SKKN Dạy học hóa học gắn với thực tiễn nhằm tăng hứng thú học tập cho học sinh lớp 11 - Pdf 26

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
"DẠY HỌC GẮN VỚI THỰC TIỄN NHẮM TĂNG HỨNG THÚ
HỌC TẬP CHO HỌC SINH"
1
Phần 1. ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Phân môn hoá học trong trường trung học phổ thông giữ một vai trò quan trọng trong
việc hình thành và phát triển trí dục của học sinh. Mục đích của môn học là giúp cho học
sinh hiểu đúng đắn và hoàn chỉnh, nâng cao cho học sinh những tri thức, hiểu biết về thế
giới, con người thông qua các bài học, giờ thực hành của hoá học. Học hoá là để hiểu,
để giải thích được các vấn đề thực tiễn thông qua cơ sở cấu tạo nguyên tử, phân tử, sự
chuyển hoá của các chất bằng các phương trình phản ứng hoá học Đồng thời là khởi
nguồn, là cơ sở phát huy tính sáng tạo ra những ứng dụng phục vụ trong đời sống của con
người. Hoá học góp phần giải tỏa, xoá bỏ hiểu biết sai lệch làm phương hại đến đời sống,
tinh thần của con người
Để đạt được mục đích của học hoá học trong trường phổ thông thì giáo viên dạy hoá học
là nhân tố tham gia quyết định chất lượng. Do vậy, ngoài những hiểu biết về hoá học,
người giáo viên dạy hoá học còn phải có phương pháp truyền đạt thu hút gây hứng thú
khi lĩnh hội kiến thức hoá học của học sinh. Đó là vấn đề cần quan tâm và nghiên cứu
nghiêm túc. Trong sáng kiến kinh nghiệm (SKKN) này, tôi có đề cập đến một khía cạnh
“Dạy học hóa học gắn với thực tiễn nhằm tăng hứng thú học tập cho học sinh lớp 11 -
THPT” với mục đích xây dựng hệ thống các hiện tượng hóa học thực tiễn cho các bài
giảng trong chương trình hóa học lớp 11, nhằm giáo dục ý thức và tăng hứng thú học tập
2
bộ môn cho học sinh… Để hoá học không còn mang tính đặc thù khó hiểu như một
“thuật ngữ khoa học”.
1.2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Xây dựng một hệ thống các hiện tượng hóa học thực tiễn có thể vận dụng
vào bài giảng trong chương trình hóa học THPT.
Vận dụng hệ thống các hiện tượng hóa học thực tiễn ở trên vào bài giảng

2
lớn nên ảnh hưởng của lực hút mạnh hơn nên tập trung
chủ yếu ở dưới gần mặt đất.
2.1.2. Tổ chức hoạt động hướng dẫn học sinh cách thiết lập sự liên hệ các
nội dung học với thực tiễn.
Học sinh sẽ thấy hứng thú và dễ ghi nhớ hơn nếu trong quá trình dạy và học giáo viên
luôn có định hướng liên hệ giữa kiến thức sách giáo khoa với thực tiễn đời sống hằng
ngày.
4
Ví dụ: Tại sao khi ta để muối ăn khan trong lọ không có nắp lại dễ chảy nước?
Trả lời: Trong muối ăn ngoài thành phần chính là NaCl còn có lượng nhỏ MgCl
2
.
Chính MgCl
2
rất ưa nước nên hút ẩm làm cho muối ăn chảy nước.
2.1.3. Tổ chức hoạt động hướng dẫn học sinh thông qua các tình huống
giả định bằng các hiện tượng thực tiễn.
Trong quá trình dạy học nếu giáo viên luôn sử dụng một kiểu dạy sẽ làm
cho học sinh nhàm chán. Giáo viên có thể áp dụng nhiều phương pháp lồng ghép
vào nhau, trong đó hình thức đưa ra các tình huống giả định để học sinh tranh
luận vừa phát huy tính chủ động sáng tạo cho học sinh, vừa tạo môi trường thoải
mái để các em trao đổi từ đó giúp học sinh thêm yêu thích môn học hơn.
2.2. THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ
Trước tình hình học hoá học phải đổi mới phương pháp dạy học đã và đang thực sự là
yếu tố quyết định hiệu quả giờ dạy. Một trong những yếu tố để đạt giờ dạy có hiệu quả và
tiến bộ là phải phát huy tính thực tế, giáo dục về môi trường, về tư tưởng vừa mang bản
sắc dân tộc mà không mất đi tính cộng đồng trên toàn thế giới, những vấn đề cũ nhưng
không cũ mà vẫn có tính chất cập nhật và mới mẽ, đảm bảo: tính khoa học – hiện đại, cơ
bản; tính thực tiễn và giáo dục kỹ thuật tổng hợp; tính hệ thống sư phạm.

2.3.1.1. Nêu hiện tượng thực tiễn xung quanh đời sống ngày, thường sau khi đã kết thúc
bài học. Cách nêu vấn đề này có thể tạo cho học sinh căn cứ vào những kiến thức đã học
tìm cách giải thích hiện tượng ở nhà hay những lúc bắt gặp hiện tượng đó, học sinh sẽ suy
nghĩ, ấp ủ câu hỏi vì sao lại có hiện tượng đó? Tạo tiền đề thuận lợi khi học bài học mới
tiếp theo.
2.3.1.2. Nêu hiện tượng thực tiễn xung quanh đời sống ngày thường qua các phương trình
phản ứng hoá học cụ thể trong bài học. Cách nêu vấn đề này có thể sẽ mang tính cập
nhật, làm cho học sinh hiểu và thấy được ý nghĩa thực tiễn bài học. Giáo viên có thể giải
thích để giải toả tính tò mò của học sinh. Mặc dù vấn đề được giải thích có tính chất rất
phổ thông.
2.3.1.3. Nêu hiện tượng thực tiễn xung quanh đời sống ngày thường thay cho lời giới
thiệu bài giảng mới. Cách nêu vấn đề này có thể tạo cho học sinh bất ngờ, có thể là một
câu hỏi rất khôi hài hay một vấn đề rất bình thường mà hàng ngày học sinh vẫn gặp nh-
ưng lại tạo sự chú ý quan tâm của học sinh trong quá trình học tập.
2.3.1.4. Nêu hiện tượng thực tiễn xung quanh đời sống ngày thường thông qua các bài tập
tính toán. Cách nêu vấn đề này có thể giúp cho học sinh trong khi làm bài tập lại lĩnh hội
được vấn đề cần truyền đạt, giải thích.Vì muốn giải được bài toán hoá đó học sinh phải
hiểu được nội dung kiến thức cần huy động, hiểu được bài toán yêu cầu gì? Và giải quyết
như thế nào?
2.3.1.5. Nêu hiện tượng thực tiễn xung quanh đời sống ngày thường thông qua những câu
chuyện ngắn có tính chất khôi hài, gây cười có thể xen vào bất cứ thời gian nào trong
7
suốt tiết học. Hướng này có thể góp phần tạo không khí học tập thoải mái. Đó cũng là
cách kích thích niềm đam mê học hoá.
2.3.1.6. Tiến hành tự làm thí nghiệm qua các hiện tượng thực tiễn xung quanh đời sống
ngày thường ở địa phương, gia đình …sau khi đã học bài giảng. Cách nêu vấn đề này có
thể làm cho học sinh căn cứ vào những kiến thức đã học tìm cách giải thích hay tự tái tạo
lại kiến thức qua các thí nghiệm hay những lúc bắt gặp hiện tượng, tình huống đó trong
cuộc sống. Giúp học sinh phát huy khả năng ứng dụng hoá học vào đời sống thực tiễn.
2.3.1.7. Nêu hiện tượng thực tiễn xung quanh đời sống ngày thường từ đó liên hệ với nội

không bị chết. Nếu cồn quá loãng (< 75%) thì hiệu quả sát trùng kém.
Áp dụng: Trong y tế, cồn được sử dụng đại trà khi tiêm, rửa vết thương … nhưng có ít
người quan tâm tại sao lại dùng cồn? Trong khi học, nếu học sinh được biết sẽ rất tốt cho
cuộc sống. Giáo viên có thể đưa vấn đề này vào trong các tiết dạy về bài “Ancol” (Tiết
56-57 lớp 11-CB).
* Ví dụ 02: Vì sao dụng cụ phân tích rượu có thể phát hiện các lái xe đã uống rượu?
Thành phần chính của các loại nước uống có cồn là rượu etylic. Đặc tính của rượu
etylic là dễ bị oxi hóa. Có rất nhiều chất oxi hóa có thể tác dụng với rượu nhưng người
chọn một chất oxi hóa là crom(VI)oxit CrO
3
. Đây là một chất oxi hóa rất mạnh, là chất ở
dạng kết tinh thành tinh thể màu vàng da cam. Bột oxit CrO
3
khi gặp rượu etylic sẽ bị
khử thành oxit Cr
2
O
3
là một hợp chất có màu xanh đen.
9
Cảnh sát giao thông sử dụng các dụng cụ phân tích rượu etylic có chứa CrO
3
. Khi
tài xế hà hơi thở vào dụng cụ phân tích trên, nếu trong hơi thở có chứa hơi rượu thì hơi
rượu sẽ tác dụng với CrO
3
và biến thành Cr
2
O
3

10
đặt câu hỏi này cho học sinh thảo luận rồi giải thích cho học sinh biết được tác hại của
việc pha chì vào xăng nhằm nâng cao ý thức bảo vệ môi trường.
* Ví dụ 04: Vì sao khi mở bình nước ngọt có ga lại có nhiều bọt khí thoát ra ?
Nước ngọt không khác nước đường mấy chỉ có khác là có thêm khí cacbonic CO
2
.
Ở các nhà máy sản xuất nước ngọt, người ta dùng áp lực lớn để ép CO
2
hòa tan vào nước.
Sau đó nạp vào bình và đóng kín lại thì thu được nước ngọt.
Khi bạn mở nắp bình, áp suất bên ngoài thấp nên CO
2
lập tức bay vào không khí. Vì
vậy các bọt khí thoát ra giống như lúc ta đun nước sôi.
Về mùa hè người ta thường thích uống nước ngọt ướp lạnh. Khi ta uống nước ngọt
vào dạ dày, dạ dày và ruột không hề hấp thụ khí CO
2
. Ở trong dạ dày nhiệt độ cao nên
CO
2
nhanh chóng theo đường miệng thoát ra ngoài, nhờ vậy nó mang đi bớt một nhiệt
lượng trong cơ thể làm cho người ta có cảm giác mát mẻ, dễ chịu. Ngoài ra CO
2
có tác
dụng kích thích nhẹ thành dạ dày, tăng cường việc tiết dịch vị, giúp nhiều cho tiêu hóa.
Áp dụng: Hiện tượng có nhiều bọt khí thoát ra từ bình nước ngọt có ga hay chai bia
thì chắc hẳn học sinh nào cũng biết. Nhưng khi giải thích khí đó là khí gì và có công
dụng ra sao thì không ít học sinh biết được. Giáo viên có thể nêu câu hỏi trên khi dạy
phần “Cacbon Đioxit” (tiết 24 lớp 11-CB).

• Lượng vôi trong toàn bộ xương của cơ thể đủ để xây một cái chuồng gà con.
• Lượng mỡ dùng nấu được 7 bánh xà phòng.
• Lượng P đủ để sản xuất 2200 đầu que diêm.
• Lượng S đủ để giết chết 1 con bọ chét.
• Cộng cả lại kể các các nguyên tố khác như Mg, Cu, K… Theo các nhà bác học tính
ra thì với một người nặng 65kg, giá trị của chúng chỉ đáng giá chưa tới 3$.
Áp dụng: Đây là tình huống có chút khôi hài nhưng có thể giúp học sinh nắm được cơ
bản thành phần nguyên tố trong cơ thể con người có thể đưa vào bài giảng về thành phần
nguyên tố nhằm làm rõ thêm về quan điểm duy vật (lớp 10-11-12).
* Ví dụ 07: Dấm ăn là gì? Tác dụng của nó?
Trong dấm ăn có vị chua vì có 3-5% là Axit axetic (CH
3
COOH). Dấm ăn có tác dụng tạo
vị chua và có tác dụng làm cho cơ thể có cảm giác muốn ăn và tiêu hoá tốt, có khả năng
tiêu độc, sát khuẩn.
12
Áp dụng: Dấm ăn là một thứ gia vị rất gần gũi trong đời sống, giáo viên có thể xen vào
trong bài giảng về axit axetic (tiết 65-66 lớp 11-CB) để học sinh liên hệ trong thực tế,
hiểu biết về vai trò của dấm ăn đối với con người.
* Ví dụ 08: Vì sao không nên ăn hoa quả ngay sau bữa ăn?
Trái cây có loại đường đơn là monosaccarit và một số loại axit sẽ kết hợp với axit trong
dạ dày tạo ra Axit tactaric, Axit citric làm cho dạ dày đầy hơi.
Một số loại hoa quả có hàm lượng Tanin và Pectin cao, chúng sẽ kết hợp với dịch vị, chất
xơ và protein trong thức ăn, dễ tạo thành những hạt rắn, khó tiêu hóa. Những hạt này hình
thành sỏi ở dạ dày, ruột.
Nên ăn hoa quả sau bữa ăn khoảng 1−3 giờ.
Áp dụng: Giáo viên có thể áp dụng vấn đề này vào bài axit cacboxylic (tiết 65-66 lớp 11)
* Ví dụ 09: Vì sao vắt chanh vào cốc sữa đặc có đường sẽ thấy có kết tủa?
Trong sữa có thành phần protein gọi là Cazein. Khi vắt chanh vào sữa làm tăng độ chua,
tức làm giảm pH của dung dịch sữa tới pH đúng với điểm đẳng điện của cazein thì chất

Áp dụng: Đây là một hiện tượng hay xảy ra, giáo viên nên đưa vào bài giảng để nhắc nhở
học sinh, cộng đồng …tránh những cái chết thương tâm. Vấn đề này có thể xen vào bài
dạy “Hợp chất của cacbon” (tiết 24-lớp 11-CB) hay “Ankan” (tiết 37-38 lớp 11-CB).
* Ví dụ 11: Gương soi có lịch sử như thế nào?
Thời xa khi muốn soi mình phải soi qua mặt nước, khi đến thời đồ đồng thau thì bằng gư-
ơng làm bằng đồng nhưng nhanh ố, sau dần chuyển sang thuỷ ngân tráng sau tấm kính
phẳng, nhưng thuỷ ngân gây ngộ độc cho người sản xuất. Dần dần và ngày nay người ta
đã thay thế bằng bạc tráng sau tấm kính nhờ phản ứng anđehit (R−CHO) với dung dịch
AgNO
3
/NH
3
hay thay andehit bằng glucozơ.
3 3 2 4 4 3
2 3 2 RCHO AgNO NH H O RCOONH Ag NH NO
+ + + → + ↓ +
Ag tạo ra bám chặt vào gương, người ta quét lên mặt sau chiếc gương một lớp sơn dầu
bảo vệ. Phích nước cũng chế tạo kiểu này.
14
Áp dụng: Đây là một ứng dụng của hợp chất có chức andehit vào đời sống. Giáo viên có
thể nêu vấn đề này trong các tiết dạy về andehit…( tiết 62-63 lớp 11-CB). Để học sinh
hiểu phần nào về sự tạo gương, ruột phích mà hàng ngày ai cũng bắt gặp.
* Ví dụ 12 : Teflon là chất gì?
Teflon có tên thay thế là: Poli(tetrafloetilen)[(−CF
2
−CF
2
−)
n
]. Đó là loại polime nhiệt dẻo,

chết. Nếu không có nước, chuột sẽ lâu chết hơn.
15
Áp dụng: Giáo viên có thể vận dụng ứng dụng này trong bài Photpho (tiết 17 lớp 11-CB).
* Ví dụ 14: Vì sao bôi vôi vào chỗ ong, kiến đốt sẽ đỡ đau?
Do trong nọc ong, kiến, nhện có axit hữu cơ tên là axit fomic (HCOOH). Vôi là chất bazơ
nên trung hòa axit làm ta đỡ đau.
( )
2 2
2
2 ( ) 2HCOOH Ca OH HCOO Ca H O
+ → +
Áp dụng: Giáo viên có thể vận dụng vấn đề này vào bài axit cacboxylic (tiết 65-66 lớp
11).
* Ví dụ 15: Vì sao ném đất đèn xuống ao làm cá chết? Trong nông nghiệp, đất đèn
dùng để làm gì?
Đất đèn có thành phần chính là canxi cacbua (CaC
2
), khi tác dụng với nước sinh ra khí
axetilen và canxi hidroxit.
2 2 2 2 2
2 ( ) ( 0)CaC H O C H Ca OH H
+ → ↑ + ∆ <
Axetilen có thể tác dụng với nước tạo ra andehit axetic (CH
3
CHO). Các chất này làm tổn
thương đến hoạt động hô hấp của cá vì vậy có thể làm chết cá.
Trong nông nghiệp, từ lâu người ta đã dùng đất đèn để làm kích thích quả xanh mau chín
và chín đồng loạt ở các kho, thường dùng để dấm dứa, chuối, cà chua… vào dịp cuối mùa
đông, đầu mùa xuân.
Áp dụng: Giáo viên có thể vận dụng vào bài “Ankin” (tiết 46 lớp 11-CB)

OHCONHHCONH
22334
++→
Áp dụng: Giáo viên có thể áp dụng vấn đề này vào bài “Muối amoni” (tiết 13 lớp 11)
hoặc “Hợp chất của cacbon” (tiết 24 lớp 11).
* Ví dụ 18: Làm cá bớt tanh bằng phương pháp nào?
Cá tanh do trong cá có trimetylamin (CH
3
)
3
N và đimetylamin (CH
3
)
2
NH và metyl
amin CH
3
NH
2
là những chất có mùi khó ngửi.
Khi chiên cá ta cho thêm một ít rượu có thể phá hủy được mùi tanh cá. Vì
trimetylamin thường “lẫn trốn” trong cá nên người ta khó trục nó ra. Nhưng trong rượu
có cồn, cồn có thể hòa tan trimetylamin nên có thể lôi được trimetylamin ra khỏi chổ ẩn.
17
Khi chiên cá ở nhiệt độ cao cả trimetylamin và cồn đều bay hơi hết, nên chỉ một lúc sau
mùi tanh cá sẽ bay đi hết.
Ngoài ra trong rượu có một ít etylaxetat có mùi dễ chịu nên rượu có tác dụng thêm
mùi thơm rất tốt.
Áp dụng: Đây là một kinh nghiệm thường thấy khi chế biến thức ăn liên quan đến
cá. Giáo viên cần giải thích cho học sinh biết được cơ sở hóa học của kinh nghiệm trên.

Khí thải công nghiệp và khí thải của các động cơ đốt trong ( ô tô, xe máy) có chứa
các khí SO
2
, NO, NO
2
,…Các khí này tác dụng với oxi O
2
và hơi nước trong không khí
nhờ xúc tác oxit kim loại ( có trong khói, bụi nhà máy) hoặc ozon tạo ra axit sunfuric
H
2
SO
4
và axit nitric HNO
3
.
2SO
2
+ O
2
+ 2H
2
O → 2H
2
SO
4
2NO + O
2
→ 2NO
2

2
SO
4
→ CaSO
4
+ CO
2
↑ + H
2
O
CaCO
3
+ 2HNO
3
→ Ca(NO
3
)
2
+ CO
2
↑ + H
2
O
Áp dụng: Ngày nay hiện tượng mưa axit và những tác hại của nó đã gây nên những
hậu quả nghiêm trọng, đặc biệt là ở những nước công nghiệp phát triển. Vấn đề ô nhiễm
môi trường luôn được cả thế giới quan tâm. Việt Nam chúng ta đang rất chú trọng đến
vấn đề này. Do vậy mà giáo viên phải cung cấp cho học sinh những hiểu biết về hiện
tượng mưa axit cũng như tác hại của nó nhằm nâng cao ý thức bảo vệ môi trường. Cụ thể
giáo viên có thể đặt câu hỏi trên cho học sinh trả lời sau khi dạy xong bài“Axit nitric”
(tiết 14-15 lớp 11-CB).

Chú ý là cloetan chỉ tạm thời không làm cho cầu thủ cảm giác đau mà không có tác
dụng chữa trị vết thương.
Áp dụng: Đây là cảnh tượng thường thấy trong các trận đá banh. Mọi người cứ nghĩ
đó là một loại “ thuốc tiên” nhưng xét về phương diện hóa học đó chỉ là một chất có đặc
tính “ thu nhiệt mạnh” ở điều kiện thường. Giáo viên có thể kể cho học sinh nghe về phần
ứng dụng của dẫn xuất halogen trong bài “Dẫn xuất halogen” (Tiết 55 lớp 11CB).
*Ví dụ 22: Vì sao axit nitric HNO
3
đặc lại phá thủng quần áo ?
Khi làm thí nghiệm hóa học, nếu quần áo bạn dính phải axit nitric HNO
3
đặc
thường sẽ bị thủng một lỗ; khi dùng axit không đặc, nhìn bên ngoài thì không thấy gì,
nhưng sau khi phơi khô bạn sẽ thấy ngay lỗ thủng.
20
Quần áo chúng ta mặc thường ngày thường dệt bằng sợi bông, thành phần hóa học
của sợi bông là xenlulozơ. Xenlulozơ không tan trong nước và đa số các dung môi khác
nhưng dễ tan trong axit HNO
3
đặc nên làm thủng quần áo.
Khi bị axit HNO
3
loãng dính vào quần áo, tuy quần áo không bị thủng ngay, nhưng
khi quần áo khô, nồng độ axit HNO
3
càng ngày càng đặc, cuối cùng sẽ làm thủng quần
áo. Ngoài ra, axit HNO
3
loãng có thể có tác dụng hóa học với xenlulozơ.
Áp dụng: Giáo viên có thể nêu vấn đề trên khi nói về tính chất hóa học của axit

2
O
21
Nếu không có dung dịch HF thì thay bằng dung dịch H
2
SO
4
đặc và bột CaF
2
. Làm
tương tự như trên nhưng ta cho bột CaF
2
vào chổ cần khắc,sau đó cho thêm H
2
SO
4
đặc
vào và lấy tấm kính khác đặt trên chổ cần khắc. Sau một thời gian, thủy tinh cũng sẽ bị ăn
mòn ở những nơi cạo sáp.
CaF
2
+ 2H
2
SO
4
→ CaSO
4
+ 2HF↑ ( dùng tấm kính che lại)
Sau đó SiO
2

2
→ CO
2
Áp dụng: Để dập tắt các đám cháy thông thường người ta thường dùng khí CO
2
.
Tuy nhiên một số đám cháy có các kim loại mạnh thì CO
2
không những không dập tắt
mà làm cho lửa cháy thêm gây thiệt hại nghiêm trọng. Đây là phần nội dung mà giáo viên
cần cung cấp cho học sinh biết khi đề cập đến khả năng không duy trì sự cháy của khí
CO
2
ở phần “Cacbon đioxit” (Tiết 24 lớp 11CB) biết được để vận dụng trong cuộc sống.
*Ví dụ 27: Vì sao trong một ngày hoa phù dung có thể đổi màu tới 3 lần ?
Hoa phù dung đổi màu 3 lần trong ngày. Buổi sáng màu trắng, buổi trưa màu phớt
hồng, buổi chiều màu hồng đậm hơn. Loài hoa, trước sau chỉ biến đổi thay nhau giữa các
màu trắng, hồng, vàng, da cam, đỏ. Đó là sự thay đổi của chất caroten có trong thực vật.
Caroten là một loại sắc tố thường thấy trong mọi đóa hoa. Trong sữa động vật,
trong chất béo cũng có sắc tố này nhưng nhiều hơn cả là trong của cà rốt ( chất màu vàng
da cam). Caroten là một hiđrocacbon có công thức phân tử C
40
H
56
.
Áp dụng: Đây là một hiện tượng thường gặp trong tự nhiên. Giáo viên đưa vấn đề
này vào trong bài giảng “Tecpen” ( Tiết 57 lớp 11NC) để giới thiệu cho học sinh biết
thêm về nguồn tecpen thiên nhiên nhằm kích thích tính tò mò ham hiểu biết của học sinh.
*Ví dụ 28: Ca dao Việt Nam có câu:
“Lúa chim lấp ló ngoài bờ

Nhờ có sấm chớp ở các cơn mưa giông, mỗi năm trung bình mỗi mẫu đất được
cung cấp khoảng 6-7 kg nitơ.
Áp dụng: Đây là một câu ca dao mang ý nghĩa thực tiễn rất thường gặp trong đời
sống. Đây quả là một kinh nghiệm được ông cha ta rút ra qua những tháng năm canh tác
nông nghiệp. Học sinh cũng dễ dàng quan sát để kiểm nghiệm và giải thích được một
cách khoa học về vấn đề trên. Giáo viên có thể đặt câu hỏi trên khi trình bày phần chu
trình của nitơ trong tự nhiên ở bài giảng “Axit HNO
3
” (Tiết 14-15) hoặc đề cập trong bài
“Phân đạm” (Tiết 18 lớp 11 CB).
*Ví dụ 29: “Hiệu ứng nhà kính” là gì ?
Khí cacbonic CO
2
trong khí quyển chỉ hấp thụ một phần những tia hồng ngoại ( tức
là những bức xạ nhiệt) của Mặt Trời và để cho những tia có bước sóng từ 50000 đến
100000 Å đi qua dễ dàng đến mặt đất. Nhưng những bức xạ nhiệt phát ra ngược lại từ
mặt đất có bước sóng trên 140000 Å bị khí CO
2
hấp thụ mạnh và phát trở lại Trái Đất làm
cho Trái Đất ấm lên. Theo tính toán của các nhà khoa học thì nếu hàm lượng CO
2
trong
khí quyển tăng lên gấp đôi so với hiện tại thì nhiệt độ ở mặt đất tăng lên 4
o
C.
24
Về mặt hấp thụ bức xạ, lớp CO
2
ở trong khí quyển tương đương với lớp thủy tinh
của các nhà kính dùng để trồng cây, trồng hoa ở xứ lạnh. Do đó hiện tượng làm cho Trái


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status