích hiện tượng ở nhà hay những lúc bắt gặp hiện tượng đó, học sinh sẽ suy
nghĩ, ấp ủ câu hỏi vì sao lại có hiện tượng đó? Tạo tiền đề thuận lợi khi học bài học mới
tiếp theo.
2.3.1.2. Nêu hiện tượng thực tiễn xung quanh đời sống ngày thường qua các phương trình
phản ứng hoá học cụ thể trong bài học. Cách nêu vấn đề này có thể sẽ mang tính cập
nhật, làm cho học sinh hiểu và thấy được ý nghĩa thực tiễn bài học. Giáo viên có thể giải
thích để giải toả tính tò mò của học sinh. Mặc dù vấn đề được giải thích có tính chất rất
phổ thông.
2.3.1.3. Nêu hiện tượng thực tiễn xung quanh đời sống ngày thường thay cho lời giới
thiệu bài giảng mới. Cách nêu vấn đề này có thể tạo cho học sinh bất ngờ, có thể là một
câu hỏi rất khôi hài hay một vấn đề rất bình thường mà hàng ngày học sinh vẫn gặp nhưng lại tạo sự chú ý quan tâm của học sinh trong quá trình học tập.
4


2.3.1.4. Nêu hiện tượng thực tiễn xung quanh đời sống ngày thường thông qua các bài tập
tính toán. Cách nêu vấn đề này có thể giúp cho học sinh trong khi làm bài tập lại lĩnh hội
được vấn đề cần truyền đạt, giải thích.Vì muốn giải được bài toán hoá đó học sinh phải
hiểu được nội dung kiến thức cần huy động, hiểu được bài toán yêu cầu gì? Và giải quyết
như thế nào?
2.3.1.5. Nêu hiện tượng thực tiễn xung quanh đời sống ngày thường thông qua những câu
chuyện ngắn có tính chất khôi hài, gây cười có thể xen vào bất cứ thời gian nào trong
suốt tiết học. Hướng này có thể góp phần tạo không khí học tập thoải mái. Đó cũng là
cách kích thích niềm đam mê học hoá.
2.3.1.6. Tiến hành tự làm thí nghiệm qua các hiện tượng thực tiễn xung quanh đời sống

Thực tế thấy rằng chỉ có cồn 75% là có khả năng sát trùng tốt nhất, vì nếu cồn > 75% thì
nồng độ cồn quá cao làm cho protein bị đông tụ nhiều, làm protein trên bề mặt vi khuẩn
đông cứng hình thành một lớp vỏ cứng ngăn không cho cồn thấm vào nên vi khuẩn
không bị chết. Nếu cồn quá loãng (< 75%) thì hiệu quả sát trùng kém.
Áp dụng: Trong y tế, cồn được sử dụng đại trà khi tiêm, rửa vết thương … nhưng có ít
người quan tâm tại sao lại dùng cồn? Trong khi học, nếu học sinh được biết sẽ rất tốt cho
cuộc sống. Giáo viên có thể đưa vấn đề này vào trong các tiết dạy về bài “Ancol” (Tiết
56-57 lớp 11-CB).
* Ví dụ 02: Vì sao dụng cụ phân tích rƣợu có thể phát hiện các lái xe đã uống rƣợu?
Thành phần chính của các loại nước uống có cồn là rượu etylic. Đặc tính của rượu
etylic là dễ bị oxi hóa. Có rất nhiều chất oxi hóa có thể tác dụng với rượu nhưng người
chọn một chất oxi hóa là crom(VI)oxit CrO3. Đây là một chất oxi hóa rất mạnh, là chất ở
dạng kết tinh thành tinh thể màu vàng da cam. Bột oxit CrO 3 khi gặp rượu etylic sẽ bị
khử thành oxit Cr2O3 là một hợp chất có màu xanh đen.
Cảnh sát giao thông sử dụng các dụng cụ phân tích rượu etylic có chứa CrO3. Khi
tài xế hà hơi thở vào dụng cụ phân tích trên, nếu trong hơi thở có chứa hơi rượu thì hơi
rượu sẽ tác dụng với CrO3 và biến thành Cr2O3 có màu xanh đen. Dựa vào sự biến đổi
màu sắc mà dụng cụ phân tích sẽ thông báo cho cảnh sát biết được mức độ uống rượu của
tài xế. Đây là biện pháp nhằm phát hiện các tài xế đã uống rượu khi tham gia giao để
ngăn chặn những tai nạn đáng tiếc xảy ra.
Áp dụng: Tai nạn giao thông luôn là nổi ám ảnh của mọi người. Một trong những
nguyên nhân chính xảy ra tai nạn giao thông chính là rượu. Nhằm giúp cho học sinh thêm
hiểu biết về cách nhận biết rượu trong cơ thể một cách nhanh và chính xác của cảnh sát
giao thông, giáo viên nên đưa nội dung này vào bài “Ancol” (tiết 56-57 lớp 11-CB) hay
“Crom và hợp chất của crom”(tiết 58 lớp 12).
* Ví dụ 03: Vì sao lại không dùng xăng pha chì nữa?

6



một hàm lượng P khi chết phân huỷ tạo một phần thành khí PH3(Photphin) khi có lẫn một
chút khí P2H4 (điphotphin), khí PH3 tự bốc cháy ngay trong điều kiện thường tạo thành
khối cầu khí bay trong không khí
7


P2 H4
2PH3  4O2 
 P2O5  3H 2O

Điều trùng lặp ngẫu nhiên là: Người ta thường gặp “Ma trơi” ở các nghĩa địa càng tăng
nên tính chất kịch tính.
Áp dụng: Vấn đề này phải được đề cập trong bài giảng về P để giải thích hiện tượng trong
đời sống “Ma trơi”. Tránh tình trạng mê tín dị đoan, làm cho cuộc sống lành mạnh. Hiện
tượng này giáo viên có thể đề cập trong bài “Phốtpho” (tiết 17 lớp 11-CB).
* Ví dụ 06: Hoá chất trong cơ thể của con người như thế nào?
Các nhà khoa học đã tính được rằng:

Lượng nước trong cơ thể của mỗi người chúng ta chỉ đủ giặt một chiếc áo sơ mi.

Lượng Fe đủ để làm một cái đinh 5 phân.

Lượng đường chỉ đủ cho làm một nữa cái bánh ngọt nhỏ.

Lượng vôi trong toàn bộ xương của cơ thể đủ để xây một cái chuồng gà con.

Lượng mỡ dùng nấu được 7 bánh xà phòng.

Lượng P đủ để sản xuất 2200 đầu que diêm.


tiếp.
Áp dụng: Giáo viên có thể đưa các vấn đề thực tế này vào bài axit cacboxylic (tiết 65-66
lớp 11-CB).
* Ví dụ 10: Làm thế nào để biết dƣới giếng có khí độc (CO) hoặc nhiều khí thiên
nhiên (CH4…) và không có oxi, để tránh khi xuống giếng bị ngạt?
Trong các giếng đào đặc biệt nhiều ở vùng đồng bằng thường có khí độc CO, CH4… và
không có O2. Mà người dân chúng ta hay có thói quen xuống giếng thau giếng hoặc vì lấy
gầu múc nước… Đã có nhiều trường hợp bị tử vong một lúc nhiều mạng người vì gặp
phải giếng có khí độc (CO) gây đông máu, CH4…và không có O2 gây ngạt trong tíc tắc,
làm người xuống cứu cũng chết. Để tránh, tốt nhất không nên xuống các giếng đào, nếu
có xuống phải đeo bình oxi. Còn muốn biết có khí độc(CO), hoặc nhiều khí thiên
nhiên(CH4…) và không có O2 chỉ cần lấy dây buộc một con gà, vịt … thả xuống nếu nó
chết thì chứng tỏ có khí độc.
Áp dụng: Đây là một hiện tượng hay xảy ra, giáo viên nên đưa vào bài giảng để nhắc nhở
học sinh, cộng đồng …tránh những cái chết thương tâm. Vấn đề này có thể xen vào bài
dạy “Hợp chất của cacbon” (tiết 24-lớp 11-CB) hay “Ankan” (tiết 37-38 lớp 11-CB).
* Ví dụ 11: Gƣơng soi có lịch sử nhƣ thế nào?
9


Thời xa khi muốn soi mình phải soi qua mặt nước, khi đến thời đồ đồng thau thì bằng gương làm bằng đồng nhưng nhanh ố, sau dần chuyển sang thuỷ ngân tráng sau tấm kính
phẳng, nhưng thuỷ ngân gây ngộ độc cho người sản xuất. Dần dần và ngày nay người ta
đã thay thế bằng bạc tráng sau tấm kính nhờ phản ứng anđehit (R−CHO) với dung dịch
AgNO3/NH3 hay thay andehit bằng glucozơ.
RCHO  2 AgNO3  3NH3  H 2O  RCOONH 4  2 Ag   NH 4 NO3

Ag tạo ra bám chặt vào gương, người ta quét lên mặt sau chiếc gương một lớp sơn dầu
bảo vệ. Phích nước cũng chế tạo kiểu này.
Áp dụng: Đây là một ứng dụng của hợp chất có chức andehit vào đời sống. Giáo viên có
thể nêu vấn đề này trong các tiết dạy về andehit…( tiết 62-63 lớp 11-CB). Để học sinh

11).
* Ví dụ 15: Vì sao ném đất đèn xuống ao làm cá chết? Trong nông nghiệp, đất đèn
dùng để làm gì?
Đất đèn có thành phần chính là canxi cacbua (CaC2), khi tác dụng với nước sinh ra khí
axetilen và canxi hidroxit.
CaC2  2H 2O  C2 H 2  Ca(OH )2 (H  0)

Axetilen có thể tác dụng với nước tạo ra andehit axetic (CH3CHO). Các chất này làm tổn
thương đến hoạt động hô hấp của cá vì vậy có thể làm chết cá.
Trong nông nghiệp, từ lâu người ta đã dùng đất đèn để làm kích thích quả xanh mau chín
và chín đồng loạt ở các kho, thường dùng để dấm dứa, chuối, cà chua… vào dịp cuối mùa
đông, đầu mùa xuân.
Áp dụng: Giáo viên có thể vận dụng vào bài “Ankin” (tiết 46 lớp 11-CB)
* Ví dụ 16: Vì sao muối NaHCO3 đƣợc dùng để chế thuốc đau dạ dày?
Trong dạ dày, có chứa dung dịch HCl. Người bị đau dạ dày là người có nồng độ dung
dịch HCl cao làm dạ dày bị bào mòn. NaHCO3 dùng để chế thuốc đau dạ dày vì nó làm
giảm hàm lượng dung dịch HCl có trong dạ dày nhờ phản ứng:
NaHCO3  HCl  NaCl  CO2  H 2O

Áp dụng: Giáo viên có thể vận dụng kiến thức này vào bài “Hợp chất của cacbon” (tiết 24
lớp 11-CB).
* Ví dụ 17: Vì sao trong công nghiệp thực phẩm, muối NH4HCO3 đƣợc dùng làm bột
nở?
NH4HCO3 được dùng làm bột nở vì khi trộn thêm vào bột mì, lúc nướng bánh thì
NH4HCO3 sẽ bị phân hủy thành các chất khí và hơi nên làm cho bánh xốp và nở hơn.
11


NH 4 HCO3  NH 3  CO2  H 2 O


Áp dụng: Giáo viên có thể đưa vấn đề này vào bài “Amoniac” (tiết 12 lớp 11-CB).
* Ví dụ 20: “Hiện tƣợng mƣa axit” là gì ? Tác hại nhƣ thế nào ?
12


Khí thải công nghiệp và khí thải của các động cơ đốt trong ( ô tô, xe máy) có chứa
các khí SO2, NO, NO2,…Các khí này tác dụng với oxi O2 và hơi nước trong không khí
nhờ xúc tác oxit kim loại ( có trong khói, bụi nhà máy) hoặc ozon tạo ra axit sunfuric
H2SO4 và axit nitric HNO3.
2SO2 + O2 + 2H2O → 2H2SO4
2NO + O2 → 2NO2
4NO2 + O2 + 2H2O → 4HNO3
Axit H2SO4 và HNO3 tan vào nước mưa tạo ra mưa axit. Vai trò chính của mưa axit
là H2SO4 còn HNO3 đóng vai trò thứ hai.
Hiện nay mưa axit là nguồn ô nhiễm chính ở một số nơi trên thế giới.
Mưa axit làm mùa màng thất thu và phá hủy các công trình xây dựng, các tượng đài
làm từ đá cẩm thạch, đá vôi, đá phiến ( các loại đá này thành phần chính là CaCO3):
CaCO3 + H2SO4 → CaSO4 + CO2↑ + H2O
CaCO3 + 2HNO3 → Ca(NO3)2 + CO2↑ + H2O
Áp dụng: Ngày nay hiện tượng mưa axit và những tác hại của nó đã gây nên những
hậu quả nghiêm trọng, đặc biệt là ở những nước công nghiệp phát triển. Vấn đề ô nhiễm
môi trường luôn được cả thế giới quan tâm. Việt Nam chúng ta đang rất chú trọng đến
vấn đề này. Do vậy mà giáo viên phải cung cấp cho học sinh những hiểu biết về hiện
tượng mưa axit cũng như tác hại của nó nhằm nâng cao ý thức bảo vệ môi trường. Cụ thể
giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho học sinh trả lời sau khi dạy xong bài“Axit nitric”
(tiết 14-15 lớp 11-CB).
*Ví dụ 21: Giải thích hiện tƣợng: “Khi các cầu thủ đá banh bị đau nằm lăn lộn trên
đất thì nhân viên y tế chỉ cần dùng bình thuốc phun vào chỗ bị thƣơng, sau đó cầu
thủ bị thƣơng đứng lên tiếp tục thi đấu”
Khi cầu thủ bị thương, chỗ bị thương sẽ rất đau đớn. Người cán bộ y tế dùng

*Ví dụ 23: Tại sao không dùng bình thủy tinh đựng dung dịch HF ?
Tuy dung dịch axit HF là một axit yếu nhưng nó có khả năng đặc biệt là ăn mòn
thủy tinh. Do thành phần chủ yếu của thủy tinh là silic đioxit SiO 2 nên khi cho dung dịch
HF và thì có phản ứng xảy ra:
SiO2 + 4HF → SiF4↑ + 2H2O
Áp dụng: Đây là phần kiến thức mà bất kì học sinh nào cũng phải biết được sau khi
học bài Flo và hợp chất của nó. Học sinh biết giải thích và vận dụng trong thực tiễn tránh
việc dùng bình thủy tinh đựng dung dịch HF. Giáo viên có thể hỏi học sinh sau khi dạy
xong bài “Hợp chất silic”(Tiết 25 lớp 11- CB).
*Ví dụ 24: Làm thế nào có thể khắc đƣợc thủy tinh ?
Muốn khắc thủy tinh người ta nhúng thủy tinh vào sáp nóng chảy, nhấc ra cho
nguội, dùng vật nhọn khắc hình ảnh cần khắc nhờ lớp sáp mất đi, rồi nhỏ dung dịch HF
vào thì thủy tinh sẽ bị ăn mòn ở những chổ lớp sáp bị cào đi
SiO2 + 4HF → SiF4↑ + 2H2O
14


Nếu không có dung dịch HF thì thay bằng dung dịch H2SO4 đặc và bột CaF2. Làm
tương tự như trên nhưng ta cho bột CaF2 vào chổ cần khắc,sau đó cho thêm H2SO4 đặc
vào và lấy tấm kính khác đặt trên chổ cần khắc. Sau một thời gian, thủy tinh cũng sẽ bị ăn
mòn ở những nơi cạo sáp.
CaF2 + 2H2SO4 → CaSO4 + 2HF↑ ( dùng tấm kính che lại)
Sau đó

SiO2 + 4HF → SiF4↑ + 2H2O

Áp dụng: Đây là một vấn đề rất thực tế khi mà nghề khắc thủy tinh đang phát triển
ở nước ta. Sau bài học học sinh không những biết được phương pháp khắc thủy tinh mà
còn có thể giải thích được vấn đề này. Thậm chí đây là cơ sở cho việc học nghề, khơi gợi
niềm đam mê học tập, học sinh có thể tự làm thí nghiệm này trong tiết thực hành. Giáo

trong chất béo cũng có sắc tố này nhưng nhiều hơn cả là trong của cà rốt ( chất màu vàng
da cam). Caroten là một hiđrocacbon có công thức phân tử C40H56.
Áp dụng: Đây là một hiện tượng thường gặp trong tự nhiên. Giáo viên đưa vấn đề
này vào trong bài giảng “Tecpen” ( Tiết 57 lớp 11NC) để giới thiệu cho học sinh biết
thêm về nguồn tecpen thiên nhiên nhằm kích thích tính tò mò ham hiểu biết của học sinh.
*Ví dụ 28: Ca dao Việt Nam có câu:
“Lúa chim lấp ló ngoài bờ
Hễ nghe tiếng sấm phất cờ mà lên”
Câu ca dao có nghĩa là: Khi vụ lúa chiêm đang trổ đồng mà có trận mưa rào kèm
theo sấm chớp thì rất tốt và cho năng suất cao. Vì sao vậy ?
Do trong không khí có khoảng 80% Nitơ và 20 % oxi. Khi có sấm chớp( tia lửa điện)
thì:
2N2 + O2 → 2NO

Sau đó:

Khí NO2 hòa tan trong nước:

2NO + O2 → 2NO2

4NO2 + O2 + H2O → 4HNO3

HNO3 → H+ + NO3- (Đạm)
Nhờ có sấm chớp ở các cơn mưa giông, mỗi năm trung bình mỗi mẫu đất được
cung cấp khoảng 6-7 kg nitơ.
Áp dụng: Đây là một câu ca dao mang ý nghĩa thực tiễn rất thường gặp trong đời
sống. Đây quả là một kinh nghiệm được ông cha ta rút ra qua những tháng năm canh tác
nông nghiệp. Học sinh cũng dễ dàng quan sát để kiểm nghiệm và giải thích được một
cách khoa học về vấn đề trên. Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên khi trình bày phần chu
trình của nitơ trong tự nhiên ở bài giảng “Axit HNO3” (Tiết 14-15) hoặc đề cập trong bài

khẩu và tiêu thụ khá nhiều tại thị trường Việt Nam.
Áp dụng: Vấn đề này có thể nêu trong bài “Andehit-Xeton” (tiết 65-66 lớp 11THPT).
2.5. KIỂM NGHIỆM
Một trong những điểm tôi đã làm là “Dạy học hóa học gắn với thực tiễn nhằm tăng hứng
thú học tập cho học sinh lớp 11 - THPT”. Có những vấn đề hoá học có thể giúp học sinh
giải thích những hiện tượng trong tự nhiên, tránh việc mê tín dị đoan, thậm chí hiểu được
những dụng ý khoa học hoá học trong những câu ca dao – tục ngữ mà thế hệ trước để lại
và có thể ứng dụng trong thực tiễn đời sống thường ngày chỉ bằng những kiến thức rất
phổ thông mà không gây nhàm chán, xa lạ; lại có tác dụng kích thích tính chủ động, sáng
tạo, hứng thú trong môn học; làm cho hoá học không khô khan, bớt đi tính đặc thù và
phức tạp.
17


Trong phạm vi đề tài tôi không có tham vọng giải quyết mọi vấn đề trong thực tiễn mà
chỉ nêu lên một vài suy nghĩ, đề suất của cá nhân coi đó là kinh nghiệm qua một số ví dụ
minh hoạ, với mong muốn góp phần tạo ra và phát triển phương pháp dạy hoá học hiệu
quả cao hơn qua các bài giảng hoá học.
2.5.1. Kết quả nghiên cứu:
Riêng bản thân tôi nhờ vận dụng phương pháp dạy “Dạy học hóa học gắn với thực tiễn
nhằm tăng hứng thú học tập cho học sinh lớp 11 - THPT ” kết hợp với nhiều phương
pháp khác, tôi đã đạt được một số kết quả nhất định.
Học sinh trở nên thích học hoá hơn, thích những giờ dạy của tôi nhiều hơn, thậm chí có
cả những học sinh đã về nhà tự quan sát và tái tạo lại hiện tượng thực tế, rồi lại đến hỏi
tôi.
Trong giờ học, tôi đã kết hợp hài hoà trong phong cách dạy của mình có thể làm cho giờ
học mang không khí rất thoải mái, nhưng khả năng tiếp thu bài cũng rất tốt. Như tôi đã
khẳng định: Thời gian giành cho vấn đề này là không nhiều nên cần phụ thuộc vào người
dạy cần phải linh hoạt và khéo léo. Bất cứ một vấn đề gì nếu chúng ta quá lạm dụng thì
đều không tốt. Vì thế tôi vẫn luôn nghĩ: Dạy như thế nào cho tốt là một điều không dễ.

05

Trung bình

Yếu
Kém

10

01

(33,33%)

(3,34%)

22

02



18


11A4

Ít áp dụng

(3,34%)


sau:
Đối với giáo viên: Phải kiên trì, đầu tư nhiều tâm, sức để tìm hiểu các vấn đề hoá học,
vận dụng sáng tạo phương pháp dạy hóa học, để có bài giảng thu hút được học sinh.
Đối với Sở GD & ĐT: Cần trang bị cho giáo viên thêm những tài liệu tham khảo cần thiết
để bổ sung, hỗ trợ cho giáo viên trong quá trình giảng dạy. Với những sáng kiến kinh
nghiệm hay, theo tôi nên phổ biến để cho các giáo viên được học tập và vận dụng. Có
như thế tay nghề và vốn kiến thức của giáo viên sẽ dần được nâng lên.
Với thực trạng học hoá học và yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học, có thể coi đây là
một quan điểm của tôi đóng góp ý kiến vào việc nâng cao chất lượng học hoá học trong
thời kỳ mới. Mặc dù đã cố gắng song không thể tránh được các thiếu sót, rất mong được

19


sự đóng góp ý kiến của các cấp lãnh đạo, của các bạn đồng nghiệp để đề tài của tôi được
hoàn thiện hơn. Tôi xin chân thành cảm ơn.

20




Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status